MN139 - Kinh Vô Tránh Phân Biệt (Araṇavibhaṅga Sutta)

Đức Phật ngồi trên bệ đá dưới gốc cây giảng pháp cho chư Tỷ-kheo trong rừng Kỳ-đà — Kinh Vô Tránh Phân Biệt, MN139

Tóm tắt nhanh: Tại Sāvatthī, trong Kỳ-đà-lâm, Đức Phật giảng cho chư Tỷ-kheo bài “phân tích về vô tránh” (araṇavibhaṅga) — những cách sống và cách nói không khuấy lên tranh chấp, không vướng bụi phiền não. Ngài nêu trước bảy đề mục: tránh hai cực đoan dục lạc và khổ hạnh; đi theo Trung đạo; biết thế nào là tán thán và chỉ trích để không tán thán, không chỉ trích mà chỉ thuyết pháp; biết phán xét các loại lạc để theo lạc bên trong; không nói lời sau lưng, không nói lời mất lòng trước mặt; nói chậm rãi, không vội; không chấp tiếng địa phương, không vượt cách gọi thông thường. Rồi Ngài giải rộng từng đề mục — có cả ví dụ cùng một cái bát mà mỗi xứ gọi một tên, người chấp “chỉ tên này mới đúng” là gieo mầm tranh cãi. Cuối kinh, Ngài xếp tất cả thành mười chín pháp: mười pháp hữu tránh (saraṇa) và chín pháp vô tránh (araṇa), dạy chư Tỷ-kheo học biết cả hai để đi con đường vô tránh. Ngài nêu thiện gia nam tử Subhūti là người đang đi con đường ấy, và chư Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ.

🔗 Song tạng: Bản Hán tạng tương đương — MA169 - Kinh Câu-lâu-sấu Vô Tránh (拘樓瘦無諍經), Trung A-hàm 169. Khác lớn nhất: ở đề mục lời nói, bản Hán dạy đừng khen ngợi trước mặt (面前稱譽) — Anālayo gọi là ngược hẳn với lời gay gắt trước mặt của bản Pāḷi; bản Hán cũng thêm một đề tài khen chê thứ tư: cầu hay không cầu lạc bên trong.

Bối cảnh

Kinh không có người hỏi, không có câu chuyện dẫn nhập. Đức Phật đang ở Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Kỳ-đà (Jetavana), tại tinh xá do ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) dâng cúng; Ngài tự gọi chư Tỷ-kheo (bhikkhavo — “Này các Tỷ-kheo”), các vị đáp bhadante (“Bạch Thế Tôn”), rồi Ngài báo trước tên bài giảng: araṇavibhaṅga. Vibhaṅga là “phân tích, phân biệt”; araṇa là “không có raṇa” — bản Anh của Bhikkhu Sujato dịch là no strife, “không tranh chấp”. Chú giải lại giải saraṇa là “có bụi, có nhiễm ô” (sarajo sakileso) và araṇa là “không bụi, không nhiễm ô” (arajo nikkileso) (theo Chú giải, Ps V 32). Người viết hiểu hai nghĩa ấy đi chung với nhau: điều gì khuấy lên phiền não trong mình thì cũng dễ khuấy lên tranh chấp với người. Bản Việt của HT. Thích Minh Châu dùng chữ “hữu tránh” và “vô tránh”.

Mở đầu - MN139 1–2

Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “bhikkhavo”ti. “Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca: “araṇavibhaṅgaṁ vo, bhikkhave, desessāmi. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti. “Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:

Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại tịnh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).

Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau

—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về Vô tránh phân biệt. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.

—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau

Pāḷi: mn139:1.1–2.4 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)
Minh hoạ: Đức Phật ngồi trên bệ đá dưới gốc cây lớn, một tay giơ lên giảng pháp; chư Tỷ-kheo đắp y nâu ngồi thành hàng trên chiếu cỏ lắng nghe, phía sau là những túp lều mái tranh của tinh xá Kỳ-đà

Kinh này là bài thứ chín của phẩm Phân Biệt (Vibhaṅga-vagga) trong Trung Bộ — dòng cuối kinh ghi “Araṇavibhaṅgasuttaṁ niṭṭhitaṁ navamaṁ”, “kinh Vô tránh phân biệt, thứ chín, chấm dứt” — đứng giữa các bài “phân biệt” khác như Tiểu Kinh Nghiệp Phân Biệt (MN135) và Kinh Phân Biệt Cúng Dường (MN142). Cũng như các bài cùng phẩm, kinh đi theo lối “nêu tóm tắt rồi giải rộng”.

Bảy đề mục tóm lược

Đức Phật mở đầu bằng một đoạn tổng thuyết (uddesa) gồm bảy đề mục, khép lại bằng câu ayamuddeso araṇavibhaṅgassa — “đây là phần tổng thuyết của Vô tránh phân biệt”. Mỗi đề mục là một lời dạy ngắn, có khi kèm một vế “biết… rồi mới…” (biết tán thán và chỉ trích rồi mới không tán thán, không chỉ trích; biết phán xét về lạc rồi mới chú tâm vào nội lạc).

Tổng thuyết bảy đề mục - MN139 3

“Na kāmasukhamanuyuñjeyya hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, na ca attakilamathānuyogamanuyuñjeyya dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ. Ete kho, bhikkhave, ubho ante anupagamma majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā, cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati. Ussādanañca jaññā, apasādanañca jaññā; ussādanañca ñatvā apasādanañca ñatvā nevussādeyya, na apasādeyya, dhammameva deseyya. Sukhavinicchayaṁ jaññā; sukhavinicchayaṁ ñatvā ajjhattaṁ sukhamanuyuñjeyya. Rahovādaṁ na bhāseyya, sammukhā na khīṇaṁ bhaṇe. Ataramānova bhāseyya, no taramāno. Janapadaniruttiṁ nābhiniveseyya, samaññaṁ nātidhāveyyāti— ayamuddeso araṇavibhaṅgassa.

—Chớ có hành trì dục lạc, hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích. Và cũng không nên hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích. Từ bỏ hai cực đoan ấy, có con đường Trung đạo đã được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Nên biết tán thán và nên biết chỉ trích. Sau khi biết tán thán và sau khi biết chỉ trích, không tán thán, không chỉ trích, chỉ nên thuyết pháp. Nên biết phán xét về lạc. Sau khi biết phán xét về lạc, nên chú tâm vào nội lạc. Không nên nói lên lời bí mật. Mặt đối mặt (với ai), không nên nói lời mất lòng. Nên nói thật từ từ, không có vội vàng. Chớ có chấp trước địa phương ngữ, chớ có đi quá xa ngôn ngữ thường dùng. Như vậy là tổng thuyết về Vô tránh phân biệt.

Pāḷi: mn139:3.1–3.10 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)
#Đề mục (bản Việt)Pāḷi
1Chớ hành trì dục lạc, cũng chớ hành trì tự kỷ khổ hạnhna kāmasukhamanuyuñjeyya… na ca attakilamathānuyogamanuyuñjeyya
2Từ bỏ hai cực đoan ấy, có Trung đạo do Như Lai giác ngộubho ante anupagamma majjhimā paṭipadā
3Biết tán thán, biết chỉ trích; rồi không tán thán, không chỉ trích, chỉ thuyết phápussādanañca jaññā, apasādanañca jaññā… dhammameva deseyya
4Biết phán xét về lạc; rồi chú tâm vào nội lạcsukhavinicchayaṁ jaññā… ajjhattaṁ sukhamanuyuñjeyya
5Không nói lời sau lưng; trước mặt, không nói lời mất lòngrahovādaṁ na bhāseyya, sammukhā na khīṇaṁ bhaṇe
6Nói thong thả, không vội vàngataramānova bhāseyya, no taramāno
7Chớ chấp trước tiếng địa phương, chớ vượt quá cách gọi thông thườngjanapadaniruttiṁ nābhiniveseyya, samaññaṁ nātidhāveyya
Sơ đồ bảy đề mục của Kinh Vô Tránh Phân Biệt MN139: mỗi đề mục gồm điều nên tránh (hữu tránh) và điều nên theo (vô tránh) — hai cực đoan và Trung đạo, khen chê và thuyết pháp, hai loại lạc, lời sau lưng và trước mặt, nói vội và nói chậm, chấp và không chấp tiếng địa phương

Khuôn chung của bảy phần giải rộng

Sau phần tổng thuyết, Đức Phật giải lần lượt từng đề mục (§4–12). Phần giải nào cũng theo cùng một khuôn bốn bước; khuôn ấy trích một lần ở đây (lấy đề mục 1 làm mẫu), các mục bên dưới chỉ trích phần giải riêng.

  1. Nhắc lại nguyên văn đề mục: “Khi được nói đến: ’…’” (iti kho panetaṁ vuttaṁ).
  2. Hỏi lý do: “do duyên gì được nói đến như vậy?” (kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?).
  3. Giải: phân tích từng trường hợp — thường đặt cạnh nhau một điều “có khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo” và một điều “không có” bốn thứ ấy, “thuộc chánh đạo”.
  4. Khép lại: lặp đề mục lần nữa và kết “chính do duyên này được nói đến như vậy” (iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ).
Khuôn mẫu một phần giải - MN139 4.1–4.2

‘Na kāmasukhamanuyuñjeyya hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, na ca attakilamathānuyogamanuyuñjeyya dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitan’ti— iti kho panetaṁ vuttaṁ; Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?

Khi được nói đến: “Chớ có hành trì dục lạc, hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, và cũng không nên hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích”, do duyên gì được nói đến như vậy?

Pāḷi: mn139:4.1–4.2 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)

Bốn chữ đi kèm suốt kinh là thước đo chung: sadukkha (có khổ), saupaghāta (có phiền lao, tức có sự tổn hại), saupāyāsa (có ưu não), sapariḷāha (có nhiệt não, sự nóng bức). Theo Chú giải, “có khổ” gồm cả khổ của quả dị thục lẫn khổ của phiền não, và “phiền lao”, “nhiệt não” cũng hiểu theo hai lớp ấy (Ps V 31). Điều gì mang bốn thứ này là “tà đạo” (micchāpaṭipadā); điều gì không mang là “chánh đạo” (sammāpaṭipadā).

Giải rộng bảy đề mục

1. Dục lạc và khổ hạnh: cả hai đều có khổ, đều là tà đạo

Đề mục đầu gồm bốn vế. Sự đam mê dục lạc được tả bằng năm chữ: hạ liệt (hīna), đê tiện (gamma, “của kẻ quê mùa”), phàm phu (pothujjanika), không xứng bậc Thánh (anariya), không liên hệ mục đích (anatthasaṁhita); khổ hạnh hành xác (attakilamathānuyoga) được tả bằng ba chữ: đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích. Hai sự đam mê ấy đều “có khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo”; còn không đam mê chúng thì không có bốn thứ ấy, thuộc chánh đạo. Chữ Pāḷi ở vế dục lạc khá dài — kāmapaṭisandhisukhino somanassānuyogo, “sự đam mê niềm vui của người lấy lạc gắn liền với dục làm hạnh phúc” (Chú giải: người được an lạc nhờ lạc liên hệ đến dục, Ps V 31). Lưu ý bản Việt: ở câu lặp đề mục cuối đoạn, bản Việt bỏ chữ “phàm phu” (Pāḷi §4.7 vẫn có pothujjanikaṁ).

Hai cực đoan - MN139 4.3–4.8

Yo kāmapaṭisandhisukhino somanassānuyogo hīno gammo pothujjaniko anariyo anatthasaṁhito, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā. Yo kāmapaṭisandhisukhino somanassānuyogaṁ ananuyogo hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā. Yo attakilamathānuyogo dukkho anariyo anatthasaṁhito, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā. Yo attakilamathānuyogaṁ ananuyogo dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā. ‘Na kāmasukhamanuyuñjeyya hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, na ca attakilamathānuyogaṁ anuyuñjeyya dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitan’ti— iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.

Phàm lạc gì liên hệ với dục nhưng đam mê loại hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy là có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Phàm lạc gì liên kết với dục, nhưng không đam mê loại hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo.

Phàm hành trì tự kỷ khổ hạnh nào, khổ đau, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Phàm không hành trì khổ hạnh nào, đau khổ không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo.

Khi được nói đến: “Chớ có hành trì dục lạc, hạ liệt, đê tiện, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, và cũng không nên hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích”, chính do duyên này, được nói đến như vậy.

Pāḷi: mn139:4.3–4.8 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)

2. Trung đạo chính là Bát chánh đạo

Đề mục hai không cần phân tích nhiều vế: con đường giữa mà Như Lai đã giác ngộ, tránh xa hai cực đoan, có sáu công năng — tác thành mắt (cakkhukaraṇī), tác thành trí (ñāṇakaraṇī), đưa đến an tịnh (upasama), thắng trí (abhiññā), giác ngộ (sambodhi), Niết-bàn (nibbāna) — và chính là Bát chánh đạo, kinh kê đủ tám chi: chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. (Bản Việt dịch abhiññā là “thắng trí” ở phần tổng thuyết nhưng “thượng trí” ở đây — cùng một chữ.)

Trung đạo - MN139 5

‘Ete kho ubho ante anupagamma majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā, cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattatī’ti— iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṁ— sammādiṭṭhi, sammāsaṅkappo, sammāvācā, sammākammanto, sammāājīvo, sammāvāyāmo, sammāsati, sammāsamādhi. ‘Ete kho ubho ante anupagamma majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā, cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattatī’ti— iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.

Khi được nói đến: “Từ bỏ hai cực đoan ấy, có con đường Trung đạo đã được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn”, do duyên gì được nói đến như vậy? Ðây là con đường Thánh tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Khi được nói đến: “Từ bỏ hai cực đoan ấy, có con đường Trung đạo đã được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn”, chính do duyên này, được nói đến như vậy.

Pāḷi: mn139:5.1–5.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)

3. Khen chê con người hay chỉ thuyết pháp

Đây là phần dài nhất và là lõi của tên kinh. Đức Phật lấy ba đề tài — đam mê dục lạc, đam mê khổ hạnh, và hữu kiết sử (bhavasaṁyojana, dây trói buộc vào sự tái sinh; Chú giải: đó là tên gọi của tham ái, Ps V 31) — rồi cho thấy cùng một nội dung có thể nói theo hai cách.

Cách thứ nhất là khen chê con người: “Những ai đam mê dục lạc… tất cả những người ấy đều có khổ… thuộc tà đạo” — nói vậy là chỉ trích (apasādeti) một số người; “những ai không đam mê… tất cả những vị ấy không có khổ… thuộc chánh đạo” — nói vậy là tán thán (ussādeti) một số người. Ba đề tài, mỗi đề tài một câu chê và một câu khen: sáu câu. Chú giải giải thích “tán thán, chỉ trích” ở đây là đề cao hay hạ thấp một cá nhân nào đó theo tâm thế tục (gehasitavasena) (Ps V 30–31).

Khen chê mà không thuyết pháp - MN139 6–7

‘Ussādanañca jaññā, apasādanañca jaññā; ussādanañca ñatvā apasādanañca ñatvā nevussādeyya, na apasādeyya, dhammameva deseyyā’ti— iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Kathañca, bhikkhave, ussādanā ca hoti apasādanā ca, no ca dhammadesanā? ‘Ye kāmapaṭisandhisukhino somanassānuyogaṁ anuyuttā hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, sabbe te sadukkhā saupaghātā saupāyāsā sapariḷāhā micchāpaṭipannā’ti— iti vadaṁ ittheke apasādeti. ‘Ye kāmapaṭisandhisukhino somanassānuyogaṁ ananuyuttā hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, sabbe te adukkhā anupaghātā anupāyāsā apariḷāhā sammāpaṭipannā’ti— iti vadaṁ ittheke ussādeti. ‘Ye attakilamathānuyogaṁ anuyuttā dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, sabbe te sadukkhā saupaghātā saupāyāsā sapariḷāhā micchāpaṭipannā’ti— iti vadaṁ ittheke apasādeti. ‘Ye attakilamathānuyogaṁ ananuyuttā dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, sabbe te adukkhā anupaghātā anupāyāsā apariḷāhā sammāpaṭipannā’ti— iti vadaṁ ittheke ussādeti. ‘Yesaṁ kesañci bhavasaṁyojanaṁ appahīnaṁ, sabbe te sadukkhā saupaghātā saupāyāsā sapariḷāhā micchāpaṭipannā’ti— iti vadaṁ ittheke apasādeti. ‘Yesaṁ kesañci bhavasaṁyojanaṁ pahīnaṁ, sabbe te adukkhā anupaghātā anupāyāsā apariḷāhā sammāpaṭipannā’ti— iti vadaṁ ittheke ussādeti. Evaṁ kho, bhikkhave, ussādanā ca hoti apasādanā ca, no ca dhammadesanā.

Khi được nói đến: “Nên biết tán thán và nên biết chỉ trích; sau khi biết tán thán và sau khi biết chỉ trích, không tán thán, không chỉ trích, chỉ nên thuyết pháp”, do duyên gì được nói đến như vậy?

Này các Tỷ-kheo, thế nào là tán thán, thế nào là chỉ trích, nhưng không thuyết pháp? Vị ấy chỉ trích một số người và nói như sau: “Những ai tìm thấy lạc liên hệ với dục nhưng đam mê loại hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, tất cả những người ấy có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo”. Vị ấy tán thán một số người và nói như sau: “Những ai tìm thấy lạc liên hệ với dục, nhưng không đam mê loại hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, tất cả những vị ấy không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo”.

Ở đây, vị ấy chỉ trích một số người và nói như sau: “Những ai đam mê hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, tất cả những vị ấy đều có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc về tà đạo”. Ở đây, vị ấy tán thán một số người và nói như sau: “Những ai không đam mê hành trì tự kỷ khổ hạnh; đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, tất cả những vị ấy đều không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo”.

Ở đây, vị ấy chỉ trích một số người và nói như sau: “Những ai chưa đoạn tận hữu kiết sử, tất cả những vị ấy đều có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo”. Ở đây, vị ấy tán thán một số người và nói như sau: “Những ai đã đoạn tận hữu kiết sử, tất cả những vị ấy không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là có tán thán và có chỉ trích nhưng không thuyết pháp.

Pāḷi: mn139:6.1–7.14 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)

Cách thứ hai là chỉ thuyết pháp: không nói “những ai…”, mà nói về chính pháp: “Sự đam mê là một pháp có khổ… thuộc tà đạo”, “không đam mê là một pháp không đau khổ… thuộc chánh đạo”. Với đề tài hữu kiết sử, câu thuyết pháp còn gọn hơn: “Khi hữu kiết sử chưa đoạn tận, hữu chưa đoạn tận” và “khi hữu kiết sử được đoạn tận, hữu được đoạn tận” — chỉ nói quy luật, không nói ai đang khổ, ai đang an. Lưu ý bản Việt: ở hai câu “vị ấy không nói” của đề tài hữu kiết sử, bản Việt bỏ vế cuối “thuộc tà đạo” / “thuộc chánh đạo” (Pāḷi §8.22, §8.26 có micchāpaṭipannā / sammāpaṭipannā).

Không khen chê, chỉ thuyết pháp - MN139 8

Kathañca, bhikkhave, nevussādanā hoti na apasādanā, dhammadesanā ca? ‘Ye kāmapaṭisandhisukhino somanassānuyogaṁ anuyuttā hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, sabbe te sadukkhā saupaghātā saupāyāsā sapariḷāhā micchāpaṭipannā’ti— na evamāha. ‘Anuyogo ca kho sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā’ti— iti vadaṁ dhammameva deseti. ‘Ye kāmapaṭisandhisukhino somanassānuyogaṁ ananuyuttā hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, sabbe te adukkhā anupaghātā anupāyāsā apariḷāhā sammāpaṭipannā’ti— na evamāha. ‘Ananuyogo ca kho adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā’ti— iti vadaṁ dhammameva deseti. ‘Ye attakilamathānuyogaṁ anuyuttā dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, sabbe te sadukkhā saupaghātā saupāyāsā sapariḷāhā micchāpaṭipannā’ti— na evamāha. ‘Anuyogo ca kho sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā’ti— iti vadaṁ dhammameva deseti. ‘Ye attakilamathānuyogaṁ ananuyuttā dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, sabbe te adukkhā anupaghātā anupāyāsā apariḷāhā sammāpaṭipannā’ti— na evamāha. ‘Ananuyogo ca kho adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā’ti— iti vadaṁ dhammameva deseti. ‘Yesaṁ kesañci bhavasaṁyojanaṁ appahīnaṁ, sabbe te sadukkhā saupaghātā saupāyāsā sapariḷāhā micchāpaṭipannā’ti— na evamāha. ‘Bhavasaṁyojane ca kho appahīne bhavopi appahīno hotī’ti— iti vadaṁ dhammameva deseti. ‘Yesaṁ kesañci bhavasaṁyojanaṁ pahīnaṁ, sabbe te adukkhā anupaghātā anupāyāsā apariḷāhā sammāpaṭipannā’ti— na evamāha. ‘Bhavasaṁyojane ca kho pahīne bhavopi pahīno hotī’ti— iti vadaṁ dhammameva deseti. Evaṁ kho, bhikkhave, nevussādanā hoti na apasādanā, dhammadesanā ca. ‘Ussādanañca jaññā, apasādanañca jaññā; ussādanañca ñatvā apasādanañca ñatvā nevussādeyya, na apasādeyya, dhammameva deseyyā’ti— iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không có tán thán và không có chỉ trích, nhưng có thuyết pháp? Vị ấy không nói như sau: “Những ai tìm thấy lạc liên hệ với dục, nhưng đam mê loại hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, tất cả những vị ấy có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo”. Vị ấy chỉ thuyết pháp và nói như sau: “Sự đam mê là một pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo”. Vị ấy không nói: “Những ai tìm thấy lạc liên hệ với dục, nhưng không đam mê loại hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, tất cả những vị ấy không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo”.

Vị ấy không nói: “Những ai đam mê hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, tất cả những vị ấy có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. “Vị ấy chỉ thuyết pháp và nói như sau: “Sự đam mê là một pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo”. Vị ấy không nói: “Những ai không đam mê hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích, tất cả những vị ấy đều không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo”. Vị ấy chỉ thuyết pháp và nói như sau: “Sự không đam mê là không đau khổ, pháp này không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc về chánh đạo”.

Vị ấy không có nói: “Những ai chưa đoạn tận hữu kiết sử, tất cả những vị ấy đều có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não”. Vị ấy chỉ thuyết pháp và nói như sau: “Khi hữu kiết sử chưa đoạn tận, hữu chưa đoạn tận”. Vị ấy không nói như sau: “Những ai đã đoạn tận hữu kiết sử, tất cả những vị ấy không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não”. Vị ấy chỉ thuyết pháp và nói như sau: “Và khi hữu kiết sử được đoạn tận, hữu được đoạn tận”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không tán thán, không chỉ trích, nhưng chỉ thuyết pháp.

Khi được nói đến: “Nên biết tán thán và nên biết chỉ trích; sau khi biết tán thán và sau khi biết chỉ trích, chớ có tán thán, chớ có chỉ trích, chỉ nên thuyết pháp”, chính do duyên này được nói đến như vậy.

Pāḷi: mn139:8.1–8.33 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)
Đề tàiKhen chê con người (hữu tránh)Chỉ thuyết pháp (vô tránh)
Đam mê dục lạc“Những ai đam mê… đều có khổ, tà đạo” (chê) · “Những ai không đam mê… đều không khổ, chánh đạo” (khen)“Sự đam mê là pháp có khổ, tà đạo” · “Không đam mê là pháp không khổ, chánh đạo”
Đam mê khổ hạnhchê người đam mê · khen người không đam mê (cùng khuôn)“Sự đam mê là pháp có khổ…” · “Sự không đam mê… chánh đạo”
Hữu kiết sử“Những ai chưa đoạn tận hữu kiết sử… đều có khổ” (chê) · “Những ai đã đoạn tận… đều không khổ” (khen)“Hữu kiết sử chưa đoạn thì hữu chưa đoạn” · “Hữu kiết sử đã đoạn thì hữu được đoạn”

4. Phán xét các loại lạc, theo đuổi lạc bên trong

Đề mục bốn phân biệt hai loại lạc. Loại thứ nhất sinh từ năm dục trưởng dưỡng (pañca kāmaguṇā): sắc do mắt nhận biết, tiếng do tai, hương do mũi, vị do lưỡi, xúc do thân — đều “khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, liên hệ đến dục, hấp dẫn” (sáu chữ iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā). Lạc và hỷ do năm thứ ấy sinh ra mang bốn tên: dục lạc (kāmasukha), uế lạc (mīḷhasukha — chữ mīḷha nghĩa đen là phân, đồ dơ), phàm phu lạc, phi Thánh lạc. Đức Phật nói lạc này “không nên thực hành, không nên tu tập, không nên làm cho sung mãn, nên sợ hãi”.

Năm dục và dục lạc - MN139 9.1–9.13

‘Sukhavinicchayaṁ jaññā; sukhavinicchayaṁ ñatvā ajjhattaṁ sukhamanuyuñjeyyā’ti— iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Pañcime, bhikkhave, kāmaguṇā. Katame pañca? Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā, sotaviññeyyā saddā … ghānaviññeyyā gandhā … jivhāviññeyyā rasā … kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā— ime kho, bhikkhave, pañca kāmaguṇā. Yaṁ kho, bhikkhave, ime pañca kāmaguṇe paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ idaṁ vuccati kāmasukhaṁ mīḷhasukhaṁ puthujjanasukhaṁ anariyasukhaṁ. ‘Na āsevitabbaṁ, na bhāvetabbaṁ, na bahulīkātabbaṁ, bhāyitabbaṁ etassa sukhassā’ti—vadāmi.

Khi được nói đến: “Nên biết phán xét về lạc; sau khi biết phán xét về lạc, nên chú tâm vào nội lạc”, do duyên gì được nói đến như vậy?

Này các Tỷ-kheo, có năm dục trưởng dưỡng này. Thế nào là năm? Các sắc pháp do mắt nhận thức, khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, liên hệ đến dục, hấp dẫn; các tiếng do tai nhận thức, …; các hương do mũi nhận thức, …; các vị do lưỡi nhận thức …; các xúc do thân cảm giác, khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, như vậy là năm dục trưởng dưỡng. Này các Tỷ-kheo, do duyên năm dục trưởng dưỡng này khởi lên lạc và hỷ, như vậy gọi là dục lạc, uế lạc, phàm phu lạc, phi Thánh lạc. Ta nói loại lạc này không nên thực hành, không nên tu tập, không nên làm cho sung mãn, nên sợ hãi.

Pāḷi: mn139:9.1–9.13 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)

Loại thứ hai là lạc của bốn thiền: Thiền thứ nhất — ly dục, ly bất thiện pháp, hỷ lạc do ly dục sanh (vivekaja, nghĩa sát là “do viễn ly sanh”), có tầm có tứ; Thiền thứ hai — tầm tứ lắng xuống, nội tĩnh nhất tâm, hỷ lạc do định sanh; Thiền thứ ba và Thiền thứ tư (kinh viết tắt). Lạc này cũng mang bốn tên: xuất ly lạc (nekkhammasukha), viễn ly lạc (pavivekasukha), an tịnh lạc (upasamasukha), giác ngộ lạc (sambodhisukha); và nhận lời phán ngược hẳn: “nên thực hành, nên tu tập, nên làm cho sung mãn, không nên sợ hãi”. “Phán xét về lạc” (sukhavinicchaya), theo Chú giải, là lạc đã được phân định rõ ràng (Ps V 30). Kinh không định nghĩa riêng “nội lạc”, nhưng đặt nó ngay sau lạc của bốn thiền; Anālayo cũng hiểu “nội lạc” là lạc của các thiền (tr. 795).

Bốn thiền và lạc xuất ly - MN139 9.14–9.22

Idha, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati …pe… tatiyaṁ jhānaṁ …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Idaṁ vuccati nekkhammasukhaṁ pavivekasukhaṁ upasamasukhaṁ sambodhisukhaṁ. ‘Āsevitabbaṁ, bhāvetabbaṁ, bahulīkātabbaṁ, na bhāyitabbaṁ etassa sukhassā’ti—vadāmi. ‘Sukhavinicchayaṁ jaññā; sukhavinicchayaṁ ñatvā ajjhattaṁ sukhamanuyuñjeyyā’ti— iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Ðình chỉ tầm và tứ, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhứt tâm … Thiền thứ ba … chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Như vậy gọi là xuất ly lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, giác ngộ lạc. Ta nói loại lạc này nên thực hành, nên tu tập, nên làm cho sung mãn, không nên sợ hãi.

Khi được nói đến: “Nên biết phán xét về lạc; sau khi phán xét về lạc, hãy chú tâm vào nội lạc”, do chính duyên này được nói đến như vậy.

Pāḷi: mn139:9.14–9.22 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)

5. Lời sau lưng và lời mất lòng trước mặt

Đề mục năm nói về hai loại lời: lời nói sau lưng (rahovāda) và lời gay gắt nói ngay trước mặt (sammukhā khīṇavāda). Mỗi loại được xét theo ba trường hợp, tổng cộng sáu:

Trường hợpLời sau lưngLời mất lòng trước mặt
Không thật, sai, vô íchnếu có thể được, chớ nóinếu có thể được, chớ nói
Thật, đúng, nhưng vô íchhãy tập đừng nóihãy tập đừng nói
Thật, đúng, có íchbiết thời mà nói (kālaññū)biết thời mà nói

Lưu ý bản Việt: “lời bí mật” là chữ dịch rahovāda; Chú giải giải là “chê bai sau lưng, tức là lời đâm thọc” (parammukhā avaṇṇaṁ, pisuṇavācā), bản Anh của Sujato cũng dịch talk behind people’s backs — tức không phải “chuyện bí mật” theo nghĩa thường. “Lời mất lòng” (khīṇa) Chú giải giải là lời thô ác, hỗn tạp, ô nhiễm (Ps V 30). “Biết thời”, theo Chú giải, là không nói khi chưa đến lúc hay đã quá lúc, mà nói khi biết “bây giờ nói thì đại chúng sẽ tiếp nhận” (Ps V 31). Chữ sasakkaṁ (“nếu có thể được”) cho thấy với lời không thật, vô ích thì phải cố hết sức mà tránh.

Lời sau lưng, lời trước mặt - MN139 10

‘Rahovādaṁ na bhāseyya, sammukhā na khīṇaṁ bhaṇe’ti— iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Tatra, bhikkhave, yaṁ jaññā rahovādaṁ abhūtaṁ atacchaṁ anatthasaṁhitaṁ sasakkaṁ taṁ rahovādaṁ na bhāseyya. Yampi jaññā rahovādaṁ bhūtaṁ tacchaṁ anatthasaṁhitaṁ tassapi sikkheyya avacanāya. Yañca kho jaññā rahovādaṁ bhūtaṁ tacchaṁ atthasaṁhitaṁ tatra kālaññū assa tassa rahovādassa vacanāya. Tatra, bhikkhave, yaṁ jaññā sammukhā khīṇavādaṁ abhūtaṁ atacchaṁ anatthasaṁhitaṁ sasakkaṁ taṁ sammukhā khīṇavādaṁ na bhāseyya. Yampi jaññā sammukhā khīṇavādaṁ bhūtaṁ tacchaṁ anatthasaṁhitaṁ tassapi sikkheyya avacanāya. Yañca kho jaññā sammukhā khīṇavādaṁ bhūtaṁ tacchaṁ atthasaṁhitaṁ tatra kālaññū assa tassa sammukhā khīṇavādassa vacanāya. ‘Rahovādaṁ na bhāseyya, sammukhā na khīṇaṁ bhaṇe’ti— iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.

Khi được nói đến: “Không nên nói lên lời bí mật. Mặt đối mặt (với ai), không nên nói lời mất lòng”, do duyên gì được nói đến như vậy?

Tại đây, này các Tỷ-kheo, biết được một lời bí mật là không thực, hư vọng, không liên hệ mục đích, nếu có thể được, chớ nói lên lời bí mật ấy. Và nếu biết được một lời bí mật là thực, không hư vọng, nhưng không liên hệ mục đích, hãy tự tập đừng nói lời ấy. Và nếu biết được một lời bí mật là thực, không hư vọng, có liên hệ mục đích; ở đây nên biết thời nói lên lời bí mật ấy.

Nếu biết một lời mất lòng, mặt đối mặt (với ai) là không thực, hư vọng, không liên hệ mục đích, nếu có thể được, mặt đối mặt; chớ có nói lên lời nói mất lòng ấy. Nếu biết một lời mất lòng, mặt đối mặt (với ai) là thực, không hư vọng, nhưng không liên hệ mục đích, hãy tập chớ nói lên lời ấy. Và nếu biết một lời mất lòng, mặt đối mặt (với ai) là thực, không hư vọng, có liên hệ mục đích; ở đây nên biết thời nói lên lời mất lòng ấy.

Khi được nói đến: “Không nên nói lên lời bí mật, mặt đối mặt (với ai), không nên nói lên lời mất lòng”, do chính duyên này được nói đến như vậy.

Pāḷi: mn139:10.1–10.11 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)

6. Nói thong thả, không vội vàng

Đề mục sáu nêu đủ năm hậu quả của lời nói vội: thân mệt mỏi (kāyo kilamati), tâm bị tổn hại (cittaṁ upahaññati), tiếng bị tổn hại (saro upahaññati), cổ họng bị đau (kaṇṭho āturīyati), và lời nói không rõ ràng, không được nhận hiểu (avisaṭṭha, aviññeyya). Nói thong thả thì năm điều ấy đảo ngược. Chú giải giải “tiếng bị tổn hại” là giọng bị vỡ, “cổ họng bị đau” là như người lâm bệnh (Ps V 31).

Nói vội và nói từ từ - MN139 11

‘Ataramānova bhāseyya no taramāno’ti— iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Tatra, bhikkhave, taramānassa bhāsato kāyopi kilamati, cittampi upahaññati, saropi upahaññati, kaṇṭhopi āturīyati, avisaṭṭhampi hoti aviññeyyaṁ taramānassa bhāsitaṁ. Tatra, bhikkhave, ataramānassa bhāsato kāyopi na kilamati, cittampi na upahaññati, saropi na upahaññati, kaṇṭhopi na āturīyati, visaṭṭhampi hoti viññeyyaṁ ataramānassa bhāsitaṁ. ‘Ataramānova bhāseyya, no taramāno’ti— iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.

Khi được nói đến: “Nên nói thật từ từ, chớ có vội vàng”, do duyên gì được nói đến như vậy?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu nói vội vàng, thời thân mệt mỏi, tâm bị tổn hại, tiếng bị tổn hại và cổ họng bị đau. Lời nói một người vội vàng không được rõ ràng và không được nhận hiểu.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, nói lời từ từ, thân không mệt mỏi, tâm không tổn hại, tiếng không tổn hại và cổ họng không bị đau. Lời nói một người nói từ từ được rõ ràng và được nhận hiểu. Khi được nói đến: “Nên nói thật từ từ, chớ có nói vội vàng ”, chính do duyên này được nói đến như vậy.

Pāḷi: mn139:11.1–11.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)

7. Không chấp tiếng địa phương, không vượt cách gọi thông thường

Ví dụ của đề mục bảy là một món đồ đựng: cùng một vật, ở các xứ khác nhau người ta gọi bằng bảy tên — pātī, patta, vitta, sarāva, dhāropa, poṇa, pisīlava (bản Anh của Sujato tạm dịch: cup, bowl, jar, scoop, vessel, dish, plate). Người chấp thì xứ mình gọi sao, cứ khăng khăng, bám chặt (thāmasā parāmāsā abhinivissa) mà nói: “Chỉ như vậy là sự thật, ngoài ra là hư vọng” (idameva saccaṁ, moghamaññaṁ). Người không chấp thì nghĩ “các vị ở đây hẳn muốn chỉ vật này” (idaṁ kira me āyasmanto sandhāya voharanti) rồi gọi theo họ, không bám giữ (aparāmasaṁ). Chú giải kể: một người đến xứ gọi vật ấy là patta, nghe người ta bảo “hãy mang cái patta lại, hãy rửa cái patta”, liền cãi “đây không phải patta, đây là pāti, phải gọi như vầy mới đúng”; còn người không chấp thì từ đó bỏ cách gọi xứ mình, gọi theo xứ người (Ps V 32). (Bản Việt chép tên thứ ba là “Vittha”; Pāḷi Mahāsaṅgīti là vitta.)

Tiếng địa phương - MN139 12

‘Janapadaniruttiṁ nābhiniveseyya, samaññaṁ nātidhāveyyā’ti— iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Kathañca, bhikkhave, janapadaniruttiyā ca abhiniveso hoti samaññāya ca atisāro? Idha, bhikkhave, tadevekaccesu janapadesu ‘pātī’ti sañjānanti, ‘pattan’ti sañjānanti, ‘vittan’ti sañjānanti, ‘sarāvan’ti sañjānanti ‘dhāropan’ti sañjānanti, ‘poṇan’ti sañjānanti, ‘pisīlavan’ti sañjānanti. Iti yathā yathā naṁ tesu tesu janapadesu sañjānanti tathā tathā thāmasā parāmāsā abhinivissa voharati: ‘idameva saccaṁ, moghamaññan’ti. Evaṁ kho, bhikkhave, janapadaniruttiyā ca abhiniveso hoti samaññāya ca atisāro. Kathañca, bhikkhave, janapadaniruttiyā ca anabhiniveso hoti samaññāya ca anatisāro? Idha, bhikkhave, tadevekaccesu janapadesu ‘pātī’ti sañjānanti, ‘pattan’ti sañjānanti, ‘vittan’ti sañjānanti, ‘sarāvan’ti sañjānanti, ‘dhāropan’ti sañjānanti, ‘poṇan’ti sañjānanti, ‘pisīlavan’ti sañjānanti. Iti yathā yathā naṁ tesu tesu janapadesu sañjānanti ‘idaṁ kira me āyasmanto sandhāya voharantī’ti tathā tathā voharati aparāmasaṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, janapadaniruttiyā ca anabhiniveso hoti, samaññāya ca anatisāro. ‘Janapadaniruttiṁ nābhiniveseyya samaññaṁ nātidhāveyyā’ti— iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.

Khi được nói đến: “Chớ có chấp trước địa phương ngữ, chớ có đi quá xa ngôn ngữ thường dùng,” do duyên gì được nói đến như vậy? Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chấp trước địa phương ngữ và đi quá xa ngôn ngữ thường dùng?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, trong nhiều quốc độ, người ta biết (những chữ) Pati … Patta … Vittha. Sarava. Dharopa. Pona … Pisila. Như vậy, như họ biết trong các quốc độ ấy những chữ là như vậy, như vậy, có người lại làm như vậy, kiên trì chấp thủ, chấp trước và nói: “Chỉ như vậy là sự thật, ngoài ra là hư vọng”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là chấp trước địa phương ngữ, là đi quá xa ngôn ngữ thường dùng.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không chấp trước địa phương ngữ, không đi quá xa ngôn ngữ thường dùng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, trong nhiều quốc độ, người ta biết những chữ Pati. Patta … Vittha. Sarava … Dharopa … Pona. Pisila. Như vậy, như họ biết trong các quốc độ ấy, những chữ là như vậy, như vậy, một người không chấp thủ mà giải thích: “Các vị ấy y cứ như thế này, giải thích như vậy”. Như vậy, này các Tỷ-kheo là không chấp trước địa phương ngữ, không đi quá xa ngôn ngữ thường dùng.

Khi được nói đến: “Chớ có chấp trước địa phương ngữ, chớ có đi quá xa ngôn ngữ thường dùng”, do chính duyên này được nói đến như vậy.

Pāḷi: mn139:12.1–12.13 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)
Minh hoạ: ở ngã tư một làng Ấn Độ xưa, mấy người từ các xứ khác nhau đứng quanh chiếc bàn có một cái bát đất, mỗi người chỉ tay gọi nó một tên; bên lề đường một vị Tỷ-kheo ôm bình bát đứng lặng lẽ lắng nghe

Bảng tổng hợp bảy đề mục

#Đề mụcĐiều nên tránhĐiều nên theo
1Hai cực đoanđam mê dục lạc; đam mê khổ hạnhkhông đam mê cả hai
2Trung đạo—Bát chánh đạo (8 chi), đưa đến mắt, trí, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn
3Khen chênói “những ai…” để khen hay chê con người (3 đề tài × 2 = 6 câu)chỉ nói về pháp: “sự đam mê là pháp có khổ…”
4Hai loại lạclạc từ năm dục (dục lạc, uế lạc, phàm phu lạc, phi Thánh lạc): nên sợlạc của bốn thiền (xuất ly, viễn ly, an tịnh, giác ngộ lạc): không nên sợ
5Lời sau lưng, lời trước mặtlời không thật vô ích; lời thật mà vô íchlời thật, có ích — biết thời mà nói
6Cách nóinói vội: thân mệt, tâm hại, tiếng hại, cổ đau, lời khó hiểunói thong thả
7Tiếng địa phươngchấp một tên, cho mọi tên khác là saigọi theo cách gọi của nơi mình đến, không bám giữ

Khuôn chung của mười chín pháp hữu tránh và vô tránh

Giải xong bảy đề mục, Đức Phật gom lại tất cả thành mười chín pháp (§13) và gắn nhãn từng pháp. Mỗi pháp đi theo cùng một khuôn bốn bước; khuôn trích một lần ở đây (lấy pháp thứ nhất làm mẫu):

  1. Nêu pháp: “Tại đây, này các Tỷ-kheo, [pháp X]…”.
  2. Xét bốn tính chất: có (hay không có) khổ, phiền lao, ưu não, nhiệt não.
  3. Xếp đường: thuộc tà đạo (hay chánh đạo).
  4. Kết luận: “Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh” (tasmā eso dhammo saraṇo) — hay “pháp vô tránh” (araṇo).
Khuôn mẫu một pháp - MN139 13.1–13.3

Tatra, bhikkhave, yo kāmapaṭisandhisukhino somanassānuyogo hīno gammo pothujjaniko anariyo anatthasaṁhito, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo saraṇo.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, phàm lạc gì liên hệ với dục nhưng có đam mê loại hỷ, hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.

Pāḷi: mn139:13.1–13.3 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)
Sơ đồ mười chín pháp trong MN139 §13: mười pháp hữu tránh (có khổ, tà đạo) bên trái và chín pháp vô tránh (không khổ, chánh đạo) bên phải, xếp theo tám nhóm: dục lạc và khổ hạnh, Trung đạo, khen chê, hai loại lạc, lời sau lưng, lời trước mặt, nói vội, tiếng địa phương

Đếm đủ: mười pháp hữu tránh, chín pháp vô tránh. Trung đạo đứng một mình, không có vế đối; mỗi loại lời (sau lưng, trước mặt) có hai pháp hữu tránh và một pháp vô tránh. Đề tài hữu kiết sử ở đề mục 3 không được nhắc lại trong phần tổng kết này. Theo Chú giải, đến đây Đức Phật “phân định ranh giới” để các pháp không lẫn vào nhau (Ps V 32).

Mười chín pháp: hữu tránh hay vô tránh

1–4. Dục lạc và khổ hạnh

Pháp 1 (đam mê dục lạc — hữu tránh) đã trích ở khuôn trên. Ba pháp còn lại: không đam mê dục lạc — vô tránh; đam mê khổ hạnh — hữu tránh; không đam mê khổ hạnh — vô tránh. Lưu ý bản Việt ở pháp 4 ghi “phàm không có hành trì tự kỷ khổ hạnh, không đau khổ, không xứng bậc Thánh…” — chữ “không” đặt lệch: trong Pāḷi, “đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích” (dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ) là ba chữ tả chính sự khổ hạnh mà người kia không đam mê.

Pháp 2–4 - MN139 13.4–13.12

Tatra, bhikkhave, yo kāmapaṭisandhisukhino somanassānuyogaṁ ananuyogo hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo araṇo. Tatra, bhikkhave, yo attakilamathānuyogo dukkho anariyo anatthasaṁhito, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo saraṇo. Tatra, bhikkhave, yo attakilamathānuyogaṁ ananuyogo dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo araṇo.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lạc gì, liên kết với dục, nhưng không có đam mê loại hỷ, hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm không có hành trì tự kỷ khổ hạnh, không đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.

Pāḷi: mn139:13.4–13.12 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)

5. Trung đạo

Trung đạo — vô tránh. (Bản Việt ghi “Trung đạo đã được Thế Tôn giác ngộ”; Pāḷi là tathāgatena, “do Như Lai”, như ở phần tổng thuyết.)

Pháp 5 - MN139 13.13–13.15

Tatra, bhikkhave, yāyaṁ majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā, cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo araṇo.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, đây là Trung đạo đã được Thế Tôn giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết—bàn. Pháp này không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.

Pāḷi: mn139:13.13–13.15 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)

6–7. Khen chê và thuyết pháp

Tán thán và chỉ trích mà không thuyết pháp — hữu tránh; không tán thán, không chỉ trích, chỉ thuyết pháp — vô tránh. (Bản Việt pháp 6 ghi “có phiền não” ở chỗ các pháp khác dịch “có nhiệt não”; Pāḷi vẫn là sapariḷāho.)

Pháp 6–7 - MN139 13.16–13.21

Tatra, bhikkhave, yāyaṁ ussādanā ca apasādanā ca no ca dhammadesanā, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo saraṇo. Tatra, bhikkhave, yāyaṁ nevussādanā ca na apasādanā ca dhammadesanā ca, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo araṇo.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, pháp tán thán và chỉ trích nhưng không thuyết pháp này, pháp này có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có phiền não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, pháp không tán thán, cũng không chỉ trích, chỉ có thuyết pháp, pháp này không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.

Pāḷi: mn139:13.16–13.21 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)

8–9. Dục lạc và lạc xuất ly

Dục lạc — uế lạc, phàm phu lạc, phi Thánh lạc — hữu tránh; xuất ly lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, giác ngộ lạc — vô tránh. Lưu ý bản Việt: pháp 8 bỏ vế “thuộc tà đạo” (Pāḷi §13.23 micchāpaṭipadā); pháp 9 chỉ kê ba tên “xuất ly lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc”, sót tên thứ tư “giác ngộ lạc” mà Pāḷi §13.25 có (sambodhisukhaṁ).

Pháp 8–9 - MN139 13.22–13.27

Tatra, bhikkhave, yamidaṁ kāmasukhaṁ mīḷhasukhaṁ pothujjanasukhaṁ anariyasukhaṁ, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo saraṇo. Tatra, bhikkhave, yamidaṁ nekkhammasukhaṁ pavivekasukhaṁ upasamasukhaṁ sambodhisukhaṁ, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo araṇo.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, pháp dục lạc này là uế lạc, phàm phu lạc, phi Thánh lạc, pháp này là pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, pháp xuất ly lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, pháp này là pháp không đau khổ, không phiền lao, không ưu não, không nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.

Pāḷi: mn139:13.22–13.27 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)

10–12. Lời sau lưng

Lời sau lưng không thật, hư vọng, vô ích — hữu tránh; thật, không hư vọng nhưng vô ích — vẫn hữu tránh; thật, không hư vọng, có ích — vô tránh.

Pháp 10–12 - MN139 13.28–13.36

Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ rahovādo abhūto ataccho anatthasaṁhito, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo saraṇo. Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ rahovādo bhūto taccho anatthasaṁhito, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo saraṇo. Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ rahovādo bhūto taccho atthasaṁhito, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo araṇo.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói bí mật nào không thật, hư vọng, không liên hệ mục đích, pháp này là pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói bí mật nào là chân thật, không hư vọng, không liên hệ mục đích, pháp này là pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói bí mật nào là chân thật, không hư vọng, có liên hệ mục đích, pháp này là pháp không đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.

Pāḷi: mn139:13.28–13.36 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)

13–15. Lời mất lòng trước mặt

Cùng ba trường hợp như lời sau lưng: không thật, vô ích — hữu tránh; thật mà vô ích — hữu tránh; thật và có ích — vô tránh.

Pháp 13–15 - MN139 13.37–13.45

Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ sammukhā khīṇavādo abhūto ataccho anatthasaṁhito, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo saraṇo. Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ sammukhā khīṇavādo bhūto taccho anatthasaṁhito, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo saraṇo. Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ sammukhā khīṇavādo bhūto taccho atthasaṁhito, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo araṇo.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói mất lòng nào, mặt đối mặt (với ai), không chân thật, hư vọng, không liên hệ mục đích, pháp này là pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói mất lòng nào, mặt đối mặt (với ai) là chân thật, không hư vọng, không liên hệ mục đích, pháp này là pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói mất lòng nào, mặt đối mặt (với ai) là chân thật, không hư vọng, liên hệ mục đích, pháp này là pháp không đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.

Pāḷi: mn139:13.37–13.45 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)

16–17. Nói vội và nói từ từ

Lời nói vội vàng — hữu tránh; lời nói thong thả — vô tránh.

Pháp 16–17 - MN139 13.46–13.51

Tatra, bhikkhave, yamidaṁ taramānassa bhāsitaṁ, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo saraṇo. Tatra, bhikkhave, yamidaṁ ataramānassa bhāsitaṁ, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo araṇo.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói nào được nói lên một cách vội vàng, pháp này có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói nào được nói lên một cách từ từ, pháp này không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.

Pāḷi: mn139:13.46–13.51 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)

18–19. Chấp và không chấp tiếng địa phương

Chấp trước tiếng địa phương, vượt quá cách gọi thông thường — hữu tránh; không chấp, không vượt — vô tránh.

Pháp 18–19 - MN139 13.52–13.57

Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ janapadaniruttiyā ca abhiniveso samaññāya ca atisāro, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo saraṇo. Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ janapadaniruttiyā ca anabhiniveso samaññāya ca anatisāro, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo araṇo.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, chấp trước địa phương ngữ và đi quá xa ngôn ngữ thường dùng, pháp này là pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, không chấp trước địa phương ngữ và không đi quá xa ngôn ngữ thường dùng, pháp này là pháp không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.

Pāḷi: mn139:13.52–13.57 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)

Bảng tổng hợp 19 pháp

#PhápNhãnThuộc đề mục
1Đam mê dục lạchữu tránh1
2Không đam mê dục lạcvô tránh1
3Đam mê khổ hạnhhữu tránh1
4Không đam mê khổ hạnhvô tránh1
5Trung đạovô tránh2
6Tán thán, chỉ trích mà không thuyết pháphữu tránh3
7Không tán thán, không chỉ trích, chỉ thuyết phápvô tránh3
8Dục lạc (uế lạc, phàm phu lạc, phi Thánh lạc)hữu tránh4
9Xuất ly lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, giác ngộ lạcvô tránh4
10Lời sau lưng không thật, vô íchhữu tránh5
11Lời sau lưng thật nhưng vô íchhữu tránh5
12Lời sau lưng thật, có íchvô tránh5
13Lời mất lòng trước mặt không thật, vô íchhữu tránh5
14Lời mất lòng trước mặt thật nhưng vô íchhữu tránh5
15Lời mất lòng trước mặt thật, có íchvô tránh5
16Nói vội vànghữu tránh6
17Nói thong thảvô tránh6
18Chấp tiếng địa phương, vượt cách gọi thông thườnghữu tránh7
19Không chấp, không vượtvô tránh7

Học biết hai loại pháp và gương Subhūti

Đức Phật kết bằng một lời dạy tu học gồm ba bước: biết pháp hữu tránh, biết pháp vô tránh, rồi hành trì con đường vô tránh (araṇapaṭipadā). Ngài nêu đích danh một người đang đi con đường ấy: thiện gia nam tử (kulaputta) Subhūti. Theo Chú giải, chính nhờ “nhóm bốn” (catukka) trong phần khen chê này mà Tôn giả Subhūti được Đức Phật xếp đứng đầu những vị sống vô tránh (araṇavihārīnaṁ): khi Đức Phật hay các trưởng lão như Sāriputta thuyết pháp, người nghe vẫn thấy có khen có chê; còn pháp thoại của Subhūti không bao giờ có câu “người này thực hành sai” hay “người này có giới, có đức”, mà chỉ có “đây là tà đạo, đây là chánh đạo” (Ps V 31). Chú giải còn ghi ngài được đứng đầu ở một phương diện nữa — xứng đáng thọ nhận cúng dường (dakkhiṇeyyānaṁ) — và kể rằng khi đi khất thực, đứng trước cửa nhà người, ngài nhập thiền tâm từ (mettājhāna) rồi mới nhận phẩm vật, như Tôn giả Sāriputta nhập diệt tận định (Ps V 32). Bản Việt ghi “đã hành trì vô tránh pháp”; Pāḷi araṇapaṭipadaṁ paṭipanno là “đang đi con đường vô tránh” — chữ “đạo” ở câu trên cũng là chữ paṭipadā này.

Lời dạy tu học - MN139 14.1–14.3

Tasmātiha, bhikkhave, ‘saraṇañca dhammaṁ jānissāma, araṇañca dhammaṁ jānissāma; saraṇañca dhammaṁ ñatvā araṇañca dhammaṁ ñatvā araṇapaṭipadaṁ paṭipajjissāmā’ti evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ. Subhūti ca pana, bhikkhave, kulaputto araṇapaṭipadaṁ paṭipanno”ti.

Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông phải tự tu học như sau: “Chúng ta sẽ biết hữu tránh pháp và chúng ta sẽ biết vô tránh pháp. Sau khi biết hữu tránh pháp và sau khi biết vô tránh pháp, chúng ta sẽ hành trì vô tránh đạo”. Và này các Tỷ-kheo, Thiện gia nam tử Subhūti (Tu-bồ-đề) đã hành trì vô tránh pháp.

Pāḷi: mn139:14.1–14.3 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)

Kết kinh

Kinh khép lại bằng công thức quen thuộc: Thế Tôn thuyết giảng như vậy, chư Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ. Dòng cuối của bản Pāḷi — tên kinh và số thứ tự “thứ chín” — bản Việt không dịch.

Kết kinh - MN139 14.4–14.6

Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti. Araṇavibhaṅgasuttaṁ niṭṭhitaṁ navamaṁ.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

Pāḷi: mn139:14.4–14.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)

Giải thích

1. “Vô tránh” không phải là im lặng. Đọc qua tên kinh, dễ tưởng “không tranh chấp” là né mọi chuyện khó nói. Kinh nói ngược lại: lời thật và có ích thì vẫn nói, kể cả lời làm mất lòng người ngay trước mặt — chỉ cần “biết thời”. Thứ bị gọi là “hữu tránh” là lời không thật, lời vô ích, lời vội vàng, lời khăng khăng một cách gọi; và cả thói quen đem người ra mà khen chê. Chữ araṇa — theo Chú giải là “không bụi, không nhiễm ô” — cho thấy gốc của tranh chấp nằm ở phiền não trong lời nói và cách sống của chính mình, trước khi thành chuyện cãi nhau với ai.

2. Chỉ ra pháp, không chỉ mặt người. Đề mục 3 là chỗ tinh tế nhất. Kinh không bác nội dung của câu “những ai đam mê dục lạc đều có khổ, thuộc tà đạo”; điều kinh xếp vào loại hữu tránh là cách nói ấy — khen chê mà không thuyết pháp. Người viết hiểu: câu ấy đặt con người vào chỗ bị phán xét, chia người nghe thành phe được khen và phe bị chê. Cũng sự thật ấy, nói thành “sự đam mê là một pháp có khổ, thuộc tà đạo”, thì không chỉ vào ai: ai đang đam mê tự soi mà thấy, không ai bị dồn vào thế phải tự vệ. Ngay cả với chuyện giải thoát — “những ai đã đoạn hữu kiết sử đều không còn khổ” — Đức Phật cũng chuyển thành một quy luật: “hữu kiết sử được đoạn thì hữu được đoạn”. Chú giải lấy chính lối thuyết pháp này để giải thích vì sao Tôn giả Subhūti được tôn là bậc đứng đầu về hạnh vô tránh.

3. Không phải mọi lạc đều đáng sợ. Kinh không dạy diệt bỏ mọi niềm vui. Lạc từ năm dục thì “nên sợ”, vì nó kéo theo khổ, phiền lao, ưu não, nhiệt não; nhưng lạc của bốn thiền — gọi bằng những tên đẹp như xuất ly lạc, giác ngộ lạc — thì “không nên sợ”, “nên làm cho sung mãn”. Đặt cạnh đề mục 1, ta thấy Trung đạo không phải là khổ hạnh ôn hoà hơn: nó loại khổ hạnh như một cực đoan, đồng thời mở cửa cho một loại lạc khác — lạc bên trong.

4. Ba câu hỏi trước khi nói. Đề mục 5 cho một bảng soát rất gọn: lời này có thật không? có ích không? đã đúng lúc chưa? Lời thật mà vô ích cũng phải “tập đừng nói”. Kinh Vương Tử Vô Úy (MN58) nói về cách Như Lai nói năng theo cùng ba tiêu chuẩn ấy, thêm một vế “người khác ưa hay không ưa” — đọc hai kinh cạnh nhau sẽ thấy cùng một nguyên tắc chánh ngữ.

5. Một cái bát, bảy cái tên. Ví dụ ở đề mục 7 nghe như chuyện vặt, nhưng câu người chấp nói ra — “chỉ như vậy là sự thật, ngoài ra là hư vọng” (idameva saccaṁ, moghamaññaṁ) — cùng với cụm “khăng khăng, bám chặt” đi trước nó, cũng chính là công thức kinh dùng để tả người chấp kiến, chẳng hạn trong Đại Kinh Nghiệp Phân Biệt (MN136). Từ chuyện cái bát đến chuyện quan điểm, cơ chế giống nhau: lấy cái quen của mình làm chân lý duy nhất. Người không chấp vẫn biết đó là cái bát, chỉ không biến tên gọi thành chỗ đứng để cãi.

6. Ứng dụng. Khi muốn góp ý: nói về việc làm, đừng dán nhãn con người. Trước khi kể chuyện người vắng mặt: hỏi ba câu thật – có ích – đúng lúc. Khi tranh luận: nói chậm lại. Khi gặp người gọi khác mình — khác vùng, khác truyền thống, khác thuật ngữ — thì trước hết hỏi “họ muốn chỉ điều gì”, rồi gọi theo cách người nghe hiểu.

Đối chiếu các tạng

Theo danh mục tương đương của SuttaCentral (API parallels, tra ngày 21/10/2026), MN139 có hai bản song song “đầy đủ”: Hán tạng MA169 (拘樓瘦無諍, T26, tr. 701b–703c) và một mảnh Sanskrit (SC ghi SHT Sutta 13, SHT 163a). SuttaCentral còn ghép thêm ba kinh ở cấp từng đoạn (không phải cả kinh): đoạn năm dục trưởng dưỡng (§9.1) giống MN13 (Mahādukkhakkhandhasutta) và MN14 (Cūḷadukkhakkhandhasutta); đoạn từ §13.22 (dục lạc và bốn tên của lạc xuất ly: xuất ly lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, giác ngộ lạc) giống MN122 (Mahāsuññatasutta), nơi bốn tên lạc ấy cũng được kê. Những kinh này không phải bản song song của MN139 — chúng chỉ dùng chung một đoạn văn. Theo Anālayo, kinh còn được trích trong chú giải Abhidharmakośabhāṣya của Śamathadeva (bản Tây Tạng) và trong Vyākhyāyukti. Bài này chỉ đối chiếu chi tiết với MA169; mảnh Sanskrit và các trích dẫn kia chưa đối chiếu bản gốc.

MA169 là tương đương đầy đủ: cùng tên chủ đề (trong kinh Đức Phật gọi là 分別無諍經, “kinh Phân biệt vô tránh”), cùng lối “tổng thuyết rồi giải rộng”, cùng các đề mục hai cực đoan, Trung đạo, khen chê – thuyết pháp, hai loại lạc, lời nói, cách nói, tiếng địa phương, cùng phần tổng kết hữu tránh – vô tránh và cùng nêu Subhūti (Tu-bồ-đề) ở cuối. Không có bản trùng tên nào cần loại.

Sơ đồ so sánh MN139 và MA169: nơi chốn, ai bị khen chê, số câu khen chê, cách tả dục lạc, đề mục lời nói, cách nói, số tên cái bát, số pháp trong phần tổng kết và phần kết có bài kệ của Tu-bồ-đề
ĐiểmMN139 (Pāḷi)MA169 (Hán)
Tên kinhAraṇavibhaṅga, “phân tích về vô tránh”拘樓瘦無諍經 Câu-lâu-sấu vô tránh kinh — “kinh vô tránh nói ở xứ Câu-lâu”
Nơi chốnSāvatthī, rừng Kỳ-đà, tinh xá Cấp Cô ĐộcBà-kì-sấu (婆奇瘦), Kiếm-ma-sắt-đàm, một đô ấp của xứ Câu-lâu (Kuru)
Lời báo giảng“Ta sẽ giảng Vô tránh phân biệt”thêm công thức “pháp vi diệu ở đầu, giữa, cuối, có nghĩa có văn…”
Dục lạc5 chữ: hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích“nghiệp vô cùng hèn hạ, hành vi của phàm phu”
Trung đạo6 công năng; kê đủ 8 chi“tác thành con mắt, trí tự tại, định…”; “từ chánh kiến cho đến chánh định”
Ai bị khen chêngười khác: “chỉ trích (tán thán) một số người”bản Việt Tuệ Sỹ dịch 自譏, 自稱 là “tự chỉ trích mình”, “tự tán thán”; nhưng câu được nói ra vẫn là “họ thảy đều” (彼一切) có khổ… như bản Pāḷi, và Anālayo (tr. 794) hiểu đoạn này là chê người khác — nên chưa chắc bản Hán khác bản Pāḷi ở điểm này (chưa đối chiếu thêm)
Lý do kèm theokhông códục là vô thường, khổ, hoại diệt; Sa-môn sợ khổ mà xuất gia, rồi lại ôm khổ
Các câu khen chê3 đề tài × 2 = 6 câudục lạc, khổ hạnh (chỉ vế chê), kết sử chưa đoạn / đã đoạn, không cầu / cầu nội lạc = 6 câu
Dục lạc ở đề mục 4uế lạc (mīḷhasukha), phàm phu lạc, phi Thánh lạc“gốc của bệnh, gốc của ung nhọt, gốc của mũi tên, có thức ăn, thuộc sanh tử”; không có chữ tương đương mīḷha
Thiềnkể bốn thiền“cho đến chứng Tứ thiền”
Đề mục lời nóilời sau lưng + lời mất lòng trước mặt; 3 trường hợp cho mỗi loại“lời ám chỉ” (相導說) + “đừng đối mặt khen ngợi” (面前稱譽); chỉ xét 3 trường hợp cho lời ám chỉ; lời có ích thì “biết thời, chánh trí, chánh niệm”
Cách nóikhông vội; 5 hậu quả (thân, tâm, tiếng, cổ, lời khó hiểu)“nói vừa phải, đừng quá giới hạn” (齊限說); thân phiền nhọc, niệm hay quên, tâm mệt, tiếng hư, hướng trí không tự tại
Tên cái bát7 tên5 tên (甌, 杅, 椀, 器 và một chữ Hán ghép hiếm); “đừng nói thị, đừng nói phi”
Tổng kết19 pháp (10 hữu tránh, 9 vô tránh); có cặp khen chê, không có cặp hữu kiết sử16 pháp trong bản Hán (9 hữu tránh, 7 vô tránh — đếm trong bài này); có cặp kết sử và cặp nội lạc, không có cặp khen chê; không có vế “không đam mê dục lạc / khổ hạnh”
KếtSubhūti đang đi con đường vô tránh; Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọTu-bồ-đề “do đạo vô tránh mà về sau biết được pháp như pháp”; thêm bài kệ “Biết pháp Như chơn thật… Thực hành chơn không này” (此行真實空); “hoan hỷ phụng hành”

Vài điểm thêm theo Anālayo, A Comparative Study of the Majjhima-nikāya, vol. 2, tr. 793–797 (thứ cấp, chưa đối chiếu bản gốc ngoài MA169):

  • Nơi chốn. Anālayo ghi xứ Bhagga (婆奇瘦) ở phía đông Sāvatthī còn xứ Kuru ở phía tây, nên MA169 “dường như đã gộp hai địa danh làm một” (tr. 793, chú thích 173).
  • Lời trước mặt. Vế “đừng đối mặt khen ngợi” của bản Hán là “ngược hẳn” với bản Pāḷi (bản Pāḷi nói lời gay gắt trước mặt, không nói lời khen) (tr. 795, chú thích 184).
  • Phần tổng kết của hai bản đều không đủ. MN139 bỏ đề tài hữu kiết sử dù đã giảng ở trên; MA169 bỏ đề tài khen chê dù cũng đã giảng (tr. 796, chú thích 189).
  • Bản đọc khác. Ở một chỗ, ấn bản PTS và bản Tích Lan đọc “kiết sử của phi hữu (vibhavasaṁyojana) đã đoạn”, trong khi bản Miến, bản Thái và MA169 đều đọc “hữu kiết sử” (tr. 794, chú thích 180).
  • Ví dụ thêm. Mảnh Sanskrit và đoạn trích trong chú giải của Śamathadeva, ngoài các tên cái bát, còn kê thêm nhiều từ cùng chỉ “con người” để minh hoạ sự khác nhau của ngôn ngữ (tr. 796, chú thích 188).

Tóm lại, khung giáo lý trùng khớp giữa hai bản; khác nhau ở nơi chốn, ở đề tài khen chê thứ tư của bản Hán (cầu hay không cầu nội lạc), ở đề mục lời nói (bản Hán: khen ngợi trước mặt), ở số tên cái bát, ở danh sách pháp trong phần tổng kết, và ở bài kệ về Tu-bồ-đề của bản Hán. Theo cước chú của HT. Tuệ Sỹ (Trung A-hàm, tập III, tr. ~465–466), chữ “nghiệp” trong “nghiệp vô cùng hèn hạ” là do bản Hán đọc gamma (đê tiện) thành kamma (nghiệp) (chú thích 5); “lời ám chỉ” tương đương rahovāda (chú thích 10); “nói vừa phải” tương đương ataramāno bhāseyya (chú thích 11).

Tra cứu trong bài

Nguồn tham khảo

📖 Nguồn / bản quyền: SuttaCentral — MN 139 (Araṇavibhaṅga Sutta), Pāḷi Mahāsaṅgīti + bản Việt HT. Thích Minh Châu