MN139 - Kinh Vô Tránh Phân Biệt (Araṇavibhaṅga Sutta)
Tóm tắt nhanh: Tại Sāvatthī, trong Kỳ-đà-lâm, Đức Phật giảng cho chư Tỷ-kheo bài “phân tích về vô tránh” (araṇavibhaṅga) — những cách sống và cách nói không khuấy lên tranh chấp, không vướng bụi phiền não. Ngài nêu trước bảy đề mục: tránh hai cực đoan dục lạc và khổ hạnh; đi theo Trung đạo; biết thế nào là tán thán và chỉ trích để không tán thán, không chỉ trích mà chỉ thuyết pháp; biết phán xét các loại lạc để theo lạc bên trong; không nói lời sau lưng, không nói lời mất lòng trước mặt; nói chậm rãi, không vội; không chấp tiếng địa phương, không vượt cách gọi thông thường. Rồi Ngài giải rộng từng đề mục — có cả ví dụ cùng một cái bát mà mỗi xứ gọi một tên, người chấp “chỉ tên này mới đúng” là gieo mầm tranh cãi. Cuối kinh, Ngài xếp tất cả thành mười chín pháp: mười pháp hữu tránh (saraṇa) và chín pháp vô tránh (araṇa), dạy chư Tỷ-kheo học biết cả hai để đi con đường vô tránh. Ngài nêu thiện gia nam tử Subhūti là người đang đi con đường ấy, và chư Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ.
🔗 Song tạng: Bản Hán tạng tương đương — MA169 - Kinh Câu-lâu-sấu Vô Tránh (拘樓瘦無諍經), Trung A-hàm 169. Khác lớn nhất: ở đề mục lời nói, bản Hán dạy đừng khen ngợi trước mặt (面前稱譽) — Anālayo gọi là ngược hẳn với lời gay gắt trước mặt của bản Pāḷi; bản Hán cũng thêm một đề tài khen chê thứ tư: cầu hay không cầu lạc bên trong.
Bối cảnh
Kinh không có người hỏi, không có câu chuyện dẫn nhập. Đức Phật đang ở Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Kỳ-đà (Jetavana), tại tinh xá do ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) dâng cúng; Ngài tự gọi chư Tỷ-kheo (bhikkhavo — “Này các Tỷ-kheo”), các vị đáp bhadante (“Bạch Thế Tôn”), rồi Ngài báo trước tên bài giảng: araṇavibhaṅga. Vibhaṅga là “phân tích, phân biệt”; araṇa là “không có raṇa” — bản Anh của Bhikkhu Sujato dịch là no strife, “không tranh chấp”. Chú giải lại giải saraṇa là “có bụi, có nhiễm ô” (sarajo sakileso) và araṇa là “không bụi, không nhiễm ô” (arajo nikkileso) (theo Chú giải, Ps V 32). Người viết hiểu hai nghĩa ấy đi chung với nhau: điều gì khuấy lên phiền não trong mình thì cũng dễ khuấy lên tranh chấp với người. Bản Việt của HT. Thích Minh Châu dùng chữ “hữu tránh” và “vô tránh”.
Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “bhikkhavo”ti. “Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca: “araṇavibhaṅgaṁ vo, bhikkhave, desessāmi. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti. “Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại tịnh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về Vô tránh phân biệt. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
Pāḷi: mn139:1.1–2.4 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)
Kinh này là bài thứ chín của phẩm Phân Biệt (Vibhaṅga-vagga) trong Trung Bộ — dòng cuối kinh ghi “Araṇavibhaṅgasuttaṁ niṭṭhitaṁ navamaṁ”, “kinh Vô tránh phân biệt, thứ chín, chấm dứt” — đứng giữa các bài “phân biệt” khác như Tiểu Kinh Nghiệp Phân Biệt (MN135) và Kinh Phân Biệt Cúng Dường (MN142). Cũng như các bài cùng phẩm, kinh đi theo lối “nêu tóm tắt rồi giải rộng”.
Bảy đề mục tóm lược
Đức Phật mở đầu bằng một đoạn tổng thuyết (uddesa) gồm bảy đề mục, khép lại bằng câu ayamuddeso araṇavibhaṅgassa — “đây là phần tổng thuyết của Vô tránh phân biệt”. Mỗi đề mục là một lời dạy ngắn, có khi kèm một vế “biết… rồi mới…” (biết tán thán và chỉ trích rồi mới không tán thán, không chỉ trích; biết phán xét về lạc rồi mới chú tâm vào nội lạc).
“Na kāmasukhamanuyuñjeyya hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, na ca attakilamathānuyogamanuyuñjeyya dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ. Ete kho, bhikkhave, ubho ante anupagamma majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā, cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati. Ussādanañca jaññā, apasādanañca jaññā; ussādanañca ñatvā apasādanañca ñatvā nevussādeyya, na apasādeyya, dhammameva deseyya. Sukhavinicchayaṁ jaññā; sukhavinicchayaṁ ñatvā ajjhattaṁ sukhamanuyuñjeyya. Rahovādaṁ na bhāseyya, sammukhā na khīṇaṁ bhaṇe. Ataramānova bhāseyya, no taramāno. Janapadaniruttiṁ nābhiniveseyya, samaññaṁ nātidhāveyyāti— ayamuddeso araṇavibhaṅgassa.
—Chớ có hành trì dục lạc, hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích. Và cũng không nên hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích. Từ bỏ hai cực đoan ấy, có con đường Trung đạo đã được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Nên biết tán thán và nên biết chỉ trích. Sau khi biết tán thán và sau khi biết chỉ trích, không tán thán, không chỉ trích, chỉ nên thuyết pháp. Nên biết phán xét về lạc. Sau khi biết phán xét về lạc, nên chú tâm vào nội lạc. Không nên nói lên lời bí mật. Mặt đối mặt (với ai), không nên nói lời mất lòng. Nên nói thật từ từ, không có vội vàng. Chớ có chấp trước địa phương ngữ, chớ có đi quá xa ngôn ngữ thường dùng. Như vậy là tổng thuyết về Vô tránh phân biệt.
Pāḷi: mn139:3.1–3.10 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)| # | Đề mục (bản Việt) | Pāḷi |
|---|---|---|
| 1 | Chớ hành trì dục lạc, cũng chớ hành trì tự kỷ khổ hạnh | na kāmasukhamanuyuñjeyya… na ca attakilamathānuyogamanuyuñjeyya |
| 2 | Từ bỏ hai cực đoan ấy, có Trung đạo do Như Lai giác ngộ | ubho ante anupagamma majjhimā paṭipadā |
| 3 | Biết tán thán, biết chỉ trích; rồi không tán thán, không chỉ trích, chỉ thuyết pháp | ussādanañca jaññā, apasādanañca jaññā… dhammameva deseyya |
| 4 | Biết phán xét về lạc; rồi chú tâm vào nội lạc | sukhavinicchayaṁ jaññā… ajjhattaṁ sukhamanuyuñjeyya |
| 5 | Không nói lời sau lưng; trước mặt, không nói lời mất lòng | rahovādaṁ na bhāseyya, sammukhā na khīṇaṁ bhaṇe |
| 6 | Nói thong thả, không vội vàng | ataramānova bhāseyya, no taramāno |
| 7 | Chớ chấp trước tiếng địa phương, chớ vượt quá cách gọi thông thường | janapadaniruttiṁ nābhiniveseyya, samaññaṁ nātidhāveyya |
Khuôn chung của bảy phần giải rộng
Sau phần tổng thuyết, Đức Phật giải lần lượt từng đề mục (§4–12). Phần giải nào cũng theo cùng một khuôn bốn bước; khuôn ấy trích một lần ở đây (lấy đề mục 1 làm mẫu), các mục bên dưới chỉ trích phần giải riêng.
- Nhắc lại nguyên văn đề mục: “Khi được nói đến: ’…’” (iti kho panetaṁ vuttaṁ).
- Hỏi lý do: “do duyên gì được nói đến như vậy?” (kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?).
- Giải: phân tích từng trường hợp — thường đặt cạnh nhau một điều “có khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo” và một điều “không có” bốn thứ ấy, “thuộc chánh đạo”.
- Khép lại: lặp đề mục lần nữa và kết “chính do duyên này được nói đến như vậy” (iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ).
‘Na kāmasukhamanuyuñjeyya hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, na ca attakilamathānuyogamanuyuñjeyya dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitan’ti— iti kho panetaṁ vuttaṁ; Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Khi được nói đến: “Chớ có hành trì dục lạc, hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, và cũng không nên hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích”, do duyên gì được nói đến như vậy?
Pāḷi: mn139:4.1–4.2 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)Bốn chữ đi kèm suốt kinh là thước đo chung: sadukkha (có khổ), saupaghāta (có phiền lao, tức có sự tổn hại), saupāyāsa (có ưu não), sapariḷāha (có nhiệt não, sự nóng bức). Theo Chú giải, “có khổ” gồm cả khổ của quả dị thục lẫn khổ của phiền não, và “phiền lao”, “nhiệt não” cũng hiểu theo hai lớp ấy (Ps V 31). Điều gì mang bốn thứ này là “tà đạo” (micchāpaṭipadā); điều gì không mang là “chánh đạo” (sammāpaṭipadā).
Giải rộng bảy đề mục
1. Dục lạc và khổ hạnh: cả hai đều có khổ, đều là tà đạo
Đề mục đầu gồm bốn vế. Sự đam mê dục lạc được tả bằng năm chữ: hạ liệt (hīna), đê tiện (gamma, “của kẻ quê mùa”), phàm phu (pothujjanika), không xứng bậc Thánh (anariya), không liên hệ mục đích (anatthasaṁhita); khổ hạnh hành xác (attakilamathānuyoga) được tả bằng ba chữ: đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích. Hai sự đam mê ấy đều “có khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo”; còn không đam mê chúng thì không có bốn thứ ấy, thuộc chánh đạo. Chữ Pāḷi ở vế dục lạc khá dài — kāmapaṭisandhisukhino somanassānuyogo, “sự đam mê niềm vui của người lấy lạc gắn liền với dục làm hạnh phúc” (Chú giải: người được an lạc nhờ lạc liên hệ đến dục, Ps V 31). Lưu ý bản Việt: ở câu lặp đề mục cuối đoạn, bản Việt bỏ chữ “phàm phu” (Pāḷi §4.7 vẫn có pothujjanikaṁ).
Yo kāmapaṭisandhisukhino somanassānuyogo hīno gammo pothujjaniko anariyo anatthasaṁhito, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā. Yo kāmapaṭisandhisukhino somanassānuyogaṁ ananuyogo hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā. Yo attakilamathānuyogo dukkho anariyo anatthasaṁhito, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā. Yo attakilamathānuyogaṁ ananuyogo dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā. ‘Na kāmasukhamanuyuñjeyya hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, na ca attakilamathānuyogaṁ anuyuñjeyya dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitan’ti— iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Phàm lạc gì liên hệ với dục nhưng đam mê loại hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy là có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Phàm lạc gì liên kết với dục, nhưng không đam mê loại hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo.
Phàm hành trì tự kỷ khổ hạnh nào, khổ đau, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Phàm không hành trì khổ hạnh nào, đau khổ không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo.
Khi được nói đến: “Chớ có hành trì dục lạc, hạ liệt, đê tiện, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, và cũng không nên hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích”, chính do duyên này, được nói đến như vậy.
Pāḷi: mn139:4.3–4.8 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)2. Trung đạo chính là Bát chánh đạo
Đề mục hai không cần phân tích nhiều vế: con đường giữa mà Như Lai đã giác ngộ, tránh xa hai cực đoan, có sáu công năng — tác thành mắt (cakkhukaraṇī), tác thành trí (ñāṇakaraṇī), đưa đến an tịnh (upasama), thắng trí (abhiññā), giác ngộ (sambodhi), Niết-bàn (nibbāna) — và chính là Bát chánh đạo, kinh kê đủ tám chi: chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. (Bản Việt dịch abhiññā là “thắng trí” ở phần tổng thuyết nhưng “thượng trí” ở đây — cùng một chữ.)
‘Ete kho ubho ante anupagamma majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā, cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattatī’ti— iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṁ— sammādiṭṭhi, sammāsaṅkappo, sammāvācā, sammākammanto, sammāājīvo, sammāvāyāmo, sammāsati, sammāsamādhi. ‘Ete kho ubho ante anupagamma majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā, cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattatī’ti— iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Khi được nói đến: “Từ bỏ hai cực đoan ấy, có con đường Trung đạo đã được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn”, do duyên gì được nói đến như vậy? Ðây là con đường Thánh tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Khi được nói đến: “Từ bỏ hai cực đoan ấy, có con đường Trung đạo đã được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn”, chính do duyên này, được nói đến như vậy.
Pāḷi: mn139:5.1–5.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)3. Khen chê con người hay chỉ thuyết pháp
Đây là phần dài nhất và là lõi của tên kinh. Đức Phật lấy ba đề tài — đam mê dục lạc, đam mê khổ hạnh, và hữu kiết sử (bhavasaṁyojana, dây trói buộc vào sự tái sinh; Chú giải: đó là tên gọi của tham ái, Ps V 31) — rồi cho thấy cùng một nội dung có thể nói theo hai cách.
Cách thứ nhất là khen chê con người: “Những ai đam mê dục lạc… tất cả những người ấy đều có khổ… thuộc tà đạo” — nói vậy là chỉ trích (apasādeti) một số người; “những ai không đam mê… tất cả những vị ấy không có khổ… thuộc chánh đạo” — nói vậy là tán thán (ussādeti) một số người. Ba đề tài, mỗi đề tài một câu chê và một câu khen: sáu câu. Chú giải giải thích “tán thán, chỉ trích” ở đây là đề cao hay hạ thấp một cá nhân nào đó theo tâm thế tục (gehasitavasena) (Ps V 30–31).
‘Ussādanañca jaññā, apasādanañca jaññā; ussādanañca ñatvā apasādanañca ñatvā nevussādeyya, na apasādeyya, dhammameva deseyyā’ti— iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Kathañca, bhikkhave, ussādanā ca hoti apasādanā ca, no ca dhammadesanā? ‘Ye kāmapaṭisandhisukhino somanassānuyogaṁ anuyuttā hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, sabbe te sadukkhā saupaghātā saupāyāsā sapariḷāhā micchāpaṭipannā’ti— iti vadaṁ ittheke apasādeti. ‘Ye kāmapaṭisandhisukhino somanassānuyogaṁ ananuyuttā hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, sabbe te adukkhā anupaghātā anupāyāsā apariḷāhā sammāpaṭipannā’ti— iti vadaṁ ittheke ussādeti. ‘Ye attakilamathānuyogaṁ anuyuttā dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, sabbe te sadukkhā saupaghātā saupāyāsā sapariḷāhā micchāpaṭipannā’ti— iti vadaṁ ittheke apasādeti. ‘Ye attakilamathānuyogaṁ ananuyuttā dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, sabbe te adukkhā anupaghātā anupāyāsā apariḷāhā sammāpaṭipannā’ti— iti vadaṁ ittheke ussādeti. ‘Yesaṁ kesañci bhavasaṁyojanaṁ appahīnaṁ, sabbe te sadukkhā saupaghātā saupāyāsā sapariḷāhā micchāpaṭipannā’ti— iti vadaṁ ittheke apasādeti. ‘Yesaṁ kesañci bhavasaṁyojanaṁ pahīnaṁ, sabbe te adukkhā anupaghātā anupāyāsā apariḷāhā sammāpaṭipannā’ti— iti vadaṁ ittheke ussādeti. Evaṁ kho, bhikkhave, ussādanā ca hoti apasādanā ca, no ca dhammadesanā.
Khi được nói đến: “Nên biết tán thán và nên biết chỉ trích; sau khi biết tán thán và sau khi biết chỉ trích, không tán thán, không chỉ trích, chỉ nên thuyết pháp”, do duyên gì được nói đến như vậy?
Này các Tỷ-kheo, thế nào là tán thán, thế nào là chỉ trích, nhưng không thuyết pháp? Vị ấy chỉ trích một số người và nói như sau: “Những ai tìm thấy lạc liên hệ với dục nhưng đam mê loại hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, tất cả những người ấy có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo”. Vị ấy tán thán một số người và nói như sau: “Những ai tìm thấy lạc liên hệ với dục, nhưng không đam mê loại hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, tất cả những vị ấy không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo”.
Ở đây, vị ấy chỉ trích một số người và nói như sau: “Những ai đam mê hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, tất cả những vị ấy đều có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc về tà đạo”. Ở đây, vị ấy tán thán một số người và nói như sau: “Những ai không đam mê hành trì tự kỷ khổ hạnh; đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, tất cả những vị ấy đều không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo”.
Ở đây, vị ấy chỉ trích một số người và nói như sau: “Những ai chưa đoạn tận hữu kiết sử, tất cả những vị ấy đều có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo”. Ở đây, vị ấy tán thán một số người và nói như sau: “Những ai đã đoạn tận hữu kiết sử, tất cả những vị ấy không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là có tán thán và có chỉ trích nhưng không thuyết pháp.
Pāḷi: mn139:6.1–7.14 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)Cách thứ hai là chỉ thuyết pháp: không nói “những ai…”, mà nói về chính pháp: “Sự đam mê là một pháp có khổ… thuộc tà đạo”, “không đam mê là một pháp không đau khổ… thuộc chánh đạo”. Với đề tài hữu kiết sử, câu thuyết pháp còn gọn hơn: “Khi hữu kiết sử chưa đoạn tận, hữu chưa đoạn tận” và “khi hữu kiết sử được đoạn tận, hữu được đoạn tận” — chỉ nói quy luật, không nói ai đang khổ, ai đang an. Lưu ý bản Việt: ở hai câu “vị ấy không nói” của đề tài hữu kiết sử, bản Việt bỏ vế cuối “thuộc tà đạo” / “thuộc chánh đạo” (Pāḷi §8.22, §8.26 có micchāpaṭipannā / sammāpaṭipannā).
Kathañca, bhikkhave, nevussādanā hoti na apasādanā, dhammadesanā ca? ‘Ye kāmapaṭisandhisukhino somanassānuyogaṁ anuyuttā hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, sabbe te sadukkhā saupaghātā saupāyāsā sapariḷāhā micchāpaṭipannā’ti— na evamāha. ‘Anuyogo ca kho sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā’ti— iti vadaṁ dhammameva deseti. ‘Ye kāmapaṭisandhisukhino somanassānuyogaṁ ananuyuttā hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, sabbe te adukkhā anupaghātā anupāyāsā apariḷāhā sammāpaṭipannā’ti— na evamāha. ‘Ananuyogo ca kho adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā’ti— iti vadaṁ dhammameva deseti. ‘Ye attakilamathānuyogaṁ anuyuttā dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, sabbe te sadukkhā saupaghātā saupāyāsā sapariḷāhā micchāpaṭipannā’ti— na evamāha. ‘Anuyogo ca kho sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā’ti— iti vadaṁ dhammameva deseti. ‘Ye attakilamathānuyogaṁ ananuyuttā dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, sabbe te adukkhā anupaghātā anupāyāsā apariḷāhā sammāpaṭipannā’ti— na evamāha. ‘Ananuyogo ca kho adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā’ti— iti vadaṁ dhammameva deseti. ‘Yesaṁ kesañci bhavasaṁyojanaṁ appahīnaṁ, sabbe te sadukkhā saupaghātā saupāyāsā sapariḷāhā micchāpaṭipannā’ti— na evamāha. ‘Bhavasaṁyojane ca kho appahīne bhavopi appahīno hotī’ti— iti vadaṁ dhammameva deseti. ‘Yesaṁ kesañci bhavasaṁyojanaṁ pahīnaṁ, sabbe te adukkhā anupaghātā anupāyāsā apariḷāhā sammāpaṭipannā’ti— na evamāha. ‘Bhavasaṁyojane ca kho pahīne bhavopi pahīno hotī’ti— iti vadaṁ dhammameva deseti. Evaṁ kho, bhikkhave, nevussādanā hoti na apasādanā, dhammadesanā ca. ‘Ussādanañca jaññā, apasādanañca jaññā; ussādanañca ñatvā apasādanañca ñatvā nevussādeyya, na apasādeyya, dhammameva deseyyā’ti— iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không có tán thán và không có chỉ trích, nhưng có thuyết pháp? Vị ấy không nói như sau: “Những ai tìm thấy lạc liên hệ với dục, nhưng đam mê loại hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, tất cả những vị ấy có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo”. Vị ấy chỉ thuyết pháp và nói như sau: “Sự đam mê là một pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo”. Vị ấy không nói: “Những ai tìm thấy lạc liên hệ với dục, nhưng không đam mê loại hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, tất cả những vị ấy không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo”.
Vị ấy không nói: “Những ai đam mê hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, tất cả những vị ấy có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. “Vị ấy chỉ thuyết pháp và nói như sau: “Sự đam mê là một pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo”. Vị ấy không nói: “Những ai không đam mê hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích, tất cả những vị ấy đều không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo”. Vị ấy chỉ thuyết pháp và nói như sau: “Sự không đam mê là không đau khổ, pháp này không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc về chánh đạo”.
Vị ấy không có nói: “Những ai chưa đoạn tận hữu kiết sử, tất cả những vị ấy đều có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não”. Vị ấy chỉ thuyết pháp và nói như sau: “Khi hữu kiết sử chưa đoạn tận, hữu chưa đoạn tận”. Vị ấy không nói như sau: “Những ai đã đoạn tận hữu kiết sử, tất cả những vị ấy không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não”. Vị ấy chỉ thuyết pháp và nói như sau: “Và khi hữu kiết sử được đoạn tận, hữu được đoạn tận”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không tán thán, không chỉ trích, nhưng chỉ thuyết pháp.
Khi được nói đến: “Nên biết tán thán và nên biết chỉ trích; sau khi biết tán thán và sau khi biết chỉ trích, chớ có tán thán, chớ có chỉ trích, chỉ nên thuyết pháp”, chính do duyên này được nói đến như vậy.
Pāḷi: mn139:8.1–8.33 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)| Đề tài | Khen chê con người (hữu tránh) | Chỉ thuyết pháp (vô tránh) |
|---|---|---|
| Đam mê dục lạc | “Những ai đam mê… đều có khổ, tà đạo” (chê) · “Những ai không đam mê… đều không khổ, chánh đạo” (khen) | “Sự đam mê là pháp có khổ, tà đạo” · “Không đam mê là pháp không khổ, chánh đạo” |
| Đam mê khổ hạnh | chê người đam mê · khen người không đam mê (cùng khuôn) | “Sự đam mê là pháp có khổ…” · “Sự không đam mê… chánh đạo” |
| Hữu kiết sử | “Những ai chưa đoạn tận hữu kiết sử… đều có khổ” (chê) · “Những ai đã đoạn tận… đều không khổ” (khen) | “Hữu kiết sử chưa đoạn thì hữu chưa đoạn” · “Hữu kiết sử đã đoạn thì hữu được đoạn” |
4. Phán xét các loại lạc, theo đuổi lạc bên trong
Đề mục bốn phân biệt hai loại lạc. Loại thứ nhất sinh từ năm dục trưởng dưỡng (pañca kāmaguṇā): sắc do mắt nhận biết, tiếng do tai, hương do mũi, vị do lưỡi, xúc do thân — đều “khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, liên hệ đến dục, hấp dẫn” (sáu chữ iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā). Lạc và hỷ do năm thứ ấy sinh ra mang bốn tên: dục lạc (kāmasukha), uế lạc (mīḷhasukha — chữ mīḷha nghĩa đen là phân, đồ dơ), phàm phu lạc, phi Thánh lạc. Đức Phật nói lạc này “không nên thực hành, không nên tu tập, không nên làm cho sung mãn, nên sợ hãi”.
‘Sukhavinicchayaṁ jaññā; sukhavinicchayaṁ ñatvā ajjhattaṁ sukhamanuyuñjeyyā’ti— iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Pañcime, bhikkhave, kāmaguṇā. Katame pañca? Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā, sotaviññeyyā saddā … ghānaviññeyyā gandhā … jivhāviññeyyā rasā … kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā— ime kho, bhikkhave, pañca kāmaguṇā. Yaṁ kho, bhikkhave, ime pañca kāmaguṇe paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ idaṁ vuccati kāmasukhaṁ mīḷhasukhaṁ puthujjanasukhaṁ anariyasukhaṁ. ‘Na āsevitabbaṁ, na bhāvetabbaṁ, na bahulīkātabbaṁ, bhāyitabbaṁ etassa sukhassā’ti—vadāmi.
Khi được nói đến: “Nên biết phán xét về lạc; sau khi biết phán xét về lạc, nên chú tâm vào nội lạc”, do duyên gì được nói đến như vậy?
Này các Tỷ-kheo, có năm dục trưởng dưỡng này. Thế nào là năm? Các sắc pháp do mắt nhận thức, khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, liên hệ đến dục, hấp dẫn; các tiếng do tai nhận thức, …; các hương do mũi nhận thức, …; các vị do lưỡi nhận thức …; các xúc do thân cảm giác, khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, như vậy là năm dục trưởng dưỡng. Này các Tỷ-kheo, do duyên năm dục trưởng dưỡng này khởi lên lạc và hỷ, như vậy gọi là dục lạc, uế lạc, phàm phu lạc, phi Thánh lạc. Ta nói loại lạc này không nên thực hành, không nên tu tập, không nên làm cho sung mãn, nên sợ hãi.
Pāḷi: mn139:9.1–9.13 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)Loại thứ hai là lạc của bốn thiền: Thiền thứ nhất — ly dục, ly bất thiện pháp, hỷ lạc do ly dục sanh (vivekaja, nghĩa sát là “do viễn ly sanh”), có tầm có tứ; Thiền thứ hai — tầm tứ lắng xuống, nội tĩnh nhất tâm, hỷ lạc do định sanh; Thiền thứ ba và Thiền thứ tư (kinh viết tắt). Lạc này cũng mang bốn tên: xuất ly lạc (nekkhammasukha), viễn ly lạc (pavivekasukha), an tịnh lạc (upasamasukha), giác ngộ lạc (sambodhisukha); và nhận lời phán ngược hẳn: “nên thực hành, nên tu tập, nên làm cho sung mãn, không nên sợ hãi”. “Phán xét về lạc” (sukhavinicchaya), theo Chú giải, là lạc đã được phân định rõ ràng (Ps V 30). Kinh không định nghĩa riêng “nội lạc”, nhưng đặt nó ngay sau lạc của bốn thiền; Anālayo cũng hiểu “nội lạc” là lạc của các thiền (tr. 795).
Idha, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati …pe… tatiyaṁ jhānaṁ …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Idaṁ vuccati nekkhammasukhaṁ pavivekasukhaṁ upasamasukhaṁ sambodhisukhaṁ. ‘Āsevitabbaṁ, bhāvetabbaṁ, bahulīkātabbaṁ, na bhāyitabbaṁ etassa sukhassā’ti—vadāmi. ‘Sukhavinicchayaṁ jaññā; sukhavinicchayaṁ ñatvā ajjhattaṁ sukhamanuyuñjeyyā’ti— iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Ðình chỉ tầm và tứ, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhứt tâm … Thiền thứ ba … chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Như vậy gọi là xuất ly lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, giác ngộ lạc. Ta nói loại lạc này nên thực hành, nên tu tập, nên làm cho sung mãn, không nên sợ hãi.
Khi được nói đến: “Nên biết phán xét về lạc; sau khi phán xét về lạc, hãy chú tâm vào nội lạc”, do chính duyên này được nói đến như vậy.
Pāḷi: mn139:9.14–9.22 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)5. Lời sau lưng và lời mất lòng trước mặt
Đề mục năm nói về hai loại lời: lời nói sau lưng (rahovāda) và lời gay gắt nói ngay trước mặt (sammukhā khīṇavāda). Mỗi loại được xét theo ba trường hợp, tổng cộng sáu:
| Trường hợp | Lời sau lưng | Lời mất lòng trước mặt |
|---|---|---|
| Không thật, sai, vô ích | nếu có thể được, chớ nói | nếu có thể được, chớ nói |
| Thật, đúng, nhưng vô ích | hãy tập đừng nói | hãy tập đừng nói |
| Thật, đúng, có ích | biết thời mà nói (kālaññū) | biết thời mà nói |
Lưu ý bản Việt: “lời bí mật” là chữ dịch rahovāda; Chú giải giải là “chê bai sau lưng, tức là lời đâm thọc” (parammukhā avaṇṇaṁ, pisuṇavācā), bản Anh của Sujato cũng dịch talk behind people’s backs — tức không phải “chuyện bí mật” theo nghĩa thường. “Lời mất lòng” (khīṇa) Chú giải giải là lời thô ác, hỗn tạp, ô nhiễm (Ps V 30). “Biết thời”, theo Chú giải, là không nói khi chưa đến lúc hay đã quá lúc, mà nói khi biết “bây giờ nói thì đại chúng sẽ tiếp nhận” (Ps V 31). Chữ sasakkaṁ (“nếu có thể được”) cho thấy với lời không thật, vô ích thì phải cố hết sức mà tránh.
‘Rahovādaṁ na bhāseyya, sammukhā na khīṇaṁ bhaṇe’ti— iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Tatra, bhikkhave, yaṁ jaññā rahovādaṁ abhūtaṁ atacchaṁ anatthasaṁhitaṁ sasakkaṁ taṁ rahovādaṁ na bhāseyya. Yampi jaññā rahovādaṁ bhūtaṁ tacchaṁ anatthasaṁhitaṁ tassapi sikkheyya avacanāya. Yañca kho jaññā rahovādaṁ bhūtaṁ tacchaṁ atthasaṁhitaṁ tatra kālaññū assa tassa rahovādassa vacanāya. Tatra, bhikkhave, yaṁ jaññā sammukhā khīṇavādaṁ abhūtaṁ atacchaṁ anatthasaṁhitaṁ sasakkaṁ taṁ sammukhā khīṇavādaṁ na bhāseyya. Yampi jaññā sammukhā khīṇavādaṁ bhūtaṁ tacchaṁ anatthasaṁhitaṁ tassapi sikkheyya avacanāya. Yañca kho jaññā sammukhā khīṇavādaṁ bhūtaṁ tacchaṁ atthasaṁhitaṁ tatra kālaññū assa tassa sammukhā khīṇavādassa vacanāya. ‘Rahovādaṁ na bhāseyya, sammukhā na khīṇaṁ bhaṇe’ti— iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Khi được nói đến: “Không nên nói lên lời bí mật. Mặt đối mặt (với ai), không nên nói lời mất lòng”, do duyên gì được nói đến như vậy?
Tại đây, này các Tỷ-kheo, biết được một lời bí mật là không thực, hư vọng, không liên hệ mục đích, nếu có thể được, chớ nói lên lời bí mật ấy. Và nếu biết được một lời bí mật là thực, không hư vọng, nhưng không liên hệ mục đích, hãy tự tập đừng nói lời ấy. Và nếu biết được một lời bí mật là thực, không hư vọng, có liên hệ mục đích; ở đây nên biết thời nói lên lời bí mật ấy.
Nếu biết một lời mất lòng, mặt đối mặt (với ai) là không thực, hư vọng, không liên hệ mục đích, nếu có thể được, mặt đối mặt; chớ có nói lên lời nói mất lòng ấy. Nếu biết một lời mất lòng, mặt đối mặt (với ai) là thực, không hư vọng, nhưng không liên hệ mục đích, hãy tập chớ nói lên lời ấy. Và nếu biết một lời mất lòng, mặt đối mặt (với ai) là thực, không hư vọng, có liên hệ mục đích; ở đây nên biết thời nói lên lời mất lòng ấy.
Khi được nói đến: “Không nên nói lên lời bí mật, mặt đối mặt (với ai), không nên nói lên lời mất lòng”, do chính duyên này được nói đến như vậy.
Pāḷi: mn139:10.1–10.11 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)6. Nói thong thả, không vội vàng
Đề mục sáu nêu đủ năm hậu quả của lời nói vội: thân mệt mỏi (kāyo kilamati), tâm bị tổn hại (cittaṁ upahaññati), tiếng bị tổn hại (saro upahaññati), cổ họng bị đau (kaṇṭho āturīyati), và lời nói không rõ ràng, không được nhận hiểu (avisaṭṭha, aviññeyya). Nói thong thả thì năm điều ấy đảo ngược. Chú giải giải “tiếng bị tổn hại” là giọng bị vỡ, “cổ họng bị đau” là như người lâm bệnh (Ps V 31).
‘Ataramānova bhāseyya no taramāno’ti— iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Tatra, bhikkhave, taramānassa bhāsato kāyopi kilamati, cittampi upahaññati, saropi upahaññati, kaṇṭhopi āturīyati, avisaṭṭhampi hoti aviññeyyaṁ taramānassa bhāsitaṁ. Tatra, bhikkhave, ataramānassa bhāsato kāyopi na kilamati, cittampi na upahaññati, saropi na upahaññati, kaṇṭhopi na āturīyati, visaṭṭhampi hoti viññeyyaṁ ataramānassa bhāsitaṁ. ‘Ataramānova bhāseyya, no taramāno’ti— iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Khi được nói đến: “Nên nói thật từ từ, chớ có vội vàng”, do duyên gì được nói đến như vậy?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu nói vội vàng, thời thân mệt mỏi, tâm bị tổn hại, tiếng bị tổn hại và cổ họng bị đau. Lời nói một người vội vàng không được rõ ràng và không được nhận hiểu.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, nói lời từ từ, thân không mệt mỏi, tâm không tổn hại, tiếng không tổn hại và cổ họng không bị đau. Lời nói một người nói từ từ được rõ ràng và được nhận hiểu. Khi được nói đến: “Nên nói thật từ từ, chớ có nói vội vàng ”, chính do duyên này được nói đến như vậy.
Pāḷi: mn139:11.1–11.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)7. Không chấp tiếng địa phương, không vượt cách gọi thông thường
Ví dụ của đề mục bảy là một món đồ đựng: cùng một vật, ở các xứ khác nhau người ta gọi bằng bảy tên — pātī, patta, vitta, sarāva, dhāropa, poṇa, pisīlava (bản Anh của Sujato tạm dịch: cup, bowl, jar, scoop, vessel, dish, plate). Người chấp thì xứ mình gọi sao, cứ khăng khăng, bám chặt (thāmasā parāmāsā abhinivissa) mà nói: “Chỉ như vậy là sự thật, ngoài ra là hư vọng” (idameva saccaṁ, moghamaññaṁ). Người không chấp thì nghĩ “các vị ở đây hẳn muốn chỉ vật này” (idaṁ kira me āyasmanto sandhāya voharanti) rồi gọi theo họ, không bám giữ (aparāmasaṁ). Chú giải kể: một người đến xứ gọi vật ấy là patta, nghe người ta bảo “hãy mang cái patta lại, hãy rửa cái patta”, liền cãi “đây không phải patta, đây là pāti, phải gọi như vầy mới đúng”; còn người không chấp thì từ đó bỏ cách gọi xứ mình, gọi theo xứ người (Ps V 32). (Bản Việt chép tên thứ ba là “Vittha”; Pāḷi Mahāsaṅgīti là vitta.)
‘Janapadaniruttiṁ nābhiniveseyya, samaññaṁ nātidhāveyyā’ti— iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Kathañca, bhikkhave, janapadaniruttiyā ca abhiniveso hoti samaññāya ca atisāro? Idha, bhikkhave, tadevekaccesu janapadesu ‘pātī’ti sañjānanti, ‘pattan’ti sañjānanti, ‘vittan’ti sañjānanti, ‘sarāvan’ti sañjānanti ‘dhāropan’ti sañjānanti, ‘poṇan’ti sañjānanti, ‘pisīlavan’ti sañjānanti. Iti yathā yathā naṁ tesu tesu janapadesu sañjānanti tathā tathā thāmasā parāmāsā abhinivissa voharati: ‘idameva saccaṁ, moghamaññan’ti. Evaṁ kho, bhikkhave, janapadaniruttiyā ca abhiniveso hoti samaññāya ca atisāro. Kathañca, bhikkhave, janapadaniruttiyā ca anabhiniveso hoti samaññāya ca anatisāro? Idha, bhikkhave, tadevekaccesu janapadesu ‘pātī’ti sañjānanti, ‘pattan’ti sañjānanti, ‘vittan’ti sañjānanti, ‘sarāvan’ti sañjānanti, ‘dhāropan’ti sañjānanti, ‘poṇan’ti sañjānanti, ‘pisīlavan’ti sañjānanti. Iti yathā yathā naṁ tesu tesu janapadesu sañjānanti ‘idaṁ kira me āyasmanto sandhāya voharantī’ti tathā tathā voharati aparāmasaṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, janapadaniruttiyā ca anabhiniveso hoti, samaññāya ca anatisāro. ‘Janapadaniruttiṁ nābhiniveseyya samaññaṁ nātidhāveyyā’ti— iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Khi được nói đến: “Chớ có chấp trước địa phương ngữ, chớ có đi quá xa ngôn ngữ thường dùng,” do duyên gì được nói đến như vậy? Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chấp trước địa phương ngữ và đi quá xa ngôn ngữ thường dùng?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, trong nhiều quốc độ, người ta biết (những chữ) Pati … Patta … Vittha. Sarava. Dharopa. Pona … Pisila. Như vậy, như họ biết trong các quốc độ ấy những chữ là như vậy, như vậy, có người lại làm như vậy, kiên trì chấp thủ, chấp trước và nói: “Chỉ như vậy là sự thật, ngoài ra là hư vọng”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là chấp trước địa phương ngữ, là đi quá xa ngôn ngữ thường dùng.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không chấp trước địa phương ngữ, không đi quá xa ngôn ngữ thường dùng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, trong nhiều quốc độ, người ta biết những chữ Pati. Patta … Vittha. Sarava … Dharopa … Pona. Pisila. Như vậy, như họ biết trong các quốc độ ấy, những chữ là như vậy, như vậy, một người không chấp thủ mà giải thích: “Các vị ấy y cứ như thế này, giải thích như vậy”. Như vậy, này các Tỷ-kheo là không chấp trước địa phương ngữ, không đi quá xa ngôn ngữ thường dùng.
Khi được nói đến: “Chớ có chấp trước địa phương ngữ, chớ có đi quá xa ngôn ngữ thường dùng”, do chính duyên này được nói đến như vậy.
Pāḷi: mn139:12.1–12.13 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)
Bảng tổng hợp bảy đề mục
| # | Đề mục | Điều nên tránh | Điều nên theo |
|---|---|---|---|
| 1 | Hai cực đoan | đam mê dục lạc; đam mê khổ hạnh | không đam mê cả hai |
| 2 | Trung đạo | — | Bát chánh đạo (8 chi), đưa đến mắt, trí, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn |
| 3 | Khen chê | nói “những ai…” để khen hay chê con người (3 đề tài × 2 = 6 câu) | chỉ nói về pháp: “sự đam mê là pháp có khổ…” |
| 4 | Hai loại lạc | lạc từ năm dục (dục lạc, uế lạc, phàm phu lạc, phi Thánh lạc): nên sợ | lạc của bốn thiền (xuất ly, viễn ly, an tịnh, giác ngộ lạc): không nên sợ |
| 5 | Lời sau lưng, lời trước mặt | lời không thật vô ích; lời thật mà vô ích | lời thật, có ích — biết thời mà nói |
| 6 | Cách nói | nói vội: thân mệt, tâm hại, tiếng hại, cổ đau, lời khó hiểu | nói thong thả |
| 7 | Tiếng địa phương | chấp một tên, cho mọi tên khác là sai | gọi theo cách gọi của nơi mình đến, không bám giữ |
Khuôn chung của mười chín pháp hữu tránh và vô tránh
Giải xong bảy đề mục, Đức Phật gom lại tất cả thành mười chín pháp (§13) và gắn nhãn từng pháp. Mỗi pháp đi theo cùng một khuôn bốn bước; khuôn trích một lần ở đây (lấy pháp thứ nhất làm mẫu):
- Nêu pháp: “Tại đây, này các Tỷ-kheo, [pháp X]…”.
- Xét bốn tính chất: có (hay không có) khổ, phiền lao, ưu não, nhiệt não.
- Xếp đường: thuộc tà đạo (hay chánh đạo).
- Kết luận: “Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh” (tasmā eso dhammo saraṇo) — hay “pháp vô tránh” (araṇo).
Tatra, bhikkhave, yo kāmapaṭisandhisukhino somanassānuyogo hīno gammo pothujjaniko anariyo anatthasaṁhito, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo saraṇo.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, phàm lạc gì liên hệ với dục nhưng có đam mê loại hỷ, hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.
Pāḷi: mn139:13.1–13.3 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)
Đếm đủ: mười pháp hữu tránh, chín pháp vô tránh. Trung đạo đứng một mình, không có vế đối; mỗi loại lời (sau lưng, trước mặt) có hai pháp hữu tránh và một pháp vô tránh. Đề tài hữu kiết sử ở đề mục 3 không được nhắc lại trong phần tổng kết này. Theo Chú giải, đến đây Đức Phật “phân định ranh giới” để các pháp không lẫn vào nhau (Ps V 32).
Mười chín pháp: hữu tránh hay vô tránh
1–4. Dục lạc và khổ hạnh
Pháp 1 (đam mê dục lạc — hữu tránh) đã trích ở khuôn trên. Ba pháp còn lại: không đam mê dục lạc — vô tránh; đam mê khổ hạnh — hữu tránh; không đam mê khổ hạnh — vô tránh. Lưu ý bản Việt ở pháp 4 ghi “phàm không có hành trì tự kỷ khổ hạnh, không đau khổ, không xứng bậc Thánh…” — chữ “không” đặt lệch: trong Pāḷi, “đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích” (dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ) là ba chữ tả chính sự khổ hạnh mà người kia không đam mê.
Tatra, bhikkhave, yo kāmapaṭisandhisukhino somanassānuyogaṁ ananuyogo hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo araṇo. Tatra, bhikkhave, yo attakilamathānuyogo dukkho anariyo anatthasaṁhito, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo saraṇo. Tatra, bhikkhave, yo attakilamathānuyogaṁ ananuyogo dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo araṇo.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lạc gì, liên kết với dục, nhưng không có đam mê loại hỷ, hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm không có hành trì tự kỷ khổ hạnh, không đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.
Pāḷi: mn139:13.4–13.12 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)5. Trung đạo
Trung đạo — vô tránh. (Bản Việt ghi “Trung đạo đã được Thế Tôn giác ngộ”; Pāḷi là tathāgatena, “do Như Lai”, như ở phần tổng thuyết.)
Tatra, bhikkhave, yāyaṁ majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā, cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo araṇo.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, đây là Trung đạo đã được Thế Tôn giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết—bàn. Pháp này không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.
Pāḷi: mn139:13.13–13.15 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)6–7. Khen chê và thuyết pháp
Tán thán và chỉ trích mà không thuyết pháp — hữu tránh; không tán thán, không chỉ trích, chỉ thuyết pháp — vô tránh. (Bản Việt pháp 6 ghi “có phiền não” ở chỗ các pháp khác dịch “có nhiệt não”; Pāḷi vẫn là sapariḷāho.)
Tatra, bhikkhave, yāyaṁ ussādanā ca apasādanā ca no ca dhammadesanā, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo saraṇo. Tatra, bhikkhave, yāyaṁ nevussādanā ca na apasādanā ca dhammadesanā ca, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo araṇo.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, pháp tán thán và chỉ trích nhưng không thuyết pháp này, pháp này có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có phiền não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, pháp không tán thán, cũng không chỉ trích, chỉ có thuyết pháp, pháp này không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.
Pāḷi: mn139:13.16–13.21 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)8–9. Dục lạc và lạc xuất ly
Dục lạc — uế lạc, phàm phu lạc, phi Thánh lạc — hữu tránh; xuất ly lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, giác ngộ lạc — vô tránh. Lưu ý bản Việt: pháp 8 bỏ vế “thuộc tà đạo” (Pāḷi §13.23 micchāpaṭipadā); pháp 9 chỉ kê ba tên “xuất ly lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc”, sót tên thứ tư “giác ngộ lạc” mà Pāḷi §13.25 có (sambodhisukhaṁ).
Tatra, bhikkhave, yamidaṁ kāmasukhaṁ mīḷhasukhaṁ pothujjanasukhaṁ anariyasukhaṁ, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo saraṇo. Tatra, bhikkhave, yamidaṁ nekkhammasukhaṁ pavivekasukhaṁ upasamasukhaṁ sambodhisukhaṁ, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo araṇo.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, pháp dục lạc này là uế lạc, phàm phu lạc, phi Thánh lạc, pháp này là pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, pháp xuất ly lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, pháp này là pháp không đau khổ, không phiền lao, không ưu não, không nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.
Pāḷi: mn139:13.22–13.27 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)10–12. Lời sau lưng
Lời sau lưng không thật, hư vọng, vô ích — hữu tránh; thật, không hư vọng nhưng vô ích — vẫn hữu tránh; thật, không hư vọng, có ích — vô tránh.
Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ rahovādo abhūto ataccho anatthasaṁhito, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo saraṇo. Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ rahovādo bhūto taccho anatthasaṁhito, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo saraṇo. Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ rahovādo bhūto taccho atthasaṁhito, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo araṇo.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói bí mật nào không thật, hư vọng, không liên hệ mục đích, pháp này là pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói bí mật nào là chân thật, không hư vọng, không liên hệ mục đích, pháp này là pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói bí mật nào là chân thật, không hư vọng, có liên hệ mục đích, pháp này là pháp không đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.
Pāḷi: mn139:13.28–13.36 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)13–15. Lời mất lòng trước mặt
Cùng ba trường hợp như lời sau lưng: không thật, vô ích — hữu tránh; thật mà vô ích — hữu tránh; thật và có ích — vô tránh.
Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ sammukhā khīṇavādo abhūto ataccho anatthasaṁhito, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo saraṇo. Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ sammukhā khīṇavādo bhūto taccho anatthasaṁhito, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo saraṇo. Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ sammukhā khīṇavādo bhūto taccho atthasaṁhito, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo araṇo.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói mất lòng nào, mặt đối mặt (với ai), không chân thật, hư vọng, không liên hệ mục đích, pháp này là pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói mất lòng nào, mặt đối mặt (với ai) là chân thật, không hư vọng, không liên hệ mục đích, pháp này là pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói mất lòng nào, mặt đối mặt (với ai) là chân thật, không hư vọng, liên hệ mục đích, pháp này là pháp không đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.
Pāḷi: mn139:13.37–13.45 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)16–17. Nói vội và nói từ từ
Lời nói vội vàng — hữu tránh; lời nói thong thả — vô tránh.
Tatra, bhikkhave, yamidaṁ taramānassa bhāsitaṁ, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo saraṇo. Tatra, bhikkhave, yamidaṁ ataramānassa bhāsitaṁ, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo araṇo.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói nào được nói lên một cách vội vàng, pháp này có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói nào được nói lên một cách từ từ, pháp này không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.
Pāḷi: mn139:13.46–13.51 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)18–19. Chấp và không chấp tiếng địa phương
Chấp trước tiếng địa phương, vượt quá cách gọi thông thường — hữu tránh; không chấp, không vượt — vô tránh.
Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ janapadaniruttiyā ca abhiniveso samaññāya ca atisāro, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo saraṇo. Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ janapadaniruttiyā ca anabhiniveso samaññāya ca anatisāro, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā. Tasmā eso dhammo araṇo.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, chấp trước địa phương ngữ và đi quá xa ngôn ngữ thường dùng, pháp này là pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, không chấp trước địa phương ngữ và không đi quá xa ngôn ngữ thường dùng, pháp này là pháp không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.
Pāḷi: mn139:13.52–13.57 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)Bảng tổng hợp 19 pháp
| # | Pháp | Nhãn | Thuộc đề mục |
|---|---|---|---|
| 1 | Đam mê dục lạc | hữu tránh | 1 |
| 2 | Không đam mê dục lạc | vô tránh | 1 |
| 3 | Đam mê khổ hạnh | hữu tránh | 1 |
| 4 | Không đam mê khổ hạnh | vô tránh | 1 |
| 5 | Trung đạo | vô tránh | 2 |
| 6 | Tán thán, chỉ trích mà không thuyết pháp | hữu tránh | 3 |
| 7 | Không tán thán, không chỉ trích, chỉ thuyết pháp | vô tránh | 3 |
| 8 | Dục lạc (uế lạc, phàm phu lạc, phi Thánh lạc) | hữu tránh | 4 |
| 9 | Xuất ly lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, giác ngộ lạc | vô tránh | 4 |
| 10 | Lời sau lưng không thật, vô ích | hữu tránh | 5 |
| 11 | Lời sau lưng thật nhưng vô ích | hữu tránh | 5 |
| 12 | Lời sau lưng thật, có ích | vô tránh | 5 |
| 13 | Lời mất lòng trước mặt không thật, vô ích | hữu tránh | 5 |
| 14 | Lời mất lòng trước mặt thật nhưng vô ích | hữu tránh | 5 |
| 15 | Lời mất lòng trước mặt thật, có ích | vô tránh | 5 |
| 16 | Nói vội vàng | hữu tránh | 6 |
| 17 | Nói thong thả | vô tránh | 6 |
| 18 | Chấp tiếng địa phương, vượt cách gọi thông thường | hữu tránh | 7 |
| 19 | Không chấp, không vượt | vô tránh | 7 |
Học biết hai loại pháp và gương Subhūti
Đức Phật kết bằng một lời dạy tu học gồm ba bước: biết pháp hữu tránh, biết pháp vô tránh, rồi hành trì con đường vô tránh (araṇapaṭipadā). Ngài nêu đích danh một người đang đi con đường ấy: thiện gia nam tử (kulaputta) Subhūti. Theo Chú giải, chính nhờ “nhóm bốn” (catukka) trong phần khen chê này mà Tôn giả Subhūti được Đức Phật xếp đứng đầu những vị sống vô tránh (araṇavihārīnaṁ): khi Đức Phật hay các trưởng lão như Sāriputta thuyết pháp, người nghe vẫn thấy có khen có chê; còn pháp thoại của Subhūti không bao giờ có câu “người này thực hành sai” hay “người này có giới, có đức”, mà chỉ có “đây là tà đạo, đây là chánh đạo” (Ps V 31). Chú giải còn ghi ngài được đứng đầu ở một phương diện nữa — xứng đáng thọ nhận cúng dường (dakkhiṇeyyānaṁ) — và kể rằng khi đi khất thực, đứng trước cửa nhà người, ngài nhập thiền tâm từ (mettājhāna) rồi mới nhận phẩm vật, như Tôn giả Sāriputta nhập diệt tận định (Ps V 32). Bản Việt ghi “đã hành trì vô tránh pháp”; Pāḷi araṇapaṭipadaṁ paṭipanno là “đang đi con đường vô tránh” — chữ “đạo” ở câu trên cũng là chữ paṭipadā này.
Tasmātiha, bhikkhave, ‘saraṇañca dhammaṁ jānissāma, araṇañca dhammaṁ jānissāma; saraṇañca dhammaṁ ñatvā araṇañca dhammaṁ ñatvā araṇapaṭipadaṁ paṭipajjissāmā’ti evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ. Subhūti ca pana, bhikkhave, kulaputto araṇapaṭipadaṁ paṭipanno”ti.
Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông phải tự tu học như sau: “Chúng ta sẽ biết hữu tránh pháp và chúng ta sẽ biết vô tránh pháp. Sau khi biết hữu tránh pháp và sau khi biết vô tránh pháp, chúng ta sẽ hành trì vô tránh đạo”. Và này các Tỷ-kheo, Thiện gia nam tử Subhūti (Tu-bồ-đề) đã hành trì vô tránh pháp.
Pāḷi: mn139:14.1–14.3 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)Kết kinh
Kinh khép lại bằng công thức quen thuộc: Thế Tôn thuyết giảng như vậy, chư Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ. Dòng cuối của bản Pāḷi — tên kinh và số thứ tự “thứ chín” — bản Việt không dịch.
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti. Araṇavibhaṅgasuttaṁ niṭṭhitaṁ navamaṁ.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Pāḷi: mn139:14.4–14.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn139/vi/minh_chau)Giải thích
1. “Vô tránh” không phải là im lặng. Đọc qua tên kinh, dễ tưởng “không tranh chấp” là né mọi chuyện khó nói. Kinh nói ngược lại: lời thật và có ích thì vẫn nói, kể cả lời làm mất lòng người ngay trước mặt — chỉ cần “biết thời”. Thứ bị gọi là “hữu tránh” là lời không thật, lời vô ích, lời vội vàng, lời khăng khăng một cách gọi; và cả thói quen đem người ra mà khen chê. Chữ araṇa — theo Chú giải là “không bụi, không nhiễm ô” — cho thấy gốc của tranh chấp nằm ở phiền não trong lời nói và cách sống của chính mình, trước khi thành chuyện cãi nhau với ai.
2. Chỉ ra pháp, không chỉ mặt người. Đề mục 3 là chỗ tinh tế nhất. Kinh không bác nội dung của câu “những ai đam mê dục lạc đều có khổ, thuộc tà đạo”; điều kinh xếp vào loại hữu tránh là cách nói ấy — khen chê mà không thuyết pháp. Người viết hiểu: câu ấy đặt con người vào chỗ bị phán xét, chia người nghe thành phe được khen và phe bị chê. Cũng sự thật ấy, nói thành “sự đam mê là một pháp có khổ, thuộc tà đạo”, thì không chỉ vào ai: ai đang đam mê tự soi mà thấy, không ai bị dồn vào thế phải tự vệ. Ngay cả với chuyện giải thoát — “những ai đã đoạn hữu kiết sử đều không còn khổ” — Đức Phật cũng chuyển thành một quy luật: “hữu kiết sử được đoạn thì hữu được đoạn”. Chú giải lấy chính lối thuyết pháp này để giải thích vì sao Tôn giả Subhūti được tôn là bậc đứng đầu về hạnh vô tránh.
3. Không phải mọi lạc đều đáng sợ. Kinh không dạy diệt bỏ mọi niềm vui. Lạc từ năm dục thì “nên sợ”, vì nó kéo theo khổ, phiền lao, ưu não, nhiệt não; nhưng lạc của bốn thiền — gọi bằng những tên đẹp như xuất ly lạc, giác ngộ lạc — thì “không nên sợ”, “nên làm cho sung mãn”. Đặt cạnh đề mục 1, ta thấy Trung đạo không phải là khổ hạnh ôn hoà hơn: nó loại khổ hạnh như một cực đoan, đồng thời mở cửa cho một loại lạc khác — lạc bên trong.
4. Ba câu hỏi trước khi nói. Đề mục 5 cho một bảng soát rất gọn: lời này có thật không? có ích không? đã đúng lúc chưa? Lời thật mà vô ích cũng phải “tập đừng nói”. Kinh Vương Tử Vô Úy (MN58) nói về cách Như Lai nói năng theo cùng ba tiêu chuẩn ấy, thêm một vế “người khác ưa hay không ưa” — đọc hai kinh cạnh nhau sẽ thấy cùng một nguyên tắc chánh ngữ.
5. Một cái bát, bảy cái tên. Ví dụ ở đề mục 7 nghe như chuyện vặt, nhưng câu người chấp nói ra — “chỉ như vậy là sự thật, ngoài ra là hư vọng” (idameva saccaṁ, moghamaññaṁ) — cùng với cụm “khăng khăng, bám chặt” đi trước nó, cũng chính là công thức kinh dùng để tả người chấp kiến, chẳng hạn trong Đại Kinh Nghiệp Phân Biệt (MN136). Từ chuyện cái bát đến chuyện quan điểm, cơ chế giống nhau: lấy cái quen của mình làm chân lý duy nhất. Người không chấp vẫn biết đó là cái bát, chỉ không biến tên gọi thành chỗ đứng để cãi.
6. Ứng dụng. Khi muốn góp ý: nói về việc làm, đừng dán nhãn con người. Trước khi kể chuyện người vắng mặt: hỏi ba câu thật – có ích – đúng lúc. Khi tranh luận: nói chậm lại. Khi gặp người gọi khác mình — khác vùng, khác truyền thống, khác thuật ngữ — thì trước hết hỏi “họ muốn chỉ điều gì”, rồi gọi theo cách người nghe hiểu.
Đối chiếu các tạng
Theo danh mục tương đương của SuttaCentral (API parallels, tra ngày 21/10/2026), MN139 có hai bản song song “đầy đủ”: Hán tạng MA169 (拘樓瘦無諍, T26, tr. 701b–703c) và một mảnh Sanskrit (SC ghi SHT Sutta 13, SHT 163a). SuttaCentral còn ghép thêm ba kinh ở cấp từng đoạn (không phải cả kinh): đoạn năm dục trưởng dưỡng (§9.1) giống MN13 (Mahādukkhakkhandhasutta) và MN14 (Cūḷadukkhakkhandhasutta); đoạn từ §13.22 (dục lạc và bốn tên của lạc xuất ly: xuất ly lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, giác ngộ lạc) giống MN122 (Mahāsuññatasutta), nơi bốn tên lạc ấy cũng được kê. Những kinh này không phải bản song song của MN139 — chúng chỉ dùng chung một đoạn văn. Theo Anālayo, kinh còn được trích trong chú giải Abhidharmakośabhāṣya của Śamathadeva (bản Tây Tạng) và trong Vyākhyāyukti. Bài này chỉ đối chiếu chi tiết với MA169; mảnh Sanskrit và các trích dẫn kia chưa đối chiếu bản gốc.
MA169 là tương đương đầy đủ: cùng tên chủ đề (trong kinh Đức Phật gọi là 分別無諍經, “kinh Phân biệt vô tránh”), cùng lối “tổng thuyết rồi giải rộng”, cùng các đề mục hai cực đoan, Trung đạo, khen chê – thuyết pháp, hai loại lạc, lời nói, cách nói, tiếng địa phương, cùng phần tổng kết hữu tránh – vô tránh và cùng nêu Subhūti (Tu-bồ-đề) ở cuối. Không có bản trùng tên nào cần loại.
| Điểm | MN139 (Pāḷi) | MA169 (Hán) |
|---|---|---|
| Tên kinh | Araṇavibhaṅga, “phân tích về vô tránh” | 拘樓瘦無諍經 Câu-lâu-sấu vô tránh kinh — “kinh vô tránh nói ở xứ Câu-lâu” |
| Nơi chốn | Sāvatthī, rừng Kỳ-đà, tinh xá Cấp Cô Độc | Bà-kì-sấu (婆奇瘦), Kiếm-ma-sắt-đàm, một đô ấp của xứ Câu-lâu (Kuru) |
| Lời báo giảng | “Ta sẽ giảng Vô tránh phân biệt” | thêm công thức “pháp vi diệu ở đầu, giữa, cuối, có nghĩa có văn…” |
| Dục lạc | 5 chữ: hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích | “nghiệp vô cùng hèn hạ, hành vi của phàm phu” |
| Trung đạo | 6 công năng; kê đủ 8 chi | “tác thành con mắt, trí tự tại, định…”; “từ chánh kiến cho đến chánh định” |
| Ai bị khen chê | người khác: “chỉ trích (tán thán) một số người” | bản Việt Tuệ Sỹ dịch 自譏, 自稱 là “tự chỉ trích mình”, “tự tán thán”; nhưng câu được nói ra vẫn là “họ thảy đều” (彼一切) có khổ… như bản Pāḷi, và Anālayo (tr. 794) hiểu đoạn này là chê người khác — nên chưa chắc bản Hán khác bản Pāḷi ở điểm này (chưa đối chiếu thêm) |
| Lý do kèm theo | không có | dục là vô thường, khổ, hoại diệt; Sa-môn sợ khổ mà xuất gia, rồi lại ôm khổ |
| Các câu khen chê | 3 đề tài × 2 = 6 câu | dục lạc, khổ hạnh (chỉ vế chê), kết sử chưa đoạn / đã đoạn, không cầu / cầu nội lạc = 6 câu |
| Dục lạc ở đề mục 4 | uế lạc (mīḷhasukha), phàm phu lạc, phi Thánh lạc | “gốc của bệnh, gốc của ung nhọt, gốc của mũi tên, có thức ăn, thuộc sanh tử”; không có chữ tương đương mīḷha |
| Thiền | kể bốn thiền | “cho đến chứng Tứ thiền” |
| Đề mục lời nói | lời sau lưng + lời mất lòng trước mặt; 3 trường hợp cho mỗi loại | “lời ám chỉ” (相導說) + “đừng đối mặt khen ngợi” (面前稱譽); chỉ xét 3 trường hợp cho lời ám chỉ; lời có ích thì “biết thời, chánh trí, chánh niệm” |
| Cách nói | không vội; 5 hậu quả (thân, tâm, tiếng, cổ, lời khó hiểu) | “nói vừa phải, đừng quá giới hạn” (齊限說); thân phiền nhọc, niệm hay quên, tâm mệt, tiếng hư, hướng trí không tự tại |
| Tên cái bát | 7 tên | 5 tên (甌, 杅, 椀, 器 và một chữ Hán ghép hiếm); “đừng nói thị, đừng nói phi” |
| Tổng kết | 19 pháp (10 hữu tránh, 9 vô tránh); có cặp khen chê, không có cặp hữu kiết sử | 16 pháp trong bản Hán (9 hữu tránh, 7 vô tránh — đếm trong bài này); có cặp kết sử và cặp nội lạc, không có cặp khen chê; không có vế “không đam mê dục lạc / khổ hạnh” |
| Kết | Subhūti đang đi con đường vô tránh; Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ | Tu-bồ-đề “do đạo vô tránh mà về sau biết được pháp như pháp”; thêm bài kệ “Biết pháp Như chơn thật… Thực hành chơn không này” (此行真實空); “hoan hỷ phụng hành” |
Vài điểm thêm theo Anālayo, A Comparative Study of the Majjhima-nikāya, vol. 2, tr. 793–797 (thứ cấp, chưa đối chiếu bản gốc ngoài MA169):
- Nơi chốn. Anālayo ghi xứ Bhagga (婆奇瘦) ở phía đông Sāvatthī còn xứ Kuru ở phía tây, nên MA169 “dường như đã gộp hai địa danh làm một” (tr. 793, chú thích 173).
- Lời trước mặt. Vế “đừng đối mặt khen ngợi” của bản Hán là “ngược hẳn” với bản Pāḷi (bản Pāḷi nói lời gay gắt trước mặt, không nói lời khen) (tr. 795, chú thích 184).
- Phần tổng kết của hai bản đều không đủ. MN139 bỏ đề tài hữu kiết sử dù đã giảng ở trên; MA169 bỏ đề tài khen chê dù cũng đã giảng (tr. 796, chú thích 189).
- Bản đọc khác. Ở một chỗ, ấn bản PTS và bản Tích Lan đọc “kiết sử của phi hữu (vibhavasaṁyojana) đã đoạn”, trong khi bản Miến, bản Thái và MA169 đều đọc “hữu kiết sử” (tr. 794, chú thích 180).
- Ví dụ thêm. Mảnh Sanskrit và đoạn trích trong chú giải của Śamathadeva, ngoài các tên cái bát, còn kê thêm nhiều từ cùng chỉ “con người” để minh hoạ sự khác nhau của ngôn ngữ (tr. 796, chú thích 188).
Tóm lại, khung giáo lý trùng khớp giữa hai bản; khác nhau ở nơi chốn, ở đề tài khen chê thứ tư của bản Hán (cầu hay không cầu nội lạc), ở đề mục lời nói (bản Hán: khen ngợi trước mặt), ở số tên cái bát, ở danh sách pháp trong phần tổng kết, và ở bài kệ về Tu-bồ-đề của bản Hán. Theo cước chú của HT. Tuệ Sỹ (Trung A-hàm, tập III, tr. ~465–466), chữ “nghiệp” trong “nghiệp vô cùng hèn hạ” là do bản Hán đọc gamma (đê tiện) thành kamma (nghiệp) (chú thích 5); “lời ám chỉ” tương đương rahovāda (chú thích 10); “nói vừa phải” tương đương ataramāno bhāseyya (chú thích 11).
Tra cứu trong bài
- Nhân vật: Đức Phật · Tôn giả Subhūti (Tu-bồ-đề) · Tôn giả Sāriputta · Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc)
- Địa danh: Sāvatthī (Xá-vệ) · Kỳ-đà-lâm (Jetavana) · Kuru (Câu-lâu)
- Thuật ngữ: Vô tránh (araṇa) · Trung đạo · Bát chánh đạo · Thiền (jhāna)
- Dịch giả: HT. Thích Minh Châu · HT. Tuệ Sỹ
Nguồn tham khảo
- Pāḷi (Mahāsaṅgīti): MN 139 — SuttaCentral
- Việt — HT. Thích Minh Châu dịch (Bình Anson hiệu đính): mn139/vi/minh_chau — SuttaCentral
- English — Bhikkhu Sujato, The Analysis of No Strife: mn139/en/sujato — SuttaCentral
- Danh mục kinh tương đương: MN 139 — SuttaCentral (API parallels, tra ngày 21/10/2026)
- Hán tạng tương đương — Trung A-hàm 169, T26, tr. 701b–703c: ma169/lzh/taisho — SuttaCentral · bản Việt HT. Tuệ Sỹ: ma169/vi/tue_sy — SuttaCentral · bài trên site: MA169 - Kinh Câu-lâu-sấu Vô Tránh (đăng cùng đợt)
- Chú giải: Papañcasūdanī (Majjhimanikāya-aṭṭhakathā), Araṇavibhaṅgasuttavaṇṇanā — số trang “Ps V 30–33” theo bản PTS (mốc trang ghi trong bản Pāḷi VRI Chaṭṭha Saṅgāyana); bản Việt: Chú giải Trung Bộ Kinh (bản Thái–Việt), mục “Giải Thích Kinh Vô Tránh Phân Biệt” — sudhamma.net. Chú Giải Trung Bộ Kinh, bản Việt MN1–50: Chú Giải Trung Bộ Kinh (vietheravada.net) (bộ này chưa có MN139).
- Tuệ Sỹ (dịch, chú), Kinh Trung A-hàm, tập III, tr. ~465–474, cước chú kinh 169 (chú thích 5, 10, 11 dẫn ở mục Đối chiếu).
- Anālayo, A Comparative Study of the Majjhima-nikāya, vol. 2, tr. 793–797 (Dharma Drum, 2011) — thứ cấp.
📖 Nguồn / bản quyền: SuttaCentral — MN 139 (Araṇavibhaṅga Sutta), Pāḷi Mahāsaṅgīti + bản Việt HT. Thích Minh Châu