MN114 - Kinh Nên Hành Trì, Không Nên Hành Trì (Sevitabbāsevitabba Sutta)
Tóm tắt nhanh: Tại Kỳ-đà-lâm, thành Sāvatthī, Đức Phật báo sẽ giảng “pháp môn về điều nên hành trì và không nên hành trì” (sevitabbāsevitabba), rồi ba lần nói thật vắn tắt; cả ba lần, Tôn giả Sāriputta xin trình bày cách mình hiểu rộng. Lượt thứ nhất gồm bảy đề mục: thân hành, khẩu hành, ý hành, tâm sanh khởi, tưởng, kiến và cả một kiếp sống (attabhāva); lượt thứ hai là sáu cảnh do mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý nhận biết; lượt thứ ba là tám điều của đời sống: y, đồ ăn khất thực, chỗ ở, làng, thị trấn, đô thị, quốc độ và con người. Tất cả chỉ dùng một thước đo: điều gì khi theo mà các pháp bất thiện tăng, thiện giảm thì không nên theo; điều gì khi theo mà bất thiện giảm, thiện tăng thì nên theo. Sau mỗi lượt, Đức Phật tán thán “Lành thay” và nhắc lại trọn lời giảng của Sāriputta. Kinh kết: nếu mọi giai cấp — và cả thế gian cùng chư thiên — hiểu rộng được lời vắn tắt này, họ sẽ được lợi ích, an lạc lâu dài; Sāriputta hoan hỷ tín thọ.
🔗 Song tạng: SuttaCentral xếp bản Hán MA109 - Kinh Tự Quán Tâm (自觀心經), Trung A-hàm 109 vào hàng tương đương, nhưng MA109 chỉ trùng phần lượt giảng thứ ba (y, ăn uống, giường chõng, thôn ấp, con người), do chính Đức Phật nói, không có Sāriputta; phần chính của MA109 dạy Tỳ-kheo tự xét tâm mình đã được chỉ, được quán hay chưa — xem Đối chiếu.
Bối cảnh
Kinh được nói tại Kỳ-đà-lâm (Jetavana), tịnh xá do ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) dâng cúng gần thành Sāvatthī. Người nghe là các Tỷ-kheo; ngoài lời vâng đáp của chư Tỷ-kheo, người duy nhất lên tiếng bên cạnh Đức Phật là Tôn giả Sāriputta. Tên bài pháp do chính Đức Phật đặt ngay câu đầu: sevitabbāsevitabbaṁ dhammapariyāyaṁ — “pháp môn về điều nên hành trì, không nên hành trì”. Động từ gốc sevati nghĩa rộng: làm theo, dùng, lui tới, thân cận; vì vậy cùng một chữ dùng được cho việc làm, ý nghĩ, cái thấy, lẫn tấm y, ngôi làng hay một con người. Bản Việt dịch nhất quán là “hành trì”; Bhikkhu Sujato dịch cultivate. Đây là kinh thứ tư trong phẩm Anupada (MN111–120) — dòng cuối bản Pāḷi ghi “niṭṭhitaṁ catutthaṁ”.
Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “bhikkhavo”ti. “Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca: “sevitabbāsevitabbaṁ vo, bhikkhave, dhammapariyāyaṁ desessāmi. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti. “Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi , Jetavana , tại tịnh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Bạch Thế Tôn”. Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau: “Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông pháp môn về nên hành trì, không nên hành trì. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng”:: “Thưa vâng bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
Pāḷi: mn114:1.1–2.4 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn114/vi/minh_chau)Cả kinh đi theo một khung lớn lặp lại ba lượt: (1) Đức Phật nói vắn tắt một danh sách; (2) Sāriputta thưa “lời nói vắn tắt này, con hiểu rộng như sau” và giảng từng mục; (3) Sāriputta kết lại; (4) Đức Phật tán thán “Lành thay, lành thay”; (5) Ngài nhắc lại trọn lời giảng của Sāriputta (bản Pāḷi lược bằng “…pe…”); (6) Ngài kết “lời vắn tắt này cần được hiểu rộng như vậy”. Chỉ ở lượt thứ nhất Sāriputta mới mô tả cụ thể từng loại; hai lượt sau chỉ nêu thước đo.
Lời dạy vắn tắt thứ nhất: bảy đề mục
Đức Phật nêu bảy đề mục, mỗi đề mục “có hai loại: nên hành trì, không nên hành trì”: (1) thân hành (kāyasamācāra), (2) khẩu hành (vacīsamācāra), (3) ý hành (manosamācāra), (4) tâm sanh khởi (cittuppāda), (5) tưởng đắc — sự có được một loại tưởng (saññāpaṭilābha), (6) kiến đắc — sự có được một cái thấy (diṭṭhipaṭilābha), (7) ngã tánh đắc — sự có được một thân, một kiếp sống (attabhāvapaṭilābha). Ngài nói xong là dừng, không giải thích gì thêm. Theo Chú giải (đoạn 109), Thế Tôn “đặt đề mục bằng bảy câu” rồi kết thúc bài pháp mà không phân tích, “để tạo cơ hội cho Trưởng lão Sāriputta”; Phụ chú giải bảo hiểu việc “tạo cơ hội cho Sāriputta” theo cách đã giải ở Kinh Thừa Tự Pháp (MN3).
“Kāyasamācārampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampi; tañca aññamaññaṁ kāyasamācāraṁ. Vacīsamācārampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampi; tañca aññamaññaṁ vacīsamācāraṁ. Manosamācārampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampi; tañca aññamaññaṁ manosamācāraṁ. Cittuppādampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampi; tañca aññamaññaṁ cittuppādaṁ. Saññāpaṭilābhampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampi; tañca aññamaññaṁ saññāpaṭilābhaṁ. Diṭṭhipaṭilābhampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampi; tañca aññamaññaṁ diṭṭhipaṭilābhaṁ. Attabhāvapaṭilābhampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampi; tañca aññamaññaṁ attabhāvapaṭilābhan”ti.
—Này các Tỷ-kheo, Ta nói thân hành có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và đây là sự tương đối giữa thân hành”. Này các Tỷ-kheo, Ta nói khẩu hành cũng có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và đây là sự tương đối giữa khẩu hành”. Này các Tỷ-kheo, Ta nói ý hành cũng có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và đây là sự tương đối giữa ý hành”. Này các Tỷ-kheo, Ta nói tâm sanh cũng có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và đây là sự tương đối giữa tâm sanh”. Này các Tỷ-kheo, Ta nói tưởng đắc cũng có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và đây là sự tương đối giữa tưởng đắc”. Kiến đắc, này các Tỷ-kheo, Ta nói cũng có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và đây là sự tương đối giữa kiến đắc (ditthipatilabha)”. Ngã tánh đắc, này các Tỷ-kheo, Ta nói cũng có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và đây là sự tương đối giữa ngã tánh đắc”.
Pāḷi: mn114:3.1–3.21 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn114/vi/minh_chau)(Lưu ý bản dịch: cụm “và đây là sự tương đối giữa thân hành” dịch tañca aññamaññaṁ kāyasamācāraṁ. Chữ “tương đối” dễ khiến người đọc hiểu là “nên hay không tùy hoàn cảnh”. Chú giải (đoạn 109) giải ngược lại: Thế Tôn nói có loại thân hành nên làm và loại khác không nên làm; Ngài không hề nói một thân hành vốn nên làm, vì lý do nào đó, lại thành không nên làm, hay ngược lại. Phụ chú giải đọc aññamaññaṁ là aññaṁ aññaṁ — “cái này, cái kia”. Bhikkhu Sujato dịch “và mỗi loại ấy đều là một thân hành”; riêng ở mục thứ bảy, “cả hai đều là sự có được một kiếp sống”.)
Khuôn chung của bảy đề mục
Tôn giả Sāriputta xin trình bày cách mình hiểu rộng lời vắn tắt ấy. Mỗi đề mục được giảng theo cùng một khuôn sáu bước; khuôn trích một lần ở đây, lấy đề mục đầu (thân hành) làm mẫu:
- Nêu lại câu vắn tắt của Đức Phật: “Thân hành… có hai loại…” — “Thế Tôn đã nói như vậy”.
- Hỏi duyên: “Và do duyên gì lời nói ấy được nói lên?” (Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?)
- Thước đo: loại nào khi hành trì mà các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện thối giảm thì không nên hành trì; loại nào khi hành trì mà bất thiện thối giảm, thiện tăng trưởng thì nên hành trì.
- Mô tả vế xấu: ”… gì khi hành trì thời bất thiện pháp tăng trưởng?” — “Ở đây, có người…”.
- Mô tả vế tốt: ”… gì khi hành trì thời bất thiện pháp thối giảm?” — “Ở đây, có người…”.
- Kết: nêu lại câu vắn tắt — “Thế Tôn đã nói như vậy, và do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.”
Evaṁ vutte āyasmā sāriputto bhagavantaṁ etadavoca: “imassa kho ahaṁ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa, vitthārena atthaṁ avibhattassa, evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmi. ‘Kāyasamācārampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampi; tañca aññamaññaṁ kāyasamācāran’ti— iti kho panetaṁ vuttaṁ bhagavatā. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Yathārūpaṁ, bhante, kāyasamācāraṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti, evarūpo kāyasamācāro na sevitabbo; yathārūpañca kho, bhante, kāyasamācāraṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti, evarūpo kāyasamācāro sevitabbo.
Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Sāriputta bạch Thế Tôn
—Bạch Thế Tôn, lời nói này được Thế Tôn nói lên vắn tắt, không giải nghĩa rộng rãi, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như sau:
Thân hành, này các Tỷ-kheo, tôi nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa thân hành”. Thế Tôn đã nói như vậy. Và do duyên gì lời nói ấy được nói lên? Bạch Thế Tôn nếu một thân hành nào khi hành trì, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp thối giảm, thân hành như vậy không nên hành trì. Bạch Thế Tôn, và một thân hành nào khi hành trì thời bất thiện pháp thối giảm, thiện pháp tăng trưởng, thân hành như vậy nên hành trì.
Pāḷi: mn114:4.1–5.7 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn114/vi/minh_chau)(Chữ “tôi” trong câu “Thân hành, này các Tỷ-kheo, tôi nói có hai loại” là lời Đức Phật được Sāriputta dẫn lại — Pāḷi vadāmi, “Ta nói”.)
1. Thân hành: sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh — và từ bỏ ba việc ấy
Vế không nên hành trì gồm ba việc. Sát sanh được tả bằng bốn nét: tàn nhẫn (luddo), tay lấm máu (lohitapāṇi), chuyên đánh giết (hatappahate niviṭṭho), không có lòng thương (adayāpanno) đối với mọi loài. Lấy của không cho: tài vật của người khác, dù ở trong làng hay ngoài rừng, không được cho mà lấy với ý trộm cắp. Tà hạnh trong các dục: Pāḷi kê mười một hạng phụ nữ không được xâm phạm — người được mẹ, cha, cả mẹ cha, anh, chị, bà con, dòng họ (gottarakkhitā), hay pháp (dhammarakkhitā) che chở; người đã có chồng; người mà việc xâm phạm có hình phạt; và cả người “chỉ mới được choàng vòng hoa” (mālāguḷaparikkhittā). Vế nên hành trì là từ bỏ ba việc ấy, và từ bỏ sát sanh đi kèm phẩm chất tích cực: bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót mọi loài.
Kathaṁrūpaṁ, bhante, kāyasamācāraṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti? Idha, bhante, ekacco pāṇātipātī hoti luddo lohitapāṇi hatappahate niviṭṭho adayāpanno pāṇabhūtesu; adinnādāyī kho pana hoti, yaṁ taṁ parassa paravittūpakaraṇaṁ gāmagataṁ vā araññagataṁ vā taṁ adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādātā hoti; kāmesumicchācārī kho pana hoti, yā tā māturakkhitā piturakkhitā mātāpiturakkhitā bhāturakkhitā bhaginirakkhitā ñātirakkhitā gottarakkhitā dhammarakkhitā sassāmikā saparidaṇḍā antamaso mālāguḷaparikkhittāpi tathārūpāsu cārittaṁ āpajjitā hoti— evarūpaṁ, bhante, kāyasamācāraṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti. Kathaṁrūpaṁ, bhante, kāyasamācāraṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti? Idha, bhante, ekacco pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭivirato hoti nihitadaṇḍo nihitasattho, lajjī dayāpanno sabbapāṇabhūtahitānukampī viharati; adinnādānaṁ pahāya adinnādānā paṭivirato hoti, yaṁ taṁ parassa paravittūpakaraṇaṁ gāmagataṁ vā araññagataṁ vā taṁ nādinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādātā hoti; kāmesumicchācāraṁ pahāya kāmesumicchācārā paṭivirato hoti, yā tā māturakkhitā piturakkhitā mātāpiturakkhitā bhāturakkhitā bhaginirakkhitā ñātirakkhitā gottarakkhitā dhammarakkhitā sassāmikā saparidaṇḍā antamaso mālāguḷaparikkhittāpi tathārūpāsu na cārittaṁ āpajjitā hoti— evarūpaṁ, bhante, kāyasamācāraṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti. ‘Kāyasamācārampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampi; tañca aññamaññaṁ kāyasamācāran’ti— iti yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Bạch Thế Tôn, thân hành gì khi hành trì thời bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp thối giảm? Ở đây, bạch Thế Tôn, có người sát sanh, tàn nhẫn, tay lấm máu, tâm chuyên sát hại, đả thương, tâm không từ bi đối với các loại hữu tình. Người này lấy của không cho, bất cứ tài vật gì của người khác, hoặc tại thôn làng hoặc tại rừng núi, không cho người ấy, người ấy lấy trộm tài vật ấy. Người ấy sống tà hạnh trong các dục vọng, giao cấu các hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có anh che chở, có chị che chở, có bà con che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa. Thân hành như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm.
Bạch Thế Tôn, thân hành gì khi hành trì thời bất thiện pháp thối giảm, thiện pháp tăng trưởng?
Ở đây, bạch Thế Tôn, có người từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Người ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho; bất cứ tài vật gì của người khác, hoặc tại thôn làng, hoặc tại rừng núi, không cho người ấy, người ấy không lấy trộm tài vật ấy. Người ấy từ bỏ sống tà hạnh trong các dục vọng, không giao cấu với các hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có anh che chở, có chị che chở, có bà con che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa. Thân hành như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng.
Thân hành, này các Tỷ-kheo, tôi nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa thân hành”. Thế Tôn đã nói như vậy và do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.
Pāḷi: mn114:5.8–5.21 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn114/vi/minh_chau)(Lưu ý bản dịch: bản Việt chỉ kê tám hạng — có mẹ, cha, anh, chị, bà con che chở, đã có chồng, có hình phạt bảo vệ, được trang sức vòng hoa — sót ba hạng mātāpiturakkhitā “có cả mẹ cha che chở”, gottarakkhitā “có dòng họ che chở” và dhammarakkhitā “có pháp che chở”. Đoạn mô tả thân hành này gần như trùng từng chữ (chỉ khác lời xưng hô) với mười nghiệp đạo trong MN41 - Kinh Sāleyyaka.)
2. Khẩu hành: bốn lời bất thiện — và bốn lời đối lại
Vọng ngữ được đặt vào một cảnh cụ thể: bị dẫn ra làm chứng ở năm nơi — chỗ tập hội, chỗ chúng hội, giữa bà con, giữa phường hội, giữa vương tộc — được hỏi “hãy nói những gì ông biết”, thì nói bốn câu đảo ngược (không biết nói biết, biết nói không biết, không thấy nói thấy, thấy nói không thấy), vì ba lý do: vì mình, vì người, hay vì chút lợi nhỏ. Hai lưỡi: nghe bên này đem nói bên kia để chia rẽ, ưa thích chia rẽ. Ác khẩu: lời thô, cộc cằn, làm người đau, làm người giận, gần với phẫn nộ, không đưa đến định. Phù phiếm: nói phi thời, không thật, không lợi ích, phi pháp, phi luật, lời không đáng gìn giữ, lan man. Vế nên hành trì không chỉ là “không nói”: người ấy làm chứng đúng sự thật; hòa giải kẻ ly gián, nâng đỡ kẻ hòa hợp; nói lời có bảy phẩm chất — nhu hòa, êm tai, dễ thương, thấm vào lòng, tao nhã, nhiều người ưa, nhiều người vui; và nói đúng thời, chân thật, có ý nghĩa, đúng pháp, đúng luật, đáng gìn giữ, có mạch lạc, có giới hạn.
Kathaṁrūpaṁ, bhante, vacīsamācāraṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti? Idha, bhante, ekacco musāvādī hoti. Sabhāgato vā parisāgato vā ñātimajjhagato vā pūgamajjhagato vā rājakulamajjhagato vā abhinīto sakkhipuṭṭho: ‘ehambho purisa, yaṁ jānāsi taṁ vadehī’ti so ajānaṁ vā āha: ‘jānāmī’ti, jānaṁ vā āha: ‘na jānāmī’ti; apassaṁ vā āha: ‘passāmī’ti, passaṁ vā āha: ‘na passāmī’ti—iti attahetu vā parahetu vā āmisakiñcikkhahetu vā sampajānamusā bhāsitā hoti; pisuṇavāco kho pana hoti, ito sutvā amutra akkhātā imesaṁ bhedāya, amutra vā sutvā imesaṁ akkhātā amūsaṁ bhedāya—iti samaggānaṁ vā bhettā, bhinnānaṁ vā anuppadātā, vaggārāmo, vaggarato, vagganandī, vaggakaraṇiṁ vācaṁ bhāsitā hoti; pharusavāco kho pana hoti, yā sā vācā kaṇḍakā kakkasā pharusā parakaṭukā parābhisajjanī kodhasāmantā asamādhisaṁvattanikā, tathārūpiṁ vācaṁ bhāsitā hoti; samphappalāpī kho pana hoti akālavādī abhūtavādī anatthavādī adhammavādī avinayavādī, anidhānavatiṁ vācaṁ bhāsitā hoti akālena anapadesaṁ apariyantavatiṁ anatthasaṁhitaṁ— evarūpaṁ, bhante, vacīsamācāraṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti. Kathaṁrūpaṁ, bhante, vacīsamācāraṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti? Idha, bhante, ekacco musāvādaṁ pahāya musāvādā paṭivirato hoti sabhāgato vā parisāgato vā ñātimajjhagato vā pūgamajjhagato vā rājakulamajjhagato vā abhinīto sakkhipuṭṭho: ‘ehambho purisa, yaṁ jānāsi taṁ vadehī’ti so ajānaṁ vā āha: ‘na jānāmī’ti, jānaṁ vā āha: ‘jānāmī’ti, apassaṁ vā āha: ‘na passāmī’ti, passaṁ vā āha: ‘passāmī’ti—iti attahetu vā parahetu vā āmisakiñcikkhahetu vā na sampajānamusā bhāsitā hoti; pisuṇaṁ vācaṁ pahāya pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti, ito sutvā na amutra akkhātā imesaṁ bhedāya, amutra vā sutvā na imesaṁ akkhātā amūsaṁ bhedāya—iti bhinnānaṁ vā sandhātā sahitānaṁ vā anuppadātā samaggārāmo samaggarato samagganandī samaggakaraṇiṁ vācaṁ bhāsitā hoti; pharusaṁ vācaṁ pahāya pharusāya vācāya paṭivirato hoti, yā sā vācā nelā kaṇṇasukhā pemanīyā hadayaṅgamā porī bahujanakantā bahujanamanāpā tathārūpiṁ vācaṁ bhāsitā hoti; samphappalāpaṁ pahāya samphappalāpā paṭivirato hoti kālavādī bhūtavādī atthavādī dhammavādī vinayavādī, nidhānavatiṁ vācaṁ bhāsitā hoti kālena sāpadesaṁ pariyantavatiṁ atthasaṁhitaṁ— evarūpaṁ, bhante, vacīsamācāraṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti.
Bạch Thế Tôn, khẩu hành gì khi hành trì thời bất thiện pháp tăng trưởng, thiệp pháp thối giảm? Ở đây, bạch Thế Tôn, có người vọng ngữ, đến chỗ tập hội, hay đến chỗ chúng hội, hay đến giữa các thân tộc, hay đến giữa các tổ hợp, hay đến giữa vương tộc, khi bị dẫn xuất làm chứng và được hỏi: “Này Người kia, hãy nói những gì Ông biết”. Dầu cho người ấy không biết, người ấy nói: “Tôi biết”; dầu cho người ấy biết, người ấy nói: “Tôi không biết”; hay dầu cho người ấy không thấy, người ấy nói: “Tôi thấy”; hay dầu cho người ấy thấy, người ấy nói: “Tôi không thấy”. Như vậy, lời nói của người ấy trở thành cố ý vọng ngữ, hoặc vì nguyên nhân tự kỷ, hoặc vì nguyên nhân tha nhân, hoặc vì nguyên nhân một vài quyền lợi gì. Và người ấy là người nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia, đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy, người ấy ly gián những kẻ hòa hợp, hay xúi dục những kẻ ly gián, ưa thích phá hoại, vui thích phá hoại, thích thú phá hoại, nói những lời đưa đến phá hoại. Và người ấy là người nói lời thô ác. Bất cứ lời gì thô ác, tàn ác, khiến người đau khổ, khiến người tức giận, liên hệ đến phẫn nộ, không đưa đến Thiền định, người ấy nói những lời như vậy. Và người ấy nói những lời phù phiếm, nói phi thời, nói những lời phi chơn, nói những lời không lợi ích, nói những lời phi pháp, nói những lời phi luật, nói những lời không đáng gìn giữ. Vì nói phi thời nên lời nói không có thuận lý, không có mạch lạc, hệ thống, không có lợi ích. Khẩu hành như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm.
Bạch Thế Tôn, khẩu hành gì khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng? Ở đây, bạch Thế Tôn, có người từ bỏ vọng ngữ, tránh xa vọng ngữ, đến chỗ tập hội, hay đến chỗ chúng hội, hay đến giữa các thân tộc, hay đến giữa các tổ hợp, hay đến giữa vương tộc, khi bị dẫn xuất làm chứng và được hỏi: “Này người kia, hãy nói những gì Ông biết”. Nếu biết, người ấy nói: “Tôi biết ”; nếu không biết, người ấy nói: “Tôi không biết”; hay nếu không thấy, người ấy nói: “Tôi không thấy”; nếu thấy, người ấy nói: “Tôi thấy”. Như vậy lời nói của người ấy không trở thành cố ý vọng ngữ, hoặc vì nguyên nhân tự kỷ, hoặc vì nguyên nhân tha nhân, hoặc vì nguyên nhân một vài quyền lợi gì. Từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đi đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia; như vậy, người ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, tăng trưởng những kẻ hòa hợp, ưa thích hòa hợp, vui thích hòa hợp, thích thú hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Từ bỏ lời nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác; như vậy, người ấy nói những lời nói nhu hòa, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người. Từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm; người ấy nói đúng thời, nói những lời chơn thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh pháp, nói những lời về luật, nói những lời đáng được gìn giữ. Vì nói hợp thời, nên lời nói thuận lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi. Khẩu hành như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng.
Pāḷi: mn114:6.8–6.19 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn114/vi/minh_chau)3. Ý hành: tham và sân — tà kiến được tách ra
Ở mười nghiệp đạo quen thuộc, ý có ba việc: tham, sân, tà kiến. Ở đây ý hành chỉ có hai: tham của người — nghĩ “ôi, mong rằng của người ấy thành của ta”; và sân — mong “các chúng sinh này bị giết, bị tàn sát, bị tiêu diệt, bị làm hại, hay đừng còn tồn tại”. Vế nên hành trì là không tham và tâm không sân, mong: “các loài hữu tình này sống không thù hận, không oán thù, không nhiễu loạn, được an lạc, tự giữ gìn mình”. Chú giải (đoạn 113) nói rõ lý do: tà kiến và chánh kiến không được kể vào ý hành vì chúng đã đứng thành một đề mục riêng — mục thứ sáu, kiến đắc.
‘Manosamācārampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampi; tañca aññamaññaṁ manosamācāran’ti— iti kho panetaṁ vuttaṁ bhagavatā. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Yathārūpaṁ, bhante, manosamācāraṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti evarūpo manosamācāro na sevitabbo; yathārūpañca kho, bhante, manosamācāraṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti evarūpo manosamācāro sevitabbo. Kathaṁrūpaṁ, bhante, manosamācāraṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti? Idha, bhante, ekacco abhijjhālu hoti, yaṁ taṁ parassa paravittūpakaraṇaṁ taṁ abhijjhātā hoti: ‘aho vata yaṁ parassa taṁ mamassā’ti; byāpannacitto kho pana hoti paduṭṭhamanasaṅkappo: ‘ime sattā haññantu vā vajjhantu vā ucchijjantu vā vinassantu vā mā vā ahesun’ti— evarūpaṁ, bhante, manosamācāraṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti. Kathaṁrūpaṁ, bhante, manosamācāraṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti? Idha, bhante, ekacco anabhijjhālu hoti, yaṁ taṁ parassa paravittūpakaraṇaṁ taṁ nābhijjhātā hoti: ‘aho vata yaṁ parassa taṁ mamassā’ti; abyāpannacitto kho pana hoti appaduṭṭhamanasaṅkappo: ‘ime sattā averā abyābajjhā anīghā sukhī attānaṁ pariharantū’ti— evarūpaṁ, bhante, manosamācāraṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti. ‘Manosamācārampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampi; tañca aññamaññaṁ manosamācāran’ti— iti yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Ý hành, này các Tỷ-kheo, Tôi nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa khẩu hành”. Thế Tôn đã nói như vậy, và do duyên gì lời nói ấy được nói lên? Bạch Thế Tôn, một ý hành nào khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, khẩu hành như vậy không nên hành trì. Bạch Thế Tôn, và một ý hành nào khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, ý hành như vậy nên hành trì.
Ý hành gì, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp thối giảm? Ở đây, bạch Thế Tôn có người có tham ái, tham lam tài vật kẻ khác, nghĩ rằng: “Ôi, mong rằng mọi tài vật của người khác trở thành của mình!” Lại có người sân tâm, khởi lên hại ý, hại niệm như sau: “Mong rằng những loài hữu hình này bị giết, hay bị tàn sát, hay bị tiêu diệt hay bị làm hại, hay mong chúng không còn tồn tại”. Ý hành như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm.
Ý hành gì, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng? Ở đây có người không có tham ái, không tham lam tài vật của kẻ khác, nghĩ rằng: “Ôi, mong rằng mọi tài vật của người khác không trở thành của mình!” Lại có người không có sân tâm, không khởi lên hại ý, hại niệm, nhưng nghĩ rằng: “Mong rằng những loài hữu tình này sống không thù hận, không oán thù, không nhiễu loạn, được an lạc, lo nghĩ tự thân”. Ý hành như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng.
Ý hành, này các Tỷ-kheo, tôi nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa ý hành”. Thế Tôn đã nói như vậy, và do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.
Pāḷi: mn114:7.1–7.19 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn114/vi/minh_chau)(Lưu ý bản dịch: (a) Ở câu mở đầu, bản Việt hai lần ghi nhầm “khẩu hành” — “sự tương đối giữa khẩu hành” và “khẩu hành như vậy không nên hành trì”; Pāḷi ở cả hai chỗ là manosamācāra, “ý hành”. (b) Ở vế tốt, bản Việt viết người ấy nghĩ “Ôi, mong rằng mọi tài vật của người khác không trở thành của mình!”; Pāḷi taṁ nābhijjhātā hoti: ‘aho vata yaṁ parassa taṁ mamassā’ti nghĩa là người ấy không khởi lòng thèm muốn kiểu “ôi, mong của người thành của ta” — chữ “không” thuộc về việc thèm muốn, không phải nội dung một lời mong. (c) “Lo nghĩ tự thân” dịch attānaṁ pariharantu, sát nghĩa hơn là “tự giữ gìn mình”.)
4. Tâm sanh khởi: tham, sân, hại
Mục thứ tư không nói đến việc làm hay ý định trọn vẹn, mà nói đến tâm đang sống cùng một trạng thái: người có tham sống với tâm câu hữu với tham; có sân, sống với tâm câu hữu với sân; có ý hại (vihesā), sống với tâm câu hữu với hại. Vế nên hành trì: sống với tâm không tham, không sân, không hại. Chú giải (đoạn 114) phân biệt: tham v.v. ở mục này là những tâm “chưa đạt đến mức nghiệp đạo” — tức chưa đủ để thành một ý nghiệp trọn vẹn như ở mục ý hành. Phụ chú giải thêm: ở mục này không kể tà kiến, vì mục tâm sanh khởi không tính phần nghiệp đạo.
Kathaṁrūpaṁ, bhante, cittuppādaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti? Idha, bhante, ekacco abhijjhālu hoti, abhijjhāsahagatena cetasā viharati; byāpādavā hoti, byāpādasahagatena cetasā viharati; vihesavā hoti, vihesāsahagatena cetasā viharati— evarūpaṁ, bhante, cittuppādaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti. Kathaṁrūpaṁ, bhante, cittuppādaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti? Idha, bhante, ekacco anabhijjhālu hoti, anabhijjhāsahagatena cetasā viharati; abyāpādavā hoti, abyāpādasahagatena cetasā viharati; avihesavā hoti, avihesāsahagatena cetasā viharati— evarūpaṁ, bhante, cittuppādaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti.
Tâm sanh gì, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp thối giảm? Ở đây, bạch Thế Tôn, có người có tham dục, sống với tâm câu hữu với tham dục; người ấy sân hận và sống với tâm câu hữu với sân hận; người ấy có hại tâm và sống với tâm câu hữu với hại tâm. Tâm sanh như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp thối giảm.
Tâm sanh gì, bạch Thế Tôn, khi hành trì bất thiện pháp thối giảm, thiện pháp tăng trưởng? Ở đây, bạch Thế Tôn, có người không có tham dục; sống với tâm không câu hữu với tham dục; người ấy không có sân hận và sống với tâm không câu hữu với sân hận; người ấy không có hại tâm và sống với tâm không câu hữu với hại tâm. Tâm sanh như vậy, bạch Thế Tôn, nếu hành trì thời bất thiện pháp thối giảm, thiện pháp tăng trưởng.
Pāḷi: mn114:8.8–8.17 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn114/vi/minh_chau)5. Tưởng đắc: tưởng câu hữu với tham, sân, hại
Mục thứ năm lặp lại đúng ba trạng thái ấy nhưng ở tầng tưởng (saññā) — cách tâm nhận và ghi dấu đối tượng: sống với tưởng câu hữu với tham, với sân, với hại; vế tốt là tưởng không câu hữu với ba điều đó. Theo Chú giải (đoạn 115), các câu “tưởng câu hữu với tham” v.v. được nói ra để chỉ các loại tưởng như dục tưởng (kāmasaññā); Phụ chú giải nói chữ “v.v.” gồm cả sân tưởng, hại tưởng, và ở phía tốt là tưởng không tham, không sân, không hại. Xem thêm Tưởng (saññā).
Kathaṁrūpaṁ, bhante, saññāpaṭilābhaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti? Idha, bhante, ekacco abhijjhālu hoti, abhijjhāsahagatāya saññāya viharati; byāpādavā hoti, byāpādasahagatāya saññāya viharati; vihesavā hoti, vihesāsahagatāya saññāya viharati— evarūpaṁ, bhante, saññāpaṭilābhaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti. Kathaṁrūpaṁ, bhante, saññāpaṭilābhaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti? Idha, bhante, ekacco anabhijjhālu hoti, anabhijjhāsahagatāya saññāya viharati; abyāpādavā hoti, abyāpādasahagatāya saññāya viharati; avihesavā hoti, avihesāsahagatāya saññāya viharati— evarūpaṁ, bhante, saññāpaṭilābhaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti.
Tưởng đắc gì, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp thối giảm? Ở đây, bạch Thế Tôn, có người có tham dục sống với tưởng câu hữu với sân hận, người ấy có hại tâm và sống với tưởng câu hữu với hại tâm. Tưởng đắc như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp thối giảm.
Tưởng đắc gì, bạch Thế Tôn, khi hành trì, bất thiện pháp thối giảm, thiện pháp tăng trưởng? Ở đây, bạch Thế Tôn, có người không có tham dục, sống với tưởng không câu hữu với tham dục, người ấy không có sân hận và sống với tưởng không câu hữu với sân hận, người ấy không có hại tâm và sống với tưởng không câu hữu với hại tâm. Tưởng đắc như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời bất thiện pháp thối giảm, thiện pháp tăng trưởng.
Pāḷi: mn114:9.8–9.17 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn114/vi/minh_chau)(Lưu ý bản dịch: ở vế xấu, bản Việt viết “có người có tham dục sống với tưởng câu hữu với sân hận” — sót một đoạn. Pāḷi đủ ba vế: abhijjhālu hoti, abhijjhāsahagatāya saññāya viharati; byāpādavā hoti, byāpādasahagatāya saññāya viharati; vihesavā hoti… — “có tham, sống với tưởng câu hữu với tham; có sân, sống với tưởng câu hữu với sân; có hại, sống với tưởng câu hữu với hại”.)
6. Kiến đắc: tà kiến mười điều “không có” — chánh kiến mười điều “có”
Mục thứ sáu là cái thấy. Tà kiến gồm mười điều “không có”: không có bố thí, không có tế lễ, không có cúng dường; không có quả dị thục của nghiệp thiện ác; không có đời này, không có đời sau; không có mẹ, không có cha; không có loài hóa sanh; và trong đời không có Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh tự chứng rồi tuyên bố về đời này đời sau. Chánh kiến là mười điều “có” đối xứng từng điều. Đây là đúng cặp tà kiến – chánh kiến đã bị tách khỏi mục ý hành ở trên.
Kathaṁrūpaṁ, bhante, diṭṭhipaṭilābhaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti? Idha, bhante, ekacco evaṁdiṭṭhiko hoti: ‘natthi dinnaṁ, natthi yiṭṭhaṁ, natthi hutaṁ, natthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, natthi ayaṁ loko, natthi paro loko, natthi mātā, natthi pitā, natthi sattā opapātikā, natthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammāpaṭipannā ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti— evarūpaṁ, bhante, diṭṭhipaṭilābhaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti. Kathaṁrūpaṁ, bhante, diṭṭhipaṭilābhaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti? Idha, bhante, ekacco evaṁdiṭṭhiko hoti: ‘atthi dinnaṁ, atthi yiṭṭhaṁ, atthi hutaṁ, atthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, atthi ayaṁ loko, atthi paro loko, atthi mātā, atthi pitā, atthi sattā opapātikā, atthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammāpaṭipannā ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti— evarūpaṁ, bhante, diṭṭhipaṭilābhaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti.
Kiến đắc gì, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời bất thiện pháp tăng trưởng; thiện pháp thối giảm? Ở đây, bạch Thế Tôn có người có (tà) kiến như sau: “Không có bố thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả dị thục các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời khác, không có mẹ, không có cha, không có loại hóa sanh, ở đời không có những vị Sa-môn, những vị Bà-la-môn, chánh hướng, chánh hạnh đã tự mình với thượng trí chứng tri, chứng đạt và an trú đời này, đời khác và truyền dạy lại”. Kiến đắc như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì, các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm.
Kiến đắc gì, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng? Ở đây, bạch Thế Tôn, có người có (chánh) kiến như sau: “Có bố thí, có lễ hy sinh, có tế tự, có quả dị thục các nghiệp thiện ác, có đời này, có đời khác, có mẹ, có cha, có các loại hóa sanh, ở đời có những vị Sa-môn, Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh đã tự mình với thượng trí chứng tri, chứng đắc và an trú đời này, đời khác và truyền dạy lại”. Kiến đắc như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng.
Pāḷi: mn114:10.8–10.15 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn114/vi/minh_chau)7. Ngã tánh đắc: một kiếp sống “có khổ” hay “không khổ”
Mục cuối cùng rộng nhất: không phải một việc làm hay một ý nghĩ, mà là cả một thân, một kiếp sống người ta có được (attabhāvapaṭilābha). Chữ attabhāva ở đây chỉ sự hiện hữu cá nhân, không phải giáo lý về “ngã”. Sāriputta nói: người làm phát sinh một kiếp sống “có hại” (sabyābajjha), “vì sự không rốt ráo” (apariniṭṭhitabhāvāya), thì bất thiện tăng, thiện giảm; người làm phát sinh một kiếp sống “vô hại” (abyābajjha), “vì sự rốt ráo”, thì bất thiện giảm, thiện tăng. Kết mục này, Sāriputta thưa rằng lời vắn tắt của Thế Tôn, ông hiểu rộng như vậy.
‘Attabhāvapaṭilābhampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampi; tañca aññamaññaṁ attabhāvapaṭilābhan’ti— iti kho panetaṁ vuttaṁ bhagavatā. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Yathārūpaṁ, bhante, attabhāvapaṭilābhaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti— evarūpo attabhāvapaṭilābho na sevitabbo; yathārūpañca kho, bhante, attabhāvapaṭilābhaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti— evarūpo attabhāvapaṭilābho sevitabbo. Kathaṁrūpaṁ, bhante, attabhāvapaṭilābhaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti? Sabyābajjhaṁ, bhante, attabhāvapaṭilābhaṁ abhinibbattayato apariniṭṭhitabhāvāya akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti; abyābajjhaṁ, bhante, attabhāvapaṭilābhaṁ abhinibbattayato pariniṭṭhitabhāvāya akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti. ‘Attabhāvapaṭilābhampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampi; tañca aññamaññaṁ attabhāvapaṭilābhan’ti— iti yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā idametaṁ paṭicca vuttaṁ. Imassa kho ahaṁ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa, vitthārena atthaṁ avibhattassa, evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmī”ti.
Ngã tánh đắc, này các Tỷ-kheo, tôi nói cũng có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa ngã tánh đắc”. Thế Tôn đã nói như vậy, và do duyên gì lời nói ấy được nói lên? Ngã tánh đắc nào, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, ngã tánh đắc như vậy không nên hành trì. Ngã tánh đắc nào, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, ngã tánh đắc như vậy nên hành trì.
Ngã tánh đắc gì, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm? Ngã tánh đắc có hại, bạch Thế Tôn, vì sự không rốt ráo khi được sanh khởi, các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm.
Ngã tánh đắc gì, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng? Ngã tánh đắc vô hại, bạch Thế Tôn, vì sự rốt ráo khi được sanh khởi, các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng.
Ngã tánh đắc, này các Tỷ-kheo, tôi nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa ngã tánh đắc”. Thế Tôn đã nói như vậy, và do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên. Bạch Thế Tôn, lời nói mà được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không giải nghĩa rộng rãi, con được hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.
Pāḷi: mn114:11.1–12.1 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn114/vi/minh_chau)Câu kinh rất cô đọng, và Chú giải (đoạn 117) giải khá dài. Sabyābajjha là “có khổ” (sadukkha); “không rốt ráo” là các cõi hữu chưa được chấm dứt. Có bốn hạng người làm phát sinh một kiếp sống “có khổ”: phàm phu, Nhập lưu, Nhất lai, Bất lai — bất cứ ai không thể chấm dứt luân hồi ngay trong thân ấy. Ngay cả vị Bất lai sinh lên cõi Tịnh cư, nhìn vườn trời, cung điện, cây như ý mà thốt lên “ôi an lạc, ôi an lạc”, vẫn còn tham hữu, ái hữu chưa đoạn, nên vẫn được gọi là kiếp sống “có khổ”, hữu chưa chấm dứt. Ngược lại, kiếp sống “không khổ” cũng có bốn hạng — kể cả một phàm phu ở kiếp cuối cùng, sẽ chấm dứt luân hồi ngay trong thân ấy: Chú giải nêu ví dụ Ngài Aṅgulimāla, dù đã giết “một ngàn người thiếu một”, kiếp sống ấy vẫn được gọi là “vô hại”, vì từ đó chỉ có bất thiện giảm, và tuệ minh sát “thành thai” trong đó. (Phụ chú giải giải thích “bất thiện tăng” ở vế xấu là vì người ấy không thực hành để đoạn trừ chúng, nên thiện cũng giảm; và “có khổ” gồm cả khổ do phiền não lẫn khổ do quả dị thục.)
(Lưu ý bản dịch: bản Việt viết “Ngã tánh đắc có hại… vì sự không rốt ráo khi được sanh khởi”. Pāḷi sabyābajjhaṁ attabhāvapaṭilābhaṁ abhinibbattayato apariniṭṭhitabhāvāya — “đối với người làm phát sinh một kiếp sống có khổ, [dẫn] đến chỗ [các hữu] chưa được chấm dứt”; Sujato dịch hurtful incarnation not for the sake of the state of perfection. Cách hiểu “chưa chấm dứt các hữu” là của Chú giải.)
Bảng tổng hợp bảy đề mục
| # | Đề mục | Không nên hành trì (bất thiện tăng) | Nên hành trì (thiện tăng) |
|---|---|---|---|
| 1 | Thân hành kāyasamācāra | sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh (11 hạng phụ nữ) | từ bỏ ba việc; bỏ trượng kiếm, có lòng từ |
| 2 | Khẩu hành vacīsamācāra | vọng ngữ khi làm chứng, hai lưỡi, ác khẩu, phù phiếm | nói thật, hòa giải, lời dịu (7 phẩm chất), nói đúng thời |
| 3 | Ý hành manosamācāra | tham của người; sân, mong chúng sinh bị hại | không tham; mong chúng sinh an lạc |
| 4 | Tâm sanh cittuppāda | sống với tâm câu hữu tham, sân, hại | tâm không tham, không sân, không hại |
| 5 | Tưởng đắc saññāpaṭilābha | tưởng câu hữu tham, sân, hại | tưởng không tham, không sân, không hại |
| 6 | Kiến đắc diṭṭhipaṭilābha | tà kiến: 10 điều “không có” | chánh kiến: 10 điều “có” |
| 7 | Ngã tánh đắc attabhāvapaṭilābha | kiếp sống “có khổ”, hữu chưa chấm dứt | kiếp sống “không khổ”, hữu được chấm dứt |
Thế Tôn tán thán và nhắc lại lượt thứ nhất
Đức Phật xác nhận: “Lành thay, lành thay, này Sāriputta!” — rồi chính Ngài nhắc lại toàn bộ lời giảng, từng đề mục, chỉ đổi xưng hô: “bạch Thế Tôn” thành “này Sāriputta”, “Thế Tôn đã nói” thành “Ta đã nói”. Bản Pāḷi chép đủ đề mục thân hành (cả vế xấu lẫn vế tốt), lược năm đề mục giữa bằng “…pe…”, rồi chép lại đề mục ngã tánh đắc; bản Việt cũng chép đủ thân hành, ghi mở đầu khẩu hành rồi lược.
“Sādhu sādhu, sāriputta. Sādhu kho tvaṁ, sāriputta, imassa mayā saṅkhittena bhāsitassa, vitthārena atthaṁ avibhattassa, evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāsi. ‘Kāyasamācārampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampi; tañca aññamaññaṁ kāyasamācāran’ti— iti kho panetaṁ vuttaṁ mayā. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Yathārūpaṁ, sāriputta, kāyasamācāraṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti evarūpo kāyasamācāro na sevitabbo; yathārūpañca kho, sāriputta, kāyasamācāraṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti— evarūpo kāyasamācāro sevitabbo.
—Lành thay, lành thay, này Sāriputta ! Lành thay, này Sāriputta ! Lời nói này được Ta nói lên một cách vắn tắt, không giải nghĩa rộng rãi, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.
Thân hành, này các Tỷ-kheo, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa thân hành”. Ta đã nói như vậy và do duyên gì, lời nói ấy được nói lên? Thân hành nào, này Sariputtta, khi hành trì thời bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp thối giảm, thân hành như vậy không nên hành trì. Và thân hành nào, này Sariputtta, khi hành trì thời bất thiện pháp thối giảm, thiệp pháp tăng trưởng, thân hành như vậy nên hành trì.
Pāḷi: mn114:13.1–14.8 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn114/vi/minh_chau)Sau phần thân hành (§15–16, lặp đúng mô tả ba việc xấu và ba việc tốt ở mục 1, nay với “này Sāriputta”), bản kinh lược khẩu hành, ý hành, tâm sanh, tưởng đắc, kiến đắc, rồi đến ngã tánh đắc và câu kết của lượt thứ nhất: lời vắn tắt này “cần phải hiểu một cách rộng rãi như vậy”.
Vacīsamācārampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi …pe… manosamācārampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi …pe… cittuppādampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi …pe… saññāpaṭilābhampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi …pe… diṭṭhipaṭilābhampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi …pe….
Ý hành, … Tâm sanh, … Tưởng đắc, … Kiến đắc, … Ngã tánh đắc, …
Pāḷi: mn114:17-19.1–17-19.5 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn114/vi/minh_chau)‘Attabhāvapaṭilābhampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampi; tañca aññamaññaṁ attabhāvapaṭilābhan’ti— iti kho panetaṁ vuttaṁ mayā. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Yathārūpaṁ, sāriputta, attabhāvapaṭilābhaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti evarūpo attabhāvapaṭilābho na sevitabbo; yathārūpañca kho, sāriputta, attabhāvapaṭilābhaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti— evarūpo attabhāvapaṭilābho sevitabbo. Kathaṁrūpaṁ, sāriputta, attabhāvapaṭilābhaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti? Sabyābajjhaṁ, sāriputta, attabhāvapaṭilābhaṁ abhinibbattayato apariniṭṭhitabhāvāya akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti; abyābajjhaṁ, sāriputta, attabhāvapaṭilābhaṁ abhinibbattayato pariniṭṭhitabhāvāya akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti. ‘Attabhāvapaṭilābhampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampi; tañca aññamaññaṁ attabhāvapaṭilābhan’ti— iti yaṁ taṁ vuttaṁ mayā idametaṁ paṭicca vuttaṁ. Imassa kho, sāriputta, mayā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo.
Ngã tánh đắc, này các Tỷ-kheo, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa ngã tánh đắc”, Ta đã nói như vậy, và do duyên như vậy lời nói ấy được nói lên.
Này Sāriputta , lời nói này được Ta nói một cách vắn tắt, cần phải hiểu một cách rộng rãi như vậy.
Pāḷi: mn114:20.1–21.8 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn114/vi/minh_chau)Lời dạy vắn tắt thứ hai: sáu cảnh
Lượt thứ hai, Đức Phật quay sang sáu đối tượng của giác quan: sắc do mắt nhận biết, tiếng do tai, hương do mũi, vị do lưỡi, xúc do thân, pháp do ý — mỗi thứ “có hai loại: nên hành trì, không nên hành trì”. Khác với lượt thứ nhất, ở đây không có cụm “loại này, loại kia” (tañca aññamaññaṁ). Chú giải (đoạn 119) giải thích vì sao: cùng một cảnh sắc, nơi người này khởi tham, họ hoan hỷ, thưởng thức, rồi đi đến bất hạnh; nơi người kia tham không khởi, họ nhàm chán, ly tham, rồi đạt đến tịch tịnh. Vậy không thể chia sẵn sắc nào là “loại nên”, sắc nào là “loại không nên”; Chú giải nói cách hiểu này áp dụng cho tất cả các cảnh.
Cakkhuviññeyyaṁ rūpampāhaṁ, sāriputta, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampi; sotaviññeyyaṁ saddampāhaṁ, sāriputta, duvidhena vadāmi— sevitabbampi asevitabbampi; ghānaviññeyyaṁ gandhampāhaṁ, sāriputta, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampi; jivhāviññeyyaṁ rasampāhaṁ, sāriputta, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampi; kāyaviññeyyaṁ phoṭṭhabbampāhaṁ, sāriputta, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampi; manoviññeyyaṁ dhammampāhaṁ, sāriputta, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampī”ti.
Sắc do mắt nhận thức, này Sāriputta , Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Tiếng do tai nhận thức, này Sāriputta , Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Hương do mũi nhận thức, này Sāriputta , Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Vị do lưỡi nhận thức, này Sāriputta , Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Xúc do thân nhận thức, này Sāriputta , Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Pháp do ý nhận thức, này Sāriputta , Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”.
Pāḷi: mn114:22.1–22.12 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn114/vi/minh_chau)Khuôn chung của sáu cảnh
Sāriputta lại xin giảng rộng, và lần này khuôn ngắn hơn: chỉ có bốn bước — nêu lại câu vắn tắt; hỏi duyên; nêu thước đo (cảnh nào khi hành trì mà bất thiện tăng, thiện giảm thì không nên; ngược lại thì nên); kết. Không có phần “Ở đây, có người…” mô tả cụ thể như lượt thứ nhất. Khuôn trích một lần với cảnh đầu tiên là sắc.
Evaṁ vutte, āyasmā sāriputto bhagavantaṁ etadavoca: “imassa kho ahaṁ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa, vitthārena atthaṁ avibhattassa, evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmi. ‘Cakkhuviññeyyaṁ rūpampāhaṁ, sāriputta, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampī’ti— iti kho panetaṁ vuttaṁ bhagavatā. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Yathārūpaṁ, bhante, cakkhuviññeyyaṁ rūpaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti evarūpaṁ cakkhuviññeyyaṁ rūpaṁ na sevitabbaṁ; yathārūpañca kho, bhante, cakkhuviññeyyaṁ rūpaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti evarūpaṁ cakkhuviññeyyaṁ rūpaṁ sevitabbaṁ. ‘Cakkhuviññeyyaṁ rūpampāhaṁ, sāriputta, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampī’ti— iti yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Sāriputta bạch Thế Tôn
—Bạch Thế Tôn, lời nói này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không giải nghĩa rộng rãi, con được hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như sau:
“Sắc do mắt nhận thức, này Sāriputta , Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”.” Thế Tôn đã nói như vậy. Và do duyên gì lời nói ấy được nói lên?
Sắc nào do mắt nhận thức, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, sắc do mắt nhận thức như vậy không nên hành trì. Sắc nào do mắt nhận thức, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, sắc ấy do mắt nhận thức như vậy nên hành trì. “Sắc do mắt nhận thức, này Sāriputta , Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”.” Thế Tôn đã nói như vậy và do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.
Pāḷi: mn114:23.1–24.9 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn114/vi/minh_chau)
1. Sắc do mắt nhận thức
Cảnh đầu tiên chính là khung đã trích ở trên: sắc nào khi hành trì mà bất thiện tăng thì không nên, sắc nào khi hành trì mà thiện tăng thì nên. (Khung trích ở trên.)
2–5. Tiếng, hương, vị, xúc
Bốn cảnh giữa đi y khuôn, chỉ thay tên: tiếng do tai, hương do mũi, vị do lưỡi, xúc do thân. Bản Pāḷi chỉ giữ câu then chốt của từng cảnh (“loại tiếng do tai nhận thức như vậy không nên hành trì… nên hành trì…”); bản Việt chép đủ mỗi cảnh thành hai đoạn: đoạn nêu lại và đoạn thước đo.
Sotaviññeyyaṁ saddampāhaṁ, sāriputta …pe… evarūpo sotaviññeyyo saddo na sevitabbo … evarūpo sotaviññeyyo saddo sevitabbo … evarūpo ghānaviññeyyo gandho na sevitabbo … evarūpo ghānaviññeyyo gandho sevitabbo … evarūpo jivhāviññeyyo raso na sevitabbo … evarūpo jivhāviññeyyo raso sevitabbo … kāyaviññeyyaṁ phoṭṭhabbampāhaṁ, sāriputta … evarūpo kāyaviññeyyo phoṭṭhabbo na sevitabbo … evarūpo kāyaviññeyyo phoṭṭhabbo sevitabbo.
“Tiếng do tai nhận thức, này Sāriputta , Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”.” Thế Tôn đã nói như vậy. Và do duyên gì lời nói ấy được nói lên?
“Hương do mũi nhận thức, này Sāriputta , Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”.” Thế Tôn đã nói như vậy. Và do duyên gì lời nói ấy được nói lên?
“Vị do lưỡi nhận thức, này Sāriputta , Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”.” Thế Tôn đã nói như vậy. Và do duyên gì lời nói ấy được nói lên?
“Xúc do thân nhận thức, này Sāriputta , Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”.” Thế Tôn đã nói như vậy. Và do duyên gì lời nói ấy được nói lên?
Pāḷi: mn114:25.1–28.2 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn114/vi/minh_chau)6. Pháp do ý nhận thức — và lời kết của Sāriputta
Cảnh thứ sáu là pháp — đối tượng của ý: ý nghĩ, hình ảnh trong tâm, khái niệm. Thước đo vẫn y như vậy. Kết cảnh này, Sāriputta lại thưa đã hiểu rộng lời vắn tắt.
‘Manoviññeyyaṁ dhammampāhaṁ, sāriputta, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampī’ti— iti kho panetaṁ vuttaṁ bhagavatā. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Yathārūpaṁ, bhante, manoviññeyyaṁ dhammaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti evarūpo manoviññeyyo dhammo na sevitabbo; yathārūpañca kho, bhante, manoviññeyyaṁ dhammaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti evarūpo manoviññeyyo dhammo sevitabbo. ‘Manoviññeyyaṁ dhammampāhaṁ, sāriputta, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampī’ti— iti yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā idametaṁ paṭicca vuttaṁ. Imassa kho ahaṁ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa, vitthārena atthaṁ avibhattassa, evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmī”ti.
“Pháp do ý nhận thức, này Sāriputta , Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”.” Thế Tôn đã nói như vậy. Và do duyên gì lời nói ấy được nói lên?
Pháp nào do ý nhận thức, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, pháp do ý nhận thức như vậy không nên hành trì. Pháp nào do ý nhận thức, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, pháp do ý nhận thức như vậy nên hành trì. Pháp do ý nhận thức, này Sāriputta , Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”.” Thế Tôn đã nói như vậy và do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.
Bạch Thế Tôn, lời nói này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không giải nghĩa rộng rãi, con được hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.
Pāḷi: mn114:29.1–30.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn114/vi/minh_chau)Bảng tổng hợp sáu cảnh
| # | Cảnh (Pāḷi) | Do căn nào nhận biết | Thước đo |
|---|---|---|---|
| 1 | Sắc rūpa | mắt cakkhu | bất thiện tăng → không nên; thiện tăng → nên |
| 2 | Tiếng sadda | tai sota | như trên |
| 3 | Hương gandha | mũi ghāna | như trên |
| 4 | Vị rasa | lưỡi jivhā | như trên |
| 5 | Xúc phoṭṭhabba | thân kāya | như trên |
| 6 | Pháp dhamma | ý mano | như trên |
Thế Tôn tán thán và nhắc lại lượt thứ hai
Đức Phật lại tán thán và nhắc lại: bản Pāḷi chép đủ cảnh sắc, lược tiếng, hương, vị, xúc, rồi đến cảnh pháp và câu kết của lượt hai.
“Sādhu sādhu, sāriputta. Sādhu kho tvaṁ, sāriputta, imassa mayā saṅkhittena bhāsitassa, vitthārena atthaṁ avibhattassa, evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāsi. ‘Cakkhuviññeyyaṁ rūpampāhaṁ, sāriputta, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampī’ti— iti kho panetaṁ vuttaṁ mayā. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Yathārūpaṁ, sāriputta, cakkhuviññeyyaṁ rūpaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti evarūpaṁ cakkhuviññeyyaṁ rūpaṁ na sevitabbaṁ; yathārūpañca kho, sāriputta, cakkhuviññeyyaṁ rūpaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti evarūpaṁ cakkhuviññeyyaṁ rūpaṁ sevitabbaṁ. ‘Cakkhuviññeyyaṁ rūpampāhaṁ, sāriputta, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampī’ti— iti yaṁ taṁ vuttaṁ mayā idametaṁ paṭicca vuttaṁ. Sotaviññeyyaṁ saddampāhaṁ, sāriputta …pe… evarūpo sotaviññeyyo saddo na sevitabbo … evarūpo sotaviññeyyo saddo sevitabbo … evarūpo ghānaviññeyyo gandho na sevitabbo … evarūpo ghānaviññeyyo gandho sevitabbo … evarūpo jivhāviññeyyo raso na sevitabbo … evarūpo jivhāviññeyyo raso sevitabbo … evarūpo kāyaviññeyyo phoṭṭhabbo na sevitabbo … evarūpo kāyaviññeyyo phoṭṭhabbo sevitabbo. Manoviññeyyaṁ dhammampāhaṁ, sāriputta …pe… evarūpo manoviññeyyo dhammo na sevitabbo … evarūpo manoviññeyyo dhammo sevitabbo. ‘Manoviññeyyaṁ dhammampāhaṁ, sāriputta, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampī’ti— iti yaṁ taṁ vuttaṁ mayā idametaṁ paṭicca vuttaṁ. Imassa kho, sāriputta, mayā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo.
—Lành thay, lành thay, này Sāriputta ! Lành thay, này Sāriputta ! Lời nói này được Ta nói lên một cách vắn tắt, không giải nghĩa rộng rãi, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.
Sắc do mắt nhận thức, này Sāriputta , Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Lời nói như vậy được Ta nói lên. Và do duyên gì, lời nói ấy được nói lên? …
Tiếng do tai nhận thức, … Hương do mũi nhận thức, … Vị do lưỡi nhận thức, … Xúc do thân nhận thức, … Pháp do ý nhận thức, …
Pháp do ý nhận thức, này Sāriputta , Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Lời nói như vậy được Ta nói lên và do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.
Này Sāriputta , lời nói này được Ta nói lên một cách vắn tắt, ý nghĩa lời nói ấy cần được hiểu một cách rộng rãi như vậy.
Pāḷi: mn114:31.1–38.7 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn114/vi/minh_chau)Lời dạy vắn tắt thứ ba: tám điều của đời sống
Lượt thứ ba đi vào những thứ rất cụ thể của đời sống một vị Tỳ-kheo: (1) y (cīvara), (2) đồ ăn khất thực (piṇḍapāta), (3) sàng tọa — chỗ nằm ngồi, trú xứ (senāsana), (4) làng (gāma), (5) thị trấn (nigama), (6) đô thị (nagara), (7) quốc độ — xứ sở, vùng đất (janapada), (8) người (puggala). Mỗi điều cũng “có hai loại: nên hành trì, không nên hành trì”. Có thể hiểu “hành trì” ở đây theo từng thứ: với y, đồ ăn, chỗ ở là dùng; với làng, thị trấn, đô thị, xứ sở là lui tới, nương ở; với người là thân cận (bản Anh của Sujato cho AN 9.6 cũng dùng các động từ mặc, ăn, lui tới, thân cận).
Cīvaraṁpāhaṁ, sāriputta, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampi …pe… piṇḍapātaṁpāhaṁ, sāriputta … senāsanaṁpāhaṁ, sāriputta … gāmampāhaṁ, sāriputta … nigamampāhaṁ, sāriputta … nagarampāhaṁ, sāriputta … janapadampāhaṁ, sāriputta … puggalaṁpāhaṁ, sāriputta, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampī”ti.
Y, này Sāriputta , Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Ðồ ăn khất thực, này Sāriputta , Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Sàng tọa, này Sāriputta , Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Làng, này Sāriputta , Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Thị trấn, này Sāriputta , Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Ðô thị, này Sāriputta , Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Quốc độ, này Sāriputta , Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Người (Puggala), này Sāriputta , Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”.
Pāḷi: mn114:39.1–39.10 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn114/vi/minh_chau)Khuôn chung của tám điều
Sāriputta giảng rộng lần thứ ba theo đúng khuôn bốn bước của lượt hai: nêu lại, hỏi duyên, thước đo, kết — không mô tả y nào, làng nào, người nào cụ thể. Khuôn trích một lần với điều đầu tiên là y.
Evaṁ vutte, āyasmā sāriputto bhagavantaṁ etadavoca: “imassa kho ahaṁ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa, vitthārena atthaṁ avibhattassa, evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmi. ‘Cīvaraṁpāhaṁ, sāriputta, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampī’ti— iti kho panetaṁ vuttaṁ bhagavatā. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Yathārūpaṁ, bhante, cīvaraṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti evarūpaṁ cīvaraṁ na sevitabbaṁ; yathārūpañca kho, bhante, cīvaraṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti evarūpaṁ cīvaraṁ sevitabbaṁ. ‘Cīvaraṁpāhaṁ, sāriputta, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampī’ti— iti yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Sāriputta bạch Thế Tôn
—Bạch Thế Tôn, lời nói này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không giải nghĩa một cách rộng rãi, con được hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như sau:
“Y, này Sāriputta , Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”.’ Thế Tôn đã nói như vậy. Và do duyên gì, lời nói ấy được nói lên? Y nào, bạch Thế Tôn, khi hành trì, các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, y như vậy không nên hành trì. Y nào, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, y như vậy nên hành trì. “Y, này Sāriputta , Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”.’ Thế Tôn đã nói lên như vậy. Và do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.
Pāḷi: mn114:40.1–41.9 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn114/vi/minh_chau)1. Y
Y nào khi dùng mà bất thiện tăng, thiện giảm thì không nên dùng; y nào khi dùng mà bất thiện giảm, thiện tăng thì nên dùng. (Khung trích ở trên.)
2–7. Đồ ăn khất thực, sàng tọa, làng, thị trấn, đô thị, quốc độ
Sáu điều tiếp theo đi y khuôn; bản Pāḷi chỉ giữ câu then chốt “loại… như vậy không nên hành trì… nên hành trì”, bản Việt ghi câu mở và câu kết, lược phần giữa. Làng và thị trấn tách thành hai điều riêng; đô thị và quốc độ là hai điều mà bản Hán MA109 không có (xem Đối chiếu).
Piṇḍapātaṁpāhaṁ, sāriputta …pe… evarūpo piṇḍapāto na sevitabbo … evarūpo piṇḍapāto sevitabbo … senāsanaṁpāhaṁ, sāriputta …pe… evarūpaṁ senāsanaṁ na sevitabbaṁ … evarūpaṁ senāsanaṁ sevitabbaṁ … gāmampāhaṁ, sāriputta …pe… evarūpo gāmo na sevitabbo … evarūpo gāmo sevitabbo … evarūpo nigamo na sevitabbo … evarūpo nigamo sevitabbo … evarūpaṁ nagaraṁ na sevitabbaṁ … evarūpaṁ nagaraṁ sevitabbaṁ … evarūpo janapado na sevitabbo … evarūpo janapado sevitabbo.
“Ðồ ăn khất thực, này Sāriputta , Ta nói có hai loại … do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.
“Sàng tọa, này Sāriputta , Ta nói có hai loại … do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.
“Làng, này Sāriputta , Ta nói có hai loại … do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.
“Thị trấn, này Sāriputta , Ta nói có hai loại … do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.
“Ðô thị, này Sāriputta , Ta nói có hai loại … do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.
“Quốc độ, này Sāriputta , Ta nói có hai loại … do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.
Pāḷi: mn114:42.1–47.2 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn114/vi/minh_chau)8. Người — và lời kết của Sāriputta
Điều cuối cùng là con người: người nào khi thân cận mà bất thiện tăng, thiện giảm thì không nên thân cận; người nào khi thân cận mà bất thiện giảm, thiện tăng thì nên thân cận. Sāriputta kết lượt thứ ba.
‘Puggalaṁpāhaṁ, sāriputta, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampī’ti— iti kho panetaṁ vuttaṁ bhagavatā. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Yathārūpaṁ, bhante, puggalaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti evarūpo puggalo na sevitabbo; yathārūpañca kho, bhante, puggalaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti evarūpo puggalo sevitabbo. ‘Puggalaṁpāhaṁ, sāriputta, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampī’ti— iti yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā idametaṁ paṭicca vuttanti. Imassa kho ahaṁ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa, vitthārena atthaṁ avibhattassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmī”ti.
“Người, này Sāriputta , Ta nói có hai loại … do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.
Bạch Thế Tôn, lời nói này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không giải thích rộng rãi, con đã hiểu một cách rộng rãi như vậy.
Pāḷi: mn114:48.1–49.1 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn114/vi/minh_chau)Bảng tổng hợp tám điều
| # | Điều (Pāḷi) | “Hành trì” ở đây là | Có trong MA109? |
|---|---|---|---|
| 1 | Y cīvara | dùng, mặc | có (衣) |
| 2 | Đồ ăn khất thực piṇḍapāta | dùng, ăn | có (飲食) |
| 3 | Sàng tọa senāsana | dùng, ở | có (床榻) |
| 4 | Làng gāma | lui tới, nương ở | có (村) |
| 5 | Thị trấn nigama | lui tới, nương ở | có (邑) |
| 6 | Đô thị nagara | lui tới, nương ở | không |
| 7 | Quốc độ janapada | lui tới, nương ở | không |
| 8 | Người puggala | thân cận | có (人) |
Thế Tôn tán thán và nhắc lại lượt thứ ba
Lần thứ ba Đức Phật tán thán rồi nhắc lại. Bản Pāḷi chép đủ điều y, kèm một dòng trong ngoặc “(yathā paṭhamaṁ tathā vitthāretabbaṁ)” — “nên khai triển như lần đầu” (bản Việt không có dòng này), lược sáu điều giữa, chép lại điều người, rồi kết: lời vắn tắt này cần được hiểu rộng như vậy.
“Sādhu sādhu, sāriputta. Sādhu kho tvaṁ, sāriputta, imassa mayā saṅkhittena bhāsitassa, vitthārena atthaṁ avibhattassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāsi. ‘Cīvaraṁpāhaṁ, sāriputta, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampī’ti— iti kho panetaṁ vuttaṁ mayā. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Yathārūpaṁ, sāriputta, cīvaraṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti evarūpaṁ cīvaraṁ na sevitabbaṁ; yathārūpañca kho, sāriputta, cīvaraṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti evarūpaṁ cīvaraṁ sevitabbaṁ. ‘Cīvaraṁpāhaṁ, sāriputta, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampī’ti— iti yaṁ taṁ vuttaṁ mayā idametaṁ paṭicca vuttaṁ. (Yathā paṭhamaṁ tathā vitthāretabbaṁ) Evarūpo piṇḍapāto … evarūpaṁ senāsanaṁ … evarūpo gāmo … evarūpo nigamo … evarūpaṁ nagaraṁ … evarūpo janapado. ‘Puggalaṁpāhaṁ, sāriputta, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampī’ti— iti kho panetaṁ vuttaṁ mayā. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Yathārūpaṁ, sāriputta, puggalaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti evarūpo puggalo na sevitabbo; yathārūpañca kho, sāriputta, puggalaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti evarūpo puggalo sevitabbo. ‘Puggalaṁpāhaṁ, sāriputta, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampī’ti— iti yaṁ taṁ vuttaṁ mayā idametaṁ paṭicca vuttaṁ. Imassa kho, sāriputta, mayā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo.
—Lành thay, lành thay, này Sāriputta ! Lành thay, này Sāriputta ! Lời nói này được Ta nói lên vắn tắt, không giải thích rộng rãi, Ông đã hiểu một cách rộng rãi như vậy.
Y, này Sāriputta , Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Ta đã nói lên như vậy. Và do duyên gì, lời nói ấy được nói lên? Y nào, này Sāriputta , khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, y như vậy không nên hành trì. Y nào, này Sāriputta , khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, y như vậy nên hành trì. Y, này Sāriputta , Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Ta đã nói lên như vậy. Do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.
Ðồ ăn khất thực, này Sāriputta , Ta nói có hai loại … do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.
Sàng tọa, này Sāriputta , Ta nói có hai loại … do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.
Làng, này Sāriputta , Ta nói có hai loại … do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.
Thị trấn, này Sāriputta , Ta nói có hai loại … do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.
Ðô thị, này Sāriputta , Ta nói có hai loại … do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.
Quốc độ, này Sāriputta , Ta nói có hai loại … do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.
Người, này Sāriputta , Ta nói có hai loại … do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.
Này Sāriputta , lời nói này được Ta nói vắn tắt, ý nghĩa lời nói ấy cần được hiểu một cách rộng rãi như vậy.
Pāḷi: mn114:50.1–59.10 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn114/vi/minh_chau)Lợi ích lâu dài cho bốn giai cấp và cả thế gian
Kết bài pháp, Đức Phật nói với Sāriputta về tầm của lời dạy này: nếu tất cả các vị Sát-đế-lỵ (khattiya), tất cả Bà-la-môn (brāhmaṇa), tất cả Vessa (vessa — giới buôn bán, làm ruộng), tất cả Sudda (sudda — giới làm thuê) hiểu được ý nghĩa rộng của lời vắn tắt này như vậy, thì đó sẽ là lợi ích, an lạc lâu dài cho tất cả họ. Câu cuối cùng còn mở rộng hơn: nếu cả thế gian — cùng chư thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng các Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người — hiểu được như vậy, thì đó là lợi ích, an lạc lâu dài cho cả thế gian.
Sabbepi ce, sāriputta, khattiyā imassa mayā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājāneyyuṁ, sabbesānampissa khattiyānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya. Sabbepi ce, sāriputta, brāhmaṇā …pe… sabbepi ce, sāriputta, vessā … sabbepi ce, sāriputta, suddā imassa mayā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājāneyyuṁ, sabbesānampissa suddānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya. Sadevakopi ce, sāriputta, loko samārako sabrahmako sassamaṇabrāhmaṇī pajā sadevamanussā imassa mayā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājāneyya, sadevakassapissa lokassa samārakassa sabrahmakassa sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
Này Sāriputta , nếu tất cả những vị Sát đế lỵ, đối với lời nói này được Ta nói vắn tắt, có thể hiểu ý nghĩa lời nói ấy một cách rộng rãi như vậy, tất cả những vị ấy sẽ được hưởng hạnh phúc, an lạc lâu dài.
Này Sāriputta , nếu tất cả những vị Bà-la-môn. Nếu tất cả những vị Vessa … Này Sāriputta , nếu tất cả những vị Thủ đà (Sudda), đối với lời nói này được Ta nói vắn tắt, có thể hiểu ý nghĩa lời nói ấy một cách rộng rãi như vậy, tất cả những vị ấy sẽ được hưởng hạnh phúc, an lạc lâu dài.
Pāḷi: mn114:60.1–60.5 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn114/vi/minh_chau)(Lưu ý bản dịch: bản Việt dừng ở bốn giai cấp, không dịch câu cuối §60 về cả thế gian — Pāḷi sadevakopi ce, sāriputta, loko samārako sabrahmako sassamaṇabrāhmaṇī pajā sadevamanussā… dīgharattaṁ hitāya sukhāya — “nếu cả thế gian cùng chư thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng chúng sinh có Sa-môn, Bà-la-môn, trời và người… thì được lợi ích, an lạc lâu dài”. Ở câu Bà-la-môn và Vessa, Pāḷi cũng chỉ nêu tên rồi lược.)
Chú giải hỏi: ai là người “hiểu” lời dạy này? Người học thuộc cả Pāḷi lẫn Chú giải của kinh mà không làm theo, không đi con đường thuận ứng đã được dạy, thì gọi là không hiểu; người làm theo mới gọi là hiểu. Chú giải hỏi tiếp: lợi ích lâu dài cho người còn tái sinh thì dễ thấy, còn với người không còn tái sinh thì sao? Đáp: họ tịch diệt như ngọn lửa hết nhiên liệu; dù trăm ngàn đại kiếp trôi qua, khổ không còn khởi lại nơi họ — nên chính họ mới chắc chắn được lợi ích, an lạc lâu dài.
Kết kinh
Idamavoca bhagavā. Attamano āyasmā sāriputto bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti. Sevitabbāsevitabbasuttaṁ niṭṭhitaṁ catutthaṁ.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Sāriputta hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Pāḷi: mn114:61.1–61.3 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn114/vi/minh_chau)Người hoan hỷ tín thọ ở đây chỉ có một — Tôn giả Sāriputta, người đã giảng rộng cả ba lượt. Dòng cuối bản Pāḷi “Sevitabbāsevitabbasuttaṁ niṭṭhitaṁ catutthaṁ” — “Kinh Nên hành trì, không nên hành trì chấm dứt, là kinh thứ tư” (của phẩm Anupada) — bản Việt không dịch.
Giải thích
1. Một thước đo cho mọi thứ. Kinh không đưa ra danh sách “việc tốt, vật tốt, nơi tốt, người tốt” để thuộc lòng. Kinh chỉ đưa một câu hỏi, áp cho mọi tầng của đời sống: khi ta theo điều này, các pháp bất thiện trong ta tăng hay giảm, các pháp thiện tăng hay giảm? Câu hỏi ấy dùng được cho một lời nói, một ý nghĩ thoáng qua, một quan điểm, một tấm y, một bữa ăn, một chỗ ở, một vùng đất, một người bạn. Ai nắm được thước đo thì tự mở rộng được — như Sāriputta đã làm (còn vì sao Đức Phật dừng ở lời vắn tắt thì Chú giải, đoạn 109, nói là để tạo cơ hội cho Sāriputta; xem mục 5); và Ngài nói nếu bốn giai cấp, cả thế gian hiểu được như vậy thì đó là lợi ích, an lạc lâu dài.
2. Bảy đề mục: từ ngoài vào trong, rồi mở ra cả một kiếp sống. Có thể thấy lượt thứ nhất bắt đầu ở thân và lời — những gì người khác thấy và nghe được — rồi vào ý hành (ý định trọn vẹn), tâm sanh khởi (những tâm “chưa thành nghiệp đạo”, theo Chú giải đoạn 114), tưởng (cách tâm ghi nhận), kiến (cái thấy nền tảng), và cuối cùng là cả một kiếp sống. Mười nghiệp đạo của MN41 (xem Mười nghiệp đạo) được “trải” lại ở đây, nhưng tà kiến tách ra thành một đề mục riêng; và trước khi đến cái thấy, kinh chen thêm hai tầng mảnh hơn — tâm sanh và tưởng — nơi tham, sân, hại mới chỉ là trạng thái tâm (với mục tâm sanh, Chú giải đoạn 114 nói chúng chưa đạt đến mức nghiệp đạo).
3. “Loại này, loại kia” và “tùy người”. Ở lượt thứ nhất, Đức Phật nói tañca aññamaññaṁ — có loại thân hành nên làm và loại khác không nên làm; theo Chú giải (đoạn 109), sát sanh không bao giờ đổi thành “nên làm” vì một lý do nào đó. Ở lượt thứ hai và thứ ba, cụm ấy vắng mặt; Chú giải (đoạn 119) giải thích bằng cảnh sắc: cùng một sắc, người này sinh tham, người kia sinh nhàm chán. Có thể hiểu: việc ác vẫn là ác với mọi người, còn cảnh, vật dụng, nơi chốn, con người thì phải tự xét theo tác động của chúng lên chính tâm mình. (Chú giải chỉ bàn điều này ở phần sáu cảnh và nói “cách hiểu này áp dụng cho tất cả”; việc áp sang tám điều ở lượt ba là cách đọc của người viết, theo việc Pāḷi lượt ba cũng không có cụm tañca aññamaññaṁ.)
4. Một kiếp sống cũng có thể “nên” hay “không nên”. Mục ngã tánh đắc là chỗ khó nhất. Theo Chú giải (đoạn 117), thước đo ở đây không phải sung sướng hay khổ cực bề ngoài: vị Bất lai sống trong cung trời Tịnh cư mà còn ái hữu thì kiếp sống ấy vẫn “có khổ”, hữu chưa dứt; còn người từng phạm tội nặng như Aṅgulimāla, nếu là kiếp cuối và từ đó bất thiện chỉ giảm, thì kiếp sống ấy lại “không khổ”. Thước đo vẫn là chiều đi của thiện và bất thiện; và theo cách giải của Chú giải, đích của nó là chấm dứt các hữu — không còn tái sinh, tức Niết-bàn.
5. Thầy nói vắn, trò giảng rộng. Ba lần Đức Phật dừng ở danh sách, ba lần Sāriputta giảng rộng, ba lần Đức Phật xác nhận và nhắc lại trọn vẹn. Chú giải (đoạn 109) nói Ngài cố ý dừng để tạo cơ hội cho Sāriputta. Có thể hiểu việc Đức Phật nhắc lại trọn vẹn là để lời giảng của đệ tử được chính Ngài xác chứng — người nghe biết chắc cách hiểu rộng ấy là đúng.
6. Áp dụng. Người tại gia không dùng y bát, nhưng câu hỏi của kinh vẫn nguyên giá trị khi chọn một món đồ, một bữa ăn, nơi ở, nơi làm việc, và nhất là bạn bè. Kinh AN 9.6 (xem Đối chiếu) đi thêm một bước với “người”: nếu thân cận một người mà bất thiện tăng, thì dù đời sống vật chất dễ dàng cũng nên rời đi; nếu thiện tăng và mục đích tu tập được viên mãn, thì dù thiếu thốn cũng nên ở lại. Còn Chú giải thì nhắc: thuộc kinh mà không làm theo thì chưa gọi là hiểu.
Đối chiếu các tạng
Theo danh mục tương đương của SuttaCentral (/api/parallels/mn114, tra ngày 20/10/2026), MN114 có hai bản được xếp loại “đầy đủ”: AN 9.6 Sevanāsutta (Tăng Chi Bộ, Pāḷi) và MA109 Kinh Tự Quán Tâm (自觀心經, Trung A-hàm 109, SuttaCentral ghi kèm mốc dòng Taishō 0598c14). Bài này đã đọc MA109 (Hán + bản Việt HT. Tuệ Sỹ, có cước chú) và AN 9.6, AN 10.54 (bản Pāḷi và bản Anh Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral). Các bản Tăng nhất A-hàm EĀ 29.8, EĀ 47.5 mà Anālayo nêu là có lời dạy tương tự, cùng MN17 và MA107, MA108 (phần nương tựa một người), chưa đối chiếu.
MN114 không có bản Hán tương đương toàn kinh. Anālayo (A Comparative Study of the Majjhima-nikāya, tập 2, tr. 643–645; thứ cấp) viết rõ: kinh này “nhìn tổng thể không có bản tương đương trong các A-hàm chữ Hán”; chỉ phần thứ ba — y, thức ăn, chỗ ở, làng, thị trấn, con người — xuất hiện lại trong hai kinh Tăng Chi (AN 9.6, AN 10.54), và đoạn ấy của AN 10.54 có bản tương ứng là một đoạn của MA109 (T i 598c4–19). Phần đầu của MA109, cũng như phần đầu AN 10.54, dạy một đề tài khác: Tỳ-kheo tự quán tâm mình. Vì vậy ở đây MA109 được xếp là tương đương một phần (chỉ lượt thứ ba), không phải song tạng trọn kinh; bài MA109 trên site được viết riêng và liên kết hai chiều.
| Điểm | MN114 (Pāḷi) | MA109 (Hán) |
|---|---|---|
| Nơi chốn | Sāvatthī, Kỳ-đà-lâm, vườn Anāthapiṇḍika | nước Xá-vệ, rừng Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc |
| Người giảng | Phật nói vắn tắt, Sāriputta giảng rộng, Phật xác nhận và nhắc lại | Phật nói hết; không có Sāriputta |
| Đề tài chính | ba lượt “nên – không nên”: 7 đề mục, 6 cảnh, 8 điều | tự quán tâm: đã được chỉ nội tâm (內止), được quán pháp bằng tuệ tối thượng (最上慧觀法) hay chưa — bốn trường hợp, ví như lửa cháy đầu, cháy áo |
| Phần chung | lượt ba: y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, làng, thị trấn, đô thị, quốc độ, người | y; rồi “như y, ăn uống, giường chõng, thôn ấp cũng vậy”; rồi người |
| Mục vắng | — | không có đô thị (nagara), quốc độ (janapada); không có thân, khẩu, ý, tâm, tưởng, kiến, kiếp sống, sáu cảnh |
| Động từ | sevati (hành trì, dùng, thân cận) cho mọi mục | y: 畜 (cất chứa); người: 狎習 (quen thân) |
| Thước đo | bất thiện tăng, thiện giảm → không nên; ngược lại → nên | giống: 增長惡不善法、衰退善法 → không được |
| Kết | lợi ích lâu dài cho bốn giai cấp và cả thế gian; Sāriputta hoan hỷ | biết như thật pháp nên tập, không nên tập → thiện tăng; “khéo quán tự tâm… khéo thủ, khéo xả”; các Tỳ-kheo hoan hỷ phụng hành |
AN 9.6 và AN 10.54. Ở AN 9.6, chính Sāriputta tự nói với các Tỷ-kheo (không có lời vắn tắt của Đức Phật); thứ tự bắt đầu bằng người, rồi y, đồ ăn, chỗ ở, “làng hay thị trấn” (gộp một), xứ sở; động từ là veditabbo — “cần phân biệt”. Điểm riêng của AN 9.6 là phần người được xét qua bốn trường hợp: thân cận mà bất thiện tăng, thiện giảm, mục đích xuất gia không được viên mãn → phải rời đi, không cần từ biệt (vật dụng khó có thì rời ngay lúc ấy, dù ngày hay đêm; vật dụng dễ có thì rời sau khi cân nhắc); thân cận mà bất thiện giảm, thiện tăng, mục đích tu tập được viên mãn → nên đi theo người ấy (vật dụng khó có thì theo sau khi cân nhắc; vật dụng dễ có thì theo trọn đời, “dù bị đuổi cũng không rời”). Ở AN 10.54, Đức Phật nói, phần đầu là tự quán chỉ – quán (như MA109), phần sau là y, đồ ăn, chỗ ở, làng hay thị trấn, xứ sở, người. Như vậy MN114 là bản duy nhất trong nhóm có hai lượt đầu (bảy đề mục, sáu cảnh), có đô thị (nagara), và có khung “Phật nói vắn — Sāriputta giảng rộng — Phật nhắc lại”.
Tra cứu trong bài
- Nhân vật: Đức Phật · Tôn giả Sāriputta · Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc)
- Địa danh: Sāvatthī (Xá-vệ) · Kỳ-đà-lâm (Jetavana)
- Thuật ngữ: Nên hành trì – không nên hành trì (sevitabba – asevitabba) · Mười nghiệp đạo · Nghiệp (kamma) · Tưởng (saññā) · Chánh kiến (sammādiṭṭhi) · Phàm phu (puthujjana) · Niết-bàn
- Dịch giả: HT. Thích Minh Châu · HT. Thích Tuệ Sỹ (bản Việt MA109)
- Bài liên quan: MN41 - Kinh Sāleyyaka (mười nghiệp đạo, cùng mô tả thân hành, khẩu hành)
Nguồn tham khảo
- Nguyên văn Pāḷi: MN 114 — SuttaCentral (Mahāsaṅgīti)
- Bản Việt: HT. Thích Minh Châu dịch, Bình Anson hiệu đính — SuttaCentral
- Bản Anh: Bhikkhu Sujato, What Should and Should Not Be Cultivated — SuttaCentral
- Chú giải Pāḷi: Papañcasūdanī (Majjhimanikāya-aṭṭhakathā), Sevitabbāsevitabbasuttavaṇṇanā, Ps (PTS) IV 100–102 (bản VRI Chaṭṭha Saṅgāyana, số trang PTS theo mốc trong bản VRI). Phụ chú giải: Līnatthappakāsinī (Majjhimanikāya-ṭīkā), cùng chương.
- Chú giải Trung Bộ Kinh, bản Thái-Việt (sudhamma.net), mục Kinh số 114 - Giải thích kinh Nên hành trì, không nên hành trì: Chú giải Trung Bộ Kinh (sudhamma.net) — bản web không có số trang; bài dẫn theo số đoạn (109, 113, 114, 115, 117, 119) của bản này.
- Chú Giải Trung Bộ Kinh, bản Việt (vietheravada.net): chugiaitrungbokinh.pdf (vietheravada.net) — bản này chỉ gồm MN1–50, không có phần MN114; bài không trích từ bản này.
- Danh mục kinh tương đương: SuttaCentral — MN 114 (API parallels, tra ngày 20/10/2026)
- Bản Hán tương đương một phần: MA 109 — Taishō (SuttaCentral) · bản Việt HT. Tuệ Sỹ (SuttaCentral) — bài trên site: MA109 - Kinh Tự Quán Tâm (cusiminhvan.com)
- Bản Pāḷi tương đương một phần: AN 9.6 — Sevanāsutta (SuttaCentral) · AN 10.54 — Samathasutta (SuttaCentral)
- Anālayo, A Comparative Study of the Majjhima-nikāya, tập 2, Dharma Drum, 2011, tr. 643–645 (chương MN 114) — thứ cấp.
📖 Nguồn / bản quyền: SuttaCentral — MN 114 (Sevitabbāsevitabba Sutta), Pāḷi Mahāsaṅgīti + bản Việt HT. Thích Minh Châu