MN58 - Kinh Vương Tử Vô Úy (Abhayarājakumāra Sutta)
Tóm tắt nhanh: Ở Vương Xá, giáo chủ phái Ni-kiền-tử là Nigaṇṭha Nātaputta xúi Vương tử Abhaya (Vô Úy) đến luận chiến với Đức Phật bằng một câu hỏi hai móc: “Như Lai có nói lời khiến người khác không ưa không?” — đáp “có” thì khác gì phàm phu, đáp “không” thì sao Ngài lại nói Devadatta phải đọa địa ngục, khiến Devadatta phẫn nộ. Abhaya thỉnh Phật về nhà dùng cơm rồi mới hỏi; Phật đáp: “ở đây không có (câu trả lời) một chiều”, và Abhaya thừa nhận phái Ni-kiền-tử đã thua. Lấy chính đứa bé đang ngồi trong lòng Vương tử làm ảnh dụ — cha sẵn sàng móc vật lạ khỏi miệng con dù chảy máu, vì thương con — Phật phân biệt sáu loại lời nói theo ba tiêu chí (thật hay không, có lợi ích hay không, người nghe ưa hay không ưa): bốn loại Như Lai không nói, hai loại (thật, có lợi ích) Như Lai biết đúng thời để nói, vì lòng thương tưởng chúng sanh. Hỏi thêm Phật có soạn sẵn câu trả lời không, Phật hỏi ngược Abhaya về các bộ phận cỗ xe rồi kết luận: Như Lai trả lời ngay tại chỗ vì đã khéo thể nhập pháp giới. Vương tử tán thán và quy y làm cư sĩ trọn đời.
Bối cảnh
Kinh mở đầu ở Vương Xá (Rājagaha), kinh đô nước Magadha: Thế Tôn trú tại Trúc Lâm (Veḷuvana), nơi gọi là Kalandakanivāpa — “chỗ nuôi các con sóc” (bản Việt ghi không dấu: Veluvana, Kalandakanivapa).
Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở tại Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), Kalandakanivapa (chỗ nuôi các con sóc).
Pāḷi: mn58:1.1–1.2 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn58/vi/minh_chau)Nhân vật chính là Vương tử Abhaya (abhayo rājakumāro). Abhaya nghĩa là “không sợ hãi”, nên bản Việt dịch là Vương tử Vô Úy; rājakumāra là “con của vua”. Theo Chú giải (Papañcasūdanī, Ps III 108), Abhaya là con ruột của vua Bimbisāra (bimbisārassa orasaputto).
Người đứng sau câu hỏi là Nigaṇṭha Nātaputta (Pāḷi nigaṇṭho nāṭaputto), thầy của phái Nigaṇṭha — các tu sĩ mà truyền thống Hán dịch gọi là Ni-kiền-tử, thường được hiểu là đạo Jain (Kỳ-na); bản Anh của Bhikkhu Sujato dịch là “the Jain ascetic of the Ñātika clan”. Cách xưng hô trong kinh đáng để ý: Abhaya gọi Nātaputta là bhante (bản Việt: “Tôn giả”); Nātaputta gọi Đức Phật là “Sa-môn Gotama” (samaṇo gotamo) — cách gọi của người ngoài giáo đoàn — nhưng lại dặn Abhaya mở lời với Phật bằng bhante và hỏi về “Như Lai” (tathāgato). Khi đối diện Phật, Abhaya cũng thưa bhante (bản Việt: “Bạch Thế Tôn”), còn Phật gọi Abhaya là rājakumāra (“Vương tử”).
Mưu của Nigaṇṭha Nātaputta: câu hỏi hai móc
Abhaya đến gặp Nigaṇṭha Nātaputta trước. Nātaputta bảo Vương tử hãy đi “luận chiến” với Sa-môn Gotama (vādaṁ āropehi — Chú giải giải là “hãy gán lỗi”, dosaṁ āropehi), và hứa một phần thưởng là danh tiếng: người ta sẽ đồn rằng Vương tử Abhaya đã luận chiến được một Sa-môn Gotama “có thần lực như vậy, có uy lực như vậy”. Abhaya hỏi lại: làm sao con luận chiến được với một vị như thế?
Atha kho abhayo rājakumāro yena nigaṇṭho nāṭaputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho abhayaṁ rājakumāraṁ nigaṇṭho nāṭaputto etadavoca: “ehi tvaṁ, rājakumāra, samaṇassa gotamassa vādaṁ āropehi. Evaṁ te kalyāṇo kittisaddo abbhuggacchissati: ‘abhayena rājakumārena samaṇassa gotamassa evaṁ mahiddhikassa evaṁ mahānubhāvassa vādo āropito’”ti. “Yathā kathaṁ panāhaṁ, bhante, samaṇassa gotamassa evaṁ mahiddhikassa evaṁ mahānubhāvassa vādaṁ āropessāmī”ti?
Rồi Vương tử Abhaya (Vô Úy) đi đến Nigaṇṭha Nātaputta , sau khi đến đảnh lễ Nigaṇṭha Nātaputta rồi ngồi xuống một bên. Nigaṇṭha Nātaputta nói với Vương tử Abhaya đang ngồi một bên
—Này Vương tử, Vương tử hãy đi đến luận chiến với Sa-môn Gotama , và nhờ vậy tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi cho Vương tử: “Sa-môn Gotama có thần lực như vậy, có uy lực như vậy, đã bị Vương tử Abhaya luận chiến”.
—Thưa Tôn giả, làm thế nào con có thể luận chiến Sa-môn Gotama có thần lực như vậy, có uy lực như vậy?
Pāḷi: mn58:2.1–3.4 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn58/vi/minh_chau)Nātaputta trao cho Abhaya trọn một kịch bản. Chỉ cần hỏi một câu: “Như Lai có nói lời khiến người khác không ưa, không thích không?” (appiyā amanāpā). Câu hỏi có hai nhánh, nhánh nào cũng là bẫy:
- Nếu Phật đáp “có”: hãy hỏi “vậy Ngài khác gì kẻ phàm phu (puthujjana)? Kẻ phàm phu cũng nói những lời người khác không ưa, không thích.”
- Nếu Phật đáp “không”: hãy hỏi “vậy sao Ngài lại nói về Devadatta” bốn điều — Devadatta là người đọa vào đọa xứ (āpāyiko), đọa vào địa ngục (nerayiko), đọa trong một kiếp (kappaṭṭho), không thể cứu chữa (atekiccho) — “và vì Ngài nói những lời như vậy, Devadatta phẫn nộ, không hoan hỷ”?
Nātaputta gọi đó là “câu hỏi hai móc” (ubhatokoṭikaṁ pañhaṁ): bị hỏi như vậy, Sa-môn Gotama sẽ “không thể nhả ra, cũng không thể nuốt vào”, như một người bị vật bằng sắt mắc trong cổ họng.
“Ehi tvaṁ, rājakumāra, yena samaṇo gotamo tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā samaṇaṁ gotamaṁ evaṁ vadehi: ‘bhāseyya nu kho, bhante, tathāgato taṁ vācaṁ yā sā vācā paresaṁ appiyā amanāpā’ti? Sace te samaṇo gotamo evaṁ puṭṭho evaṁ byākaroti: ‘bhāseyya, rājakumāra, tathāgato taṁ vācaṁ yā sā vācā paresaṁ appiyā amanāpā’ti, tamenaṁ tvaṁ evaṁ vadeyyāsi: ‘atha kiñcarahi te, bhante, puthujjanena nānākaraṇaṁ? Puthujjanopi hi taṁ vācaṁ bhāseyya yā sā vācā paresaṁ appiyā amanāpā’ti. Sace pana te samaṇo gotamo evaṁ puṭṭho evaṁ byākaroti: ‘na, rājakumāra, tathāgato taṁ vācaṁ bhāseyya yā sā vācā paresaṁ appiyā amanāpā’ti, tamenaṁ tvaṁ evaṁ vadeyyāsi: ‘atha kiñcarahi te, bhante, devadatto byākato: “āpāyiko devadatto, nerayiko devadatto, kappaṭṭho devadatto, atekiccho devadatto”ti? Tāya ca pana te vācāya devadatto kupito ahosi anattamano’ti. Imaṁ kho te, rājakumāra, samaṇo gotamo ubhatokoṭikaṁ pañhaṁ puṭṭho samāno neva sakkhiti uggilituṁ na sakkhiti ogilituṁ. Seyyathāpi nāma purisassa ayosiṅghāṭakaṁ kaṇṭhe vilaggaṁ, so neva sakkuṇeyya uggilituṁ na sakkuṇeyya ogilituṁ; evameva kho te, rājakumāra, samaṇo gotamo imaṁ ubhatokoṭikaṁ pañhaṁ puṭṭho samāno neva sakkhiti uggilituṁ na sakkhiti ogilitun”ti.
—Này Vương tử, hãy đi đến Sa-môn Gotama , sau khi đến hãy nói với Sa-môn Gotama , sau khi đến hãy nói với Sa-môn Gotama như sau: “Bạch Thế Tôn, Như Lai có thể nói lời nói, do lời nói ấy những người khác không ưa, không thích chăng?” Nếu Sa-môn Gotama được Vương tử hỏi như vậy và trả lời như sau: “Này Vương tử, Như Lai có thể nói lời nói, do lời nói ấy những người khác không ưa, không thích”, thời Vương tử hãy nói với Sa-môn Gotama : “Bạch Thế Tôn, nếu xử sự như vậy thời có gì sai khác giữa kẻ phàm phu và Ngài? Kẻ phàm phu có thể nói lời nói, do lời nói ấy những người khác không ưa, không thích”. Còn nếu Sa-môn Gotama được Vương tử hỏi như vậy và trả lời như sau: “Này Vương tử, Như Lai không có thể nói lời nói, do lời nói ấy những người khác không ưa, không thích”, thời Vương tử hãy nói với Sa-môn Gotama : “Bạch Thế Tôn, nếu xử sự như vậy, thời vì sao Devadatta được Ngài trả lời như sau: ‘ Devadatta phải đọa vào đọa xứ, Devadatta phải đọa vào địa ngục, Devadatta phải đọa trong một kiếp, Devadatta không thể nào cứu chữa được?’ Và do Ngài nói những lời như vậy, Devadatta phẫn nộ, không hoan hỷ”. Này Vương tử, Sa-môn Gotama khi bị Vương tử hỏi câu hỏi hai móc như vậy, sẽ không có thể nhả ra, cũng không có thể nuốt vào. Ví như một móc sắt bị móc vào cổ họng một người nào, người ấy không có thể nhả ra, cũng không có thể nuốt vào được. Cũng vậy, này Vương tử, Sa-môn Gotama khi bị Vương tử hỏi câu hỏi hai móc như vậy, sẽ không có thể nhả ra, cũng không có thể nuốt vào.
Pāḷi: mn58:3.5–3.18 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn58/vi/minh_chau)Lưu ý bản dịch: (1) câu đầu bản Việt có cụm “sau khi đến hãy nói với Sa-môn Gotama” lặp hai lần — đây là lỗi lặp chữ trong bản dịch; Pāḷi (mn58:3.5) chỉ có một lần upasaṅkamitvā samaṇaṁ gotamaṁ evaṁ vadehi. (2) Vật mắc trong cổ họng, bản Việt gọi là “móc sắt”; Pāḷi là ayosiṅghāṭaka, bản Anh của Sujato dịch là “iron cross” (vật bằng sắt hình chữ thập). Hình ảnh trong kinh là một vật có nhiều cạnh mắc ngang cổ, không phải lưỡi câu.
Chú giải (Ps III 108) giải nghĩa từng chữ: kappaṭṭho là “ở lại suốt một kiếp”, atekiccho là “dù một nghìn vị Phật cũng không cứu chữa được”. Về hai chữ “nhả ra” và “nuốt vào”: không nhả ra được (uggilituṁ) là không thể gỡ cả hai đầu của câu hỏi để trả lời, đưa nó ra ngoài; không nuốt vào được (ogilituṁ) là không thể chỉ ra lỗi của chính câu hỏi để gạt nó đi. (Bản Việt Chú giải của sudhamma.net đặt nhầm nhãn “nuốt vào” cho uggilituṁ và “nhả ra” cho ogilituṁ, dù lời giải thích bên trong vẫn đúng như bản Pāḷi.)
Chú giải (Ps III 108) còn kể nguồn gốc câu hỏi: Nātaputta nghĩ “Sa-môn Gotama lôi kéo các đệ tử của ta”, nên quyết soạn một câu hỏi khiến Sa-môn Gotama “ngồi xổm không đứng dậy nổi”. Ông được nhà Abhaya cúng dường thức ăn, soạn đi soạn lại nhiều câu hỏi, bỏ hết vì câu nào cũng có chỗ hở, và sau bốn tháng mới tìm ra câu này — một câu mà theo ông, cả hỏi lẫn đáp đều không thể bắt lỗi. Ông chọn Abhaya vì Vương tử là người trí, và Abhaya nhận lời vì vốn ưa tranh luận.
Thỉnh Phật về nhà dùng cơm
Abhaya vâng lời, đứng dậy, đảnh lễ, đi nhiễu bên phải Nātaputta rồi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Nhưng khi ngồi đó, Vương tử nhìn mặt trời và nghĩ: hôm nay không còn là lúc để luận chiến; ngày mai sẽ luận chiến tại nhà mình. Vương tử bèn thỉnh Thế Tôn ngày mai đến dùng cơm, “cùng ba Tỷ-kheo khác với Ngài là người thứ tư” (attacatuttho). Thế Tôn im lặng nhận lời.
“Evaṁ, bhante”ti kho abhayo rājakumāro nigaṇṭhassa nāṭaputtassa paṭissutvā uṭṭhāyāsanā nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnassa kho abhayassa rājakumārassa sūriyaṁ ulloketvā etadahosi: “akālo kho ajja bhagavato vādaṁ āropetuṁ. Sve dānāhaṁ sake nivesane bhagavato vādaṁ āropessāmī”ti bhagavantaṁ etadavoca: “adhivāsetu me, bhante, bhagavā svātanāya attacatuttho bhattan”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
—Thưa vâng, Tôn giả.
Vương tử Abhaya vâng đáp Nigaṇṭha Nātaputta , từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Nigaṇṭha Nātaputta , thân bên hữu hướng về ông rồi đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, liền đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Vương tử Abhaya đang ngồi một bên, nhìn mặt trời rồi suy nghĩ: “Hôm nay, không phải thời để luận chiến với Sa-môn Gotama . Ngày mai, ta sẽ luận chiến với Sa-môn Gotama tại nhà của ta,” liền bạch Thế Tôn
—Bạch Thế Tôn, ngày mai mong Thế Tôn nhận lời dùng cơm, cùng ba Tỷ-kheo khác với Ngài là người thứ tư.
Thế Tôn im lặng nhận lời.
Pāḷi: mn58:4.1–4.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn58/vi/minh_chau)Theo Chú giải (Ps III 109), Abhaya nghĩ câu hỏi đã được soạn suốt bốn tháng, đem ra hỏi đáp qua lại thì phần ngày còn lại không đủ. Còn việc chỉ thỉnh bốn vị: nếu thỉnh đông, sợ rằng khi đang hỏi, Thế Tôn sẽ dẫn kinh khác, lý lẽ khác, chuyện khác ra, thành cãi vã ồn ào; nếu chỉ thỉnh một mình Thế Tôn, lại sợ bị chê là keo kiệt — “ngày ngày thấy Thế Tôn đi cùng trăm, nghìn Tỷ-kheo mà chỉ thỉnh một mình Ngài”. Thỉnh Thế Tôn cùng ba vị nữa thì tránh được cả hai.
Bữa cơm tại nhà Vương tử
Biết Thế Tôn đã nhận lời, Abhaya đứng dậy, đảnh lễ, đi nhiễu bên phải rồi về. Sáng hôm sau, Thế Tôn đắp y, cầm bát đến nhà Vương tử, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Abhaya tự tay dâng các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm (khādanīya, bhojanīya). Đợi Thế Tôn dùng xong, tay đã rời khỏi bát, Vương tử lấy một ghế thấp ngồi xuống một bên — tư thế của người thấp hơn, ngay trước khi đặt câu hỏi để “luận chiến”.
Atha kho abhayo rājakumāro bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi. Atha kho bhagavā tassā rattiyā accayena pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena abhayassa rājakumārassa nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Atha kho abhayo rājakumāro bhagavantaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi. Atha kho abhayo rājakumāro bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi.
Rồi Vương tử Abhaya, sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
Thế Tôn, sau khi đêm ấy đã mãn, vào buổi sáng đắp y, cầm theo y bát, đi đến chỗ của Vương tử Abhaya, sau khi đến liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi Vương tử Abhaya tự tay mời mọc, làm cho Thế Tôn thỏa mãn với những món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm. Vương tử Abhaya chờ cho Thế Tôn sau khi đã dùng xong, tay đã rời khỏi bát, liền lấy một ghế thấp khác rồi ngồi xuống một bên.
Pāḷi: mn58:5.1–5.4 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn58/vi/minh_chau)Câu hỏi được nêu ra: “không có câu trả lời một chiều”
Abhaya hỏi đúng câu Nātaputta đã dạy. Thế Tôn đáp: Na khvettha, rājakumāra, ekaṁsenā — “Này Vương tử, ở đây không có (câu trả lời) một chiều”. Thế Tôn không đáp “có” cũng không đáp “không”, nên cả hai nhánh của cái bẫy đều không còn chỗ bám; Abhaya liền thốt lên: “Bạch Thế Tôn, các vị Nigaṇṭha đã bị bại ở đây rồi” (anassuṁ nigaṇṭhā). Thế Tôn hỏi vì sao Vương tử nói vậy.
Ekamantaṁ nisinno kho abhayo rājakumāro bhagavantaṁ etadavoca: “bhāseyya nu kho, bhante, tathāgato taṁ vācaṁ yā sā vācā paresaṁ appiyā amanāpā”ti? “Na khvettha, rājakumāra, ekaṁsenā”ti. “Ettha, bhante, anassuṁ nigaṇṭhā”ti. “Kiṁ pana tvaṁ, rājakumāra, evaṁ vadesi: ‘ettha, bhante, anassuṁ nigaṇṭhā’”ti?
Sau khi ngồi một bên, Vương tử Abhaya bạch Thế Tôn
—Bạch Thế Tôn, Như Lai có thể nói những lời, do những lời ấy người khác không ưa, không thích chăng?
—Này Vương tử, phải chăng ở đây, (câu hỏi) có dụng ý một chiều?
—Bạch Thế Tôn, các vị Nigaṇṭha đã bị bại ở đây rồi.
—Này Vương tử, vì sao Vương tử lại nói như vầy: “Bạch Thế Tôn, các vị Nigaṇṭha đã bị bại ở đây rồi”?
Pāḷi: mn58:6.1–6.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn58/vi/minh_chau)Lưu ý bản dịch: bản Việt dịch lời đáp của Phật thành một câu hỏi — “phải chăng ở đây, (câu hỏi) có dụng ý một chiều?”. Pāḷi na khvettha, rājakumāra, ekaṁsenā là một câu khẳng định phủ định: “ở đây không (trả lời) theo một chiều”; Sujato dịch “This matter is not categorical”, Chú giải (Ps III 109) giải: “trong câu hỏi này không có sự trả lời theo một chiều” (na… ekaṁsena vissajjanaṁ hoti).
Abhaya kể lại cho Thế Tôn nguyên văn cuộc gặp với Nātaputta: lời xúi giục, lời hứa danh tiếng, câu hỏi hai nhánh, chuyện Devadatta và ảnh dụ vật sắt mắc cổ họng — lặp đúng như đoạn trích ở mục trên (mn58:6.7–6.26 tương ứng mn58:2.1–3.18). Dưới đây trích phần đầu lời kể; phần sau (mn58:6.13–6.26: câu hỏi hai nhánh, chuyện Devadatta, vật sắt mắc cổ họng) trùng từng ý với khối “Câu hỏi hai móc” ở trên. Điểm nhỏ đáng để ý: kể lại lời mình nói với Nātaputta, bản Việt để Abhaya xưng “tôi” (“làm thế nào, tôi có thể luận chiến…”), trong khi ở đoạn §3 Abhaya xưng “con”.
“Idhāhaṁ, bhante, yena nigaṇṭho nāṭaputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁ. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho maṁ, bhante, nigaṇṭho nāṭaputto etadavoca: ‘ehi tvaṁ, rājakumāra, samaṇassa gotamassa vādaṁ āropehi. Evaṁ te kalyāṇo kittisaddo abbhuggacchissati— abhayena rājakumārena samaṇassa gotamassa evaṁ mahiddhikassa evaṁ mahānubhāvassa vādo āropito’ti. Evaṁ vutte, ahaṁ, bhante, nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ etadavocaṁ: ‘yathā kathaṁ panāhaṁ, bhante, samaṇassa gotamassa evaṁ mahiddhikassa evaṁ mahānubhāvassa vādaṁ āropessāmī’ti?
—Bạch Thế Tôn, ở đây, con đi đến Nigaṇṭha Nātaputta , sau khi đến con đảnh lễ Nigaṇṭha Nātaputta rồi ngồi xuống một bên. Bạch Thế Tôn, Nigaṇṭha Nātaputta nói với con đang ngồi một bên: “Này Vương tử, Vương tử hãy đi đến luận chiến với Sa-môn Gotama , và nhờ vậy tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi cho Vương tử: “Sa-môn Gotama có thần lực như vậy, có uy lực như vậy, đã bị Vương tử Abhaya luận chiến”. Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, con thưa với Nigaṇṭha Nātaputta : “Thưa Tôn giả, nhưng làm thế nào, tôi có thể luận chiến với Sa-môn Gotama , một vị có thần lực như vậy, có uy lực như vậy?”
Pāḷi: mn58:6.7–6.12 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn58/vi/minh_chau)Theo Chú giải (Ps III 109), chỉ bằng một câu “không một chiều”, Thế Tôn đã nghiền nát câu hỏi bốn tháng của Nātaputta “như sét đánh tan đỉnh núi”: Như Lai có thể nói hoặc không nói lời như vậy — thấy có lợi ích thì nói, không thấy thì không nói. Phụ chú giải (Līnatthappakāsinī, bản VRI tr. M 2.48) chỉ ra rằng lời đáp ấy làm được cả hai việc mà Nātaputta tưởng là không thể: không bị buộc vào đầu nào của câu hỏi, nên “nhả ra” được; và cho thấy câu hỏi phải được phân tích mới hỏi được, không thể hỏi gộp như thế, tức là chỉ ra lỗi của chính câu hỏi, nên “nuốt vào” được.
Ảnh dụ đứa bé ngậm vật lạ
Lúc ấy có một đứa bé còn nhỏ, ngây thơ, còn nằm ngửa (daharo kumāro mando uttānaseyyako), đang ngồi trong lòng Vương tử. Thế Tôn hỏi: nếu do Vương tử sơ ý, hoặc do người vú nuôi sơ ý, đứa bé đưa một que gỗ (kaṭṭha) hay một mảnh sành (kaṭhala) vào miệng, thì Vương tử sẽ làm gì? Abhaya đáp: con sẽ lấy nó ra; nếu không lấy ra ngay được thì tay trái con giữ đầu đứa bé, tay phải co ngón tay lại như cái móc mà lấy ra, dù có chảy máu. Vì sao? Vì con có lòng thương đứa bé (anukampā).
Tena kho pana samayena daharo kumāro mando uttānaseyyako abhayassa rājakumārassa aṅke nisinno hoti. Atha kho bhagavā abhayaṁ rājakumāraṁ etadavoca: “Taṁ kiṁ maññasi, rājakumāra, sacāyaṁ kumāro tuyhaṁ vā pamādamanvāya dhātiyā vā pamādamanvāya kaṭṭhaṁ vā kaṭhalaṁ vā mukhe āhareyya, kinti naṁ kareyyāsī”ti? “Āhareyyassāhaṁ, bhante. Sace, bhante, na sakkuṇeyyaṁ ādikeneva āhattuṁ, vāmena hatthena sīsaṁ pariggahetvā dakkhiṇena hatthena vaṅkaṅguliṁ karitvā salohitampi āhareyyaṁ. Taṁ kissa hetu? Atthi me, bhante, kumāre anukampā”ti.
Lúc bấy giờ, có đứa con nít ngây thơ nằm giữa trên đầu gối của Vương tử Abhaya. Rồi Thế Tôn nói với Vương tử Abhaya
—Này Vương tử, Vương tử nghĩ thế nào? Nếu đứa con nít này, do sự vô ý của Vương tử, hay do sự vô ý của người vú hầu, thọc một cái que hay nuốt một hòn đá vào trong miệng, vậy Vương tử phải làm gì?
—Bạch Thế Tôn, con phải móc cho ra. Bạch Thế Tôn, nếu con không thể móc ra lập tức, thời với tay trái con nắm đầu nó lại, với tay mặt lấy ngón tay làm như cái móc, con sẽ móc cho vật ấy ra, dầu có phải chảy máu. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn, vì con có lòng thương tưởng đứa trẻ.
Pāḷi: mn58:7.1–7.8 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn58/vi/minh_chau)Lưu ý bản dịch: bản Việt ghi đứa bé “nằm giữa trên đầu gối” — Pāḷi aṅke nisinno là “ngồi trong lòng” (Chú giải giải: ngồi trên hai đùi, ūrūsu); còn “nằm” là từ chữ uttānaseyyaka, “đứa bé còn nằm ngửa”, tức là còn rất nhỏ. Bản Việt ghi “thọc một cái que hay nuốt một hòn đá vào trong miệng”; Pāḷi chỉ nói “đưa que gỗ hay mảnh sành vào miệng” (mukhe āhareyya), không có chữ “nuốt”.
Theo Chú giải (Ps III 109–110), đứa bé ngồi trong lòng không phải tình cờ. Những người tranh luận ưa mánh khoé thường cầm sẵn một trái cây, một bông hoa hay cuốn sách: thắng thì lấn tới, thua thì làm như đang ăn trái cây, ngửi hoa, đọc sách để lảng đi. Abhaya tính: nếu thắng thì tốt; nếu không thắng, ta sẽ véo đứa bé cho nó khóc rồi nói “kìa, đứa bé khóc, hãy đứng dậy đã, sau này sẽ biết”. Thế Tôn thấy vậy, quyết lấy chính đứa bé ấy làm ảnh dụ để phá luận điệu của Vương tử.
Khuôn chung của sáu loại lời nói
Từ ảnh dụ đứa bé, Thế Tôn nói: “Cũng vậy, này Vương tử…” rồi xét lời nói theo ba tiêu chí, mỗi loại lời nói được nêu theo cùng một khuôn:
- Như Lai biết lời ấy là như thật, như chân (bhūtaṁ tacchaṁ) hay không như thật, không như chân (abhūtaṁ atacchaṁ);
- lời ấy tương ứng với lợi ích (atthasaṁhitaṁ) hay không tương ứng với lợi ích (anatthasaṁhitaṁ);
- lời ấy khiến người khác không ưa, không thích (appiyā amanāpā) hay ưa, thích (piyā manāpā);
- kết luận: Như Lai không nói lời ấy, hoặc Như Lai biết đúng thời để nói lời ấy (kālaññū… veyyākaraṇāya).
Kinh chỉ nêu sáu trong tám tổ hợp có thể có: hai tổ hợp “không thật mà có lợi ích” không được nhắc tới. Khung trích một lần dưới đây (lấy loại thứ nhất làm mẫu):
“Evameva kho, rājakumāra, yaṁ tathāgato vācaṁ jānāti abhūtaṁ atacchaṁ anatthasaṁhitaṁ sā ca paresaṁ appiyā amanāpā, na taṁ tathāgato vācaṁ bhāsati.
—Cũng vậy, này Vương tử, lời nói nào Như Lai biết không như thật, không như chân, không tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác không ưa, không thích, thời Như Lai không nói lời nói ấy.
Pāḷi: mn58:8.1 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn58/vi/minh_chau)Lưu ý bản dịch: bản Việt dịch atthasaṁhita là “tương ứng với mục đích”; Chú giải (Ps III 110) giải anatthasaṁhitaṁ là “không gắn với lợi ích, không nương vào sự tăng trưởng” (na vaḍḍhinissitaṁ), nên trong bài dùng chữ “lợi ích”. Phụ chú giải (bản VRI tr. M 2.49) giải anatthasaṁhita gồm cả lời nói hai lưỡi và lời phù phiếm, và nhận xét rằng ở đây cả bốn loại ác hạnh về lời nói đều đã được bao gồm.
1. Không thật, không lợi ích, người khác không ưa → không nói
Đây là loại tệ nhất: sai sự thật, vô ích, lại làm người nghe khó chịu. (Khung trích ở trên.) Ví dụ của Chú giải (Ps III 110): gọi người không phải kẻ trộm là “kẻ trộm”, người không phải nô lệ là “nô lệ”, người không làm điều ác là “kẻ làm điều ác”.
2. Thật, không lợi ích, người khác không ưa → không nói
Điểm riêng: lời nói đúng sự thật vẫn bị loại, vì không đem lại lợi ích mà lại làm người nghe không ưa. Ví dụ của Chú giải (Ps III 110): chỉ vào người đúng là kẻ trộm mà nói “người này là kẻ trộm”.
Yampi tathāgato vācaṁ jānāti bhūtaṁ tacchaṁ anatthasaṁhitaṁ sā ca paresaṁ appiyā amanāpā, tampi tathāgato vācaṁ na bhāsati.
Lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, không tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác không ưa, không thích, thời Như Lai không nói lời nói ấy.
Pāḷi: mn58:8.2 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn58/vi/minh_chau)3. Thật, có lợi ích, người khác không ưa → biết đúng thời để nói
Điểm riêng: lời thật, có lợi ích thì Như Lai nói, dù người nghe không ưa — nhưng Như Lai “biết thời” (kālaññū) để nói. Theo cách hiểu của bài (kinh không nói thẳng, xem mục Giải thích), lời Phật nói về Devadatta trong câu hỏi hai móc thuộc loại này; ảnh dụ đứa bé cũng ứng với loại này: người cha móc vật lạ ra dù làm con chảy máu. Chú giải (Ps III 110–111) nêu ví dụ: lời khuyên nhắm đến lợi ích, đến Pháp, đến sự giáo huấn cho đại chúng, như “nay vì không tạo phước nên ông nghèo khổ, xấu xí, ít uy thế; đã đứng ở đời này mà vẫn không tạo phước thì đời sau làm sao thoát khỏi bốn khổ cảnh?”; và “biết thời” là biết lúc đại chúng có thể tiếp nhận rồi mới nói. Chú giải (Ps III 113) cũng nói rõ: ảnh dụ đứa bé ở trên được nêu để ứng với chính loại lời nói thứ ba này.
Yañca kho tathāgato vācaṁ jānāti bhūtaṁ tacchaṁ atthasaṁhitaṁ sā ca paresaṁ appiyā amanāpā, tatra kālaññū tathāgato hoti tassā vācāya veyyākaraṇāya.
Và lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác không ưa, không thích, Như Lai ở đây biết thời giải thích lời nói ấy.
Pāḷi: mn58:8.3 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn58/vi/minh_chau)4. Không thật, không lợi ích, người khác ưa → không nói
Điểm riêng: lời nghe dễ chịu nhưng sai sự thật và vô ích vẫn bị loại. (Bản Việt ở câu này gõ “Như Lại” thay vì “Như Lai”.) Chú giải (Ps III 111–113) gọi loại này là “chuyện vô căn cứ” (aṭṭhāniyakathā) và kể một chuyện: một ông lão quê lên thành uống rượu, bị một bọn bịp bợm (dhutta) ngồi uống cùng rủ chơi trò kể chuyện chính mắt mình thấy, ai bảo “không thật” hay không tin thì phải làm nô lệ. Bọn ấy kể toàn chuyện hoang đường (trái táo voi to như cái chum, mẹ ăn một lúc sáu mươi trái, chất đầy ngôi nhà mười sáu hắc tay…); ông lão đều bảo “tin được”. Đến lượt mình, ông kể giữa ruộng bông nhà mình có cây bông cao tám mươi hắc tay, quả bông nở ra sáu nắm bông hoá thành sáu người nô lệ bỏ trốn, “hôm nay mới gặp lại” — rồi gọi tên sáu người (Nanda, Puṇṇa, Vaḍḍhamāna, Citta, Maṅgala, Poṭṭhiya), nắm búi tóc bọn bịp lôi ra pháp đình. Chúng không thể nói nổi một câu “chúng tôi không phải nô lệ” (Phụ chú giải: vì đã giao ước như thế từ trước), và bị bắt làm nô lệ suốt đời. Như Lai không nói những chuyện như thế.
Yaṁ tathāgato vācaṁ jānāti abhūtaṁ atacchaṁ anatthasaṁhitaṁ sā ca paresaṁ piyā manāpā, na taṁ tathāgato vācaṁ bhāsati.
Lời nói nào Như Lai biết là không như thật, không như chân, không tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác ưa thích, Như Lại không nói lời nói ấy.
Pāḷi: mn58:8.4 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn58/vi/minh_chau)5. Thật, không lợi ích, người khác ưa → không nói
Điểm riêng: lời thật và dễ nghe vẫn bị loại khi không có lợi ích. Theo Chú giải (Ps III 113), đó là các kiểu lời tán tụng người khác vì muốn được lợi lộc hay lấy lòng, và các “câu chuyện súc sanh” (tiracchānakathā) như chuyện trộm cướp, chuyện vua chúa.
Yampi tathāgato vācaṁ jānāti bhūtaṁ tacchaṁ anatthasaṁhitaṁ sā ca paresaṁ piyā manāpā tampi tathāgato vācaṁ na bhāsati.
Lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, không tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác ưa và thích, Như Lai không nói lời nói ấy.
Pāḷi: mn58:8.5 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn58/vi/minh_chau)6. Thật, có lợi ích, người khác ưa → biết đúng thời để nói
Điểm riêng: ngay cả lời thật, có lợi ích lại dễ nghe, Như Lai cũng không nói bất cứ lúc nào mà vẫn “biết thời”. Theo Chú giải (Ps III 113), đó là lời nói dựa trên Thánh đế, “người trí nghe trăm năm cũng không chán”.
Yañca tathāgato vācaṁ jānāti bhūtaṁ tacchaṁ atthasaṁhitaṁ sā ca paresaṁ piyā manāpā, tatra kālaññū tathāgato hoti tassā vācāya veyyākaraṇāya.
Và lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác ưa và thích, ở đây, Như Lai biết thời giải thích lời nói ấy.
Pāḷi: mn58:8.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn58/vi/minh_chau)Bảng tổng hợp sáu loại lời nói
| # | Thật? | Lợi ích? | Người nghe | Như Lai | Ví dụ theo Chú giải |
|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Không | Không | Không ưa | Không nói | Vu cho người ngay là kẻ trộm |
| 2 | Có | Không | Không ưa | Không nói | Chỉ mặt kẻ trộm mà nói “kẻ trộm” |
| 3 | Có | Có | Không ưa | Biết thời để nói | Khuyên người chưa tạo phước |
| 4 | Không | Không | Ưa | Không nói | Chuyện vô căn cứ (bọn say và ông lão) |
| 5 | Có | Không | Ưa | Không nói | Lời tán tụng cầu lợi, chuyện vua chúa, trộm cướp |
| 6 | Có | Có | Ưa | Biết thời để nói | Lời nói dựa trên Thánh đế |
Đọc theo cột: điều quyết định là thật và có lợi ích; người nghe ưa hay không ưa không làm thay đổi việc nói hay không nói — chỉ có “biết thời” là điều kiện đi kèm cả hai loại được nói.
Lòng thương tưởng: lý do của cả sáu điều
Câu kết của phần này trả lời “vì sao”: Như Lai có lòng thương tưởng (anukampā) đối với các loài hữu tình. Chữ anukampā ở đây chính là chữ Abhaya vừa dùng để giải thích vì sao mình móc vật lạ khỏi miệng con dù làm con chảy máu.
Taṁ kissa hetu? Atthi, rājakumāra, tathāgatassa sattesu anukampā”ti.
Vì sao vậy? Này Vương tử, Như Lai có lòng thương tưởng đối với các loài hữu tình.
Pāḷi: mn58:8.7–8.8 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn58/vi/minh_chau)Phụ chú giải (bản VRI tr. M 2.48) lưu ý: loại lời khiến người khác không ưa mà Như Lai có thể nói không phải là lời thô ác (pharusavācā), vì chư Như Lai đã cắt đứt lời thô ác; lời thô ác được xác định bởi tâm ý (cetanā) thô ác của người nói, không phải chỉ vì người nghe không ưa.
Câu hỏi thứ hai: soạn sẵn hay trả lời ngay?
Abhaya hỏi thêm một điều: có những bậc trí — Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, gia chủ, Sa-môn — soạn sẵn câu hỏi rồi đến hỏi Như Lai. Thế Tôn đã suy nghĩ trước trong tâm “nếu họ hỏi thế này, Ta sẽ đáp thế kia”, hay câu trả lời hiện ra với Như Lai ngay tại chỗ (ṭhānaso)?
“Yeme, bhante, khattiyapaṇḍitāpi brāhmaṇapaṇḍitāpi gahapatipaṇḍitāpi samaṇapaṇḍitāpi pañhaṁ abhisaṅkharitvā tathāgataṁ upasaṅkamitvā pucchanti, pubbeva nu kho, etaṁ, bhante, bhagavato cetaso parivitakkitaṁ hoti ‘ye maṁ upasaṅkamitvā evaṁ pucchissanti tesāhaṁ evaṁ puṭṭho evaṁ byākarissāmī’ti, udāhu ṭhānasovetaṁ tathāgataṁ paṭibhātī”ti?
—Bạch Thế Tôn, những Sát-đế-lị có trí, những Bà-la-môn có trí, những Gia chủ có trí, những Sa-môn có trí này, sau khi soạn sẵn câu hỏi, đến Như Lai và hỏi: “Bạch Thế Tôn, không hiểu Thế Tôn có suy nghĩ trước trong trí như sau: “Nếu có những ai đến Ta và hỏi như vậy, được hỏi như vậy, Ta sẽ trả lời như vậy”, hay Như Lai trả lời ngay (tại chỗ)?”
Pāḷi: mn58:9.1–9.2 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn58/vi/minh_chau)Lưu ý bản dịch: bản Việt đặt ngoặc kép sao cho câu “Bạch Thế Tôn, không hiểu Thế Tôn có suy nghĩ trước…” như là lời các bậc trí hỏi. Trong Pāḷi (mn58:9.1–9.2), các bậc trí chỉ là đề tài; người hỏi câu “Thế Tôn có suy nghĩ trước… hay trả lời ngay?” là Abhaya (Sujato: “Do you think beforehand… or does the answer just strike you on the spot?”).
Ảnh dụ cỗ xe
Thay vì trả lời thẳng, Thế Tôn hỏi ngược lại và để Abhaya tự trả lời “tùy theo ý Vương tử”. Vương tử có giỏi các bộ phận lớn nhỏ của cỗ xe (rathassa aṅgapaccaṅgāni) không? — Có. Nếu có người đến hỏi “bộ phận này của cỗ xe tên gọi là gì?”, Vương tử đã nghĩ sẵn câu trả lời từ trước, hay trả lời ngay tại chỗ? Abhaya đáp: con là người đánh xe (rathika) nổi tiếng, giỏi các bộ phận của xe; mọi bộ phận con đều biết rõ, nên câu trả lời hiện ra ngay tại chỗ.
“Tena hi, rājakumāra, taññevettha paṭipucchissāmi, yathā te khameyya tathā naṁ byākareyyāsi. Taṁ kiṁ maññasi, rājakumāra, kusalo tvaṁ rathassa aṅgapaccaṅgānan”ti? “Evaṁ, bhante, kusalo ahaṁ rathassa aṅgapaccaṅgānan”ti. “Taṁ kiṁ maññasi, rājakumāra, ye taṁ upasaṅkamitvā evaṁ puccheyyuṁ: ‘kiṁ nāmidaṁ rathassa aṅgapaccaṅgan’ti? Pubbeva nu kho te etaṁ cetaso parivitakkitaṁ assa ‘ye maṁ upasaṅkamitvā evaṁ pucchissanti tesāhaṁ evaṁ puṭṭho evaṁ byākarissāmī’ti, udāhu ṭhānasovetaṁ paṭibhāseyyā”ti? “Ahañhi, bhante, rathiko saññāto kusalo rathassa aṅgapaccaṅgānaṁ. Sabbāni me rathassa aṅgapaccaṅgāni suviditāni. Ṭhānasovetaṁ maṁ paṭibhāseyyā”ti.
—Này Vương tử, nay ở đây Ta sẽ hỏi Vương tử, nếu Vương tử hoan hỷ, hãy trả lời câu hỏi ấy. Này Vương tử, Vương tử nghĩ như thế nào? Vương tử có giỏi về các bộ phận sai biệt một cái xe không?
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn, con có giỏi về các bộ phận sai biệt một cái xe.
—Này Vương tử, Vương tử nghĩ thế nào? Nếu có những người đến Vương tử và hỏi như sau: “Bộ phận này của cái xe tên gọi là gì?”, không hiểu Vương Tử có suy nghĩ trước trong trí như sau: “Nếu có những ai đến ta, và hỏi ta như vậy, ta sẽ trả lời cho họ như vậy”, hay là Vương tử trả lời ngay (tại chỗ)?
—Bạch Thế Tôn, vì con là người đánh xe nổi tiếng, rất giỏi về các bộ phận sai biệt trong một cái xe nên con sẽ trả lời ngay (tại chỗ).
Pāḷi: mn58:10.1–10.11 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn58/vi/minh_chau)Lưu ý bản dịch: câu trả lời cuối của Abhaya trong bản Việt gộp lại, không có câu Pāḷi mn58:10.10 sabbāni me rathassa aṅgapaccaṅgāni suviditāni — “mọi bộ phận lớn nhỏ của cỗ xe con đều biết rõ” (Sujato: “All the major and minor parts are well-known to me”).
Pháp giới đã được Như Lai khéo thể nhập
“Cũng vậy”: khi các bậc trí Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, gia chủ, Sa-môn soạn sẵn câu hỏi rồi đến hỏi, câu trả lời hiện ra với Như Lai ngay tại chỗ. Lý do: pháp giới (dhammadhātu) đã được Như Lai khéo thể nhập (suppaṭividdhā); vì đã khéo thể nhập pháp giới ấy, nên câu trả lời hiện ra ngay tại chỗ.
“Evameva kho, rājakumāra, ye te khattiyapaṇḍitāpi brāhmaṇapaṇḍitāpi gahapatipaṇḍitāpi samaṇapaṇḍitāpi pañhaṁ abhisaṅkharitvā tathāgataṁ upasaṅkamitvā pucchanti, ṭhānasovetaṁ tathāgataṁ paṭibhāti. Taṁ kissa hetu? Sā hi, rājakumāra, tathāgatassa dhammadhātu suppaṭividdhā yassā dhammadhātuyā suppaṭividdhattā ṭhānasovetaṁ tathāgataṁ paṭibhātī”ti.
—Cũng vậy, này Vương tử, những Sát-đế-lỵ có trí, những Bà-la-môn có trí, những Gia chủ có trí, những Sa-môn có trí này, sau khi soạn sẵn câu hỏi, đến Như Lai và hỏi, Như Lai sẽ trả lời ngay (tại chỗ). Vì sao vậy? Này Vương tử, pháp giới (Dhammadhatu) đã được Như Lai khéo biết. Và vì Như Lai khéo biết pháp giới nên Như Lai trả lời ngay (tại chỗ).
Pāḷi: mn58:11.1–11.3 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn58/vi/minh_chau)Lưu ý bản dịch: bản Việt dịch suppaṭividdhā là “khéo biết”; chữ Pāḷi có nghĩa “đã được xuyên thấu, thể nhập trọn vẹn” (Sujato: “has clearly penetrated”). Theo Chú giải (Ps III 113), dhammadhātu ở đây là “tự tánh của các pháp” (dhammasabhāvo) và là tên gọi khác của Nhất thiết trí (sabbaññutaññāṇa); trí ấy Thế Tôn đã thể nhập trọn vẹn, “như nằm trong tay”, nên muốn biết điều gì thì điều ấy hiện ra ngay tức khắc.
Kết kinh
Nghe xong, Vương tử Abhaya tán thán bằng bốn ảnh dụ quen thuộc — như dựng đứng lại vật bị quăng ngã, phơi bày vật bị che kín, chỉ đường cho người lạc, đem đèn vào bóng tối — rồi quy y Tam Bảo và xin làm cư sĩ trọn đời. Bản Pāḷi viết tắt đoạn giữa (…pe…); bản Việt khai triển đủ.
Evaṁ vutte, abhayo rājakumāro bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante …pe… ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti. Abhayarājakumārasuttaṁ niṭṭhitaṁ aṭṭhamaṁ.
Khi được nói vậy, Vương tử Abhaya bạch Thế Tôn
—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ đi lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày. Nay con quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Pāḷi: mn58:12.1–12.4 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn58/vi/minh_chau)Chú giải (Ps III 113) ghi một câu ngắn ở cuối: “Bài pháp này kết thúc theo cách dành cho hạng người cần được dẫn dắt” (neyyapuggalavasena pariniṭṭhitā). Kinh chỉ nói Abhaya quy y làm cư sĩ, không nói Vương tử chứng đắc gì. Phụ chú giải (bản VRI tr. M 2.49–2.50) có giải thêm câu này, nhắc tới bốn Thánh đế và quả A-la-hán; câu văn ở đó rất gọn, bài chưa đối chiếu được cách hiểu chắc chắn nên không dựa vào.
Giải thích
1. Câu hỏi hai móc và lời đáp không một chiều. Bẫy của Nātaputta dựa trên một giả định ngầm: lời nói chỉ được xét theo một tiêu chí — người nghe ưa hay không ưa. Hỏi gộp như vậy thì đáp “có” hay “không” đều bị bắt bẻ. Thế Tôn không chọn nhánh nào mà từ chối chính cách hỏi: không thể trả lời một chiều. Phần còn lại của kinh là phần “phân tích” mà câu hỏi đã bỏ qua — thêm hai tiêu chí thật và lợi ích, cùng điều kiện đúng thời.
2. Lời nói về Devadatta nằm ở đâu. Kinh không trở lại chuyện Devadatta sau khi phân tích sáu loại lời nói. Theo mạch kinh (đây là cách hiểu của bài, dựa trên Chú giải nói ảnh dụ đứa bé ứng với loại thứ ba), lời Phật về Devadatta thuộc loại thật, có lợi ích, người nghe không ưa — loại Như Lai nói, nhưng chọn đúng thời, như người cha móc vật lạ khỏi miệng con: đau, chảy máu, nhưng vì thương.
3. Cùng một chữ “thương”. Abhaya đến để “luận chiến” và — theo Chú giải — mang sẵn đứa bé làm chỗ thoát. Thế Tôn dùng chính đứa bé ấy, và chính lòng thương con của Abhaya (anukampā), để giải thích lòng thương tưởng (anukampā) của Như Lai đối với chúng sanh. Người hỏi được trả lời bằng kinh nghiệm của chính mình.
4. Trả lời ngay vì đã thấu suốt. Phần cuối trả lời một nghi vấn tự nhiên sau khi thấy Phật gỡ một câu hỏi bốn tháng chỉ bằng một câu: phải chăng Ngài đã chuẩn bị sẵn? Ảnh dụ cỗ xe cho thấy người thật sự thông thạo không cần soạn trước; câu trả lời đến từ sự hiểu biết trọn vẹn (dhammadhātu suppaṭividdhā), không từ sự chuẩn bị cho từng câu hỏi.
5. Ứng dụng cho người tại gia. Trước khi nói, có thể tự hỏi theo đúng thứ tự của kinh: Điều này có thật không? Có lợi ích không? Nếu thật và có lợi ích — đây có phải lúc để nói không? Người nghe ưa hay không ưa không phải là câu hỏi đầu tiên; nhưng chọn lúc nói vẫn là một phần của lòng thương.
Đối chiếu các tạng
Theo danh mục tương đương của SuttaCentral (API parallels, tra ngày 19/10/2026), MN58 có hai bản được đánh dấu là “tương tự” (resembling), đều là luận trong Hán tạng, không phải kinh A-hàm: T1509.35 (大智度論, Đại Trí Độ Luận, T xxv 321b15) và T1521.11 (十住毘婆沙論, Thập Trụ Tỳ-bà-sa Luận, T xxvi 79b01). Theo Anālayo (A Comparative Study of the Majjhima-nikāya, vol. 1, tr. 334–335), MN58 không có bản tương đương trong các A-hàm Hán tạng; một phần kinh còn trong một mảnh Sanskrit (Hoernle Or. 15009/100, ứng với phần đầu MN58) và trong một đoạn dẫn kinh của Đại Trí Độ Luận. Bài này chưa đối chiếu trực tiếp bản nào trong số đó; những điều dưới đây lấy từ Anālayo (thứ cấp). T1521.11 không được Anālayo nhắc tới ở chương này — chưa đối chiếu.
| Điểm | MN58 (Pāḷi) | Mảnh Sanskrit (theo Anālayo) | Đại Trí Độ Luận T1509 (theo Anālayo) |
|---|---|---|---|
| Phần còn giữ | trọn kinh | phần dẫn truyện mở đầu | đoạn dẫn kinh ngắn |
| Nigaṇṭha xúi Abhaya | có | có, tương tự | (Anālayo không nêu) |
| Câu hỏi hai móc, chuyện Devadatta | có | có: Phật được xem là có lòng bi, mà lời Phật về Devadatta làm Devadatta rất phiền lòng | (Anālayo không nêu) |
| Phật có nói lời người khác không ưa? | “không một chiều” | (không còn) | không có câu trả lời thẳng |
| Ảnh dụ đứa bé | có | (không còn) | có: lấy vật đứa bé đã nuốt ra dù làm con đau |
| Sáu loại lời nói | có | (không còn) | không có |
| Soạn sẵn hay trả lời ngay; ảnh dụ cỗ xe | có | (không còn) | không có |
| Kết | Abhaya quy y | (không còn) | (Anālayo không nêu) |
Anālayo còn dẫn một cuộc “dồn Phật vào thế bí” tương tự ở SN 42.9 và hai bản Hán SĀ 914 (Tạp A-hàm), S² 129 (Biệt dịch Tạp A-hàm) — chưa đối chiếu. Không có bài Trung A-hàm (MA) tương đương, nên bài này không có mục song tạng.
Tra cứu trong bài
- Nhân vật: Đức Phật · Như Lai · Vương tử Abhaya (Vô Úy) · Nigaṇṭha Nātaputta · Devadatta
- Địa danh: Rājagaha (Vương Xá) · Veḷuvana (Trúc Lâm)
- Thuật ngữ: Phàm phu (puthujjana) · Tam Bảo
- Dịch giả: HT. Thích Minh Châu
Nguồn tham khảo
- Pāḷi (Mahāsaṅgīti): MN 58 — SuttaCentral
- Việt — HT. Thích Minh Châu dịch (Bình Anson hiệu đính): mn58/vi/minh_chau — SuttaCentral
- English — Bhikkhu Sujato, With Prince Abhaya: mn58/en/sujato — SuttaCentral
- Danh mục kinh tương đương: MN 58 — SuttaCentral (API parallels, tra ngày 19/10/2026): T1509.35, T1521.11 (chưa đối chiếu)
- Chú giải Pāḷi: Papañcasūdanī (Majjhimanikāya-aṭṭhakathā), Abhayarājakumārasuttavaṇṇanā, Ps (PTS) III 108–113 (bản VRI Chaṭṭha Saṅgāyana).
- Phụ chú giải Pāḷi: Līnatthappakāsinī (Majjhimanikāya-ṭīkā), Abhayarājakumārasuttavaṇṇanā, bản VRI Chaṭṭha Saṅgāyana tr. M 2.48–2.50.
- Chú giải Trung Bộ Kinh, bản Thái-Việt (sudhamma.net), mục Kinh số 58 – Giải thích Kinh Vương tử Vô Úy: Chú giải Trung Bộ Kinh (sudhamma.net) — bản web không có số trang; bài dẫn số trang theo bản Pāḷi PTS.
- Chú Giải Trung Bộ Kinh, bản Việt (vietheravada.net): chugiaitrungbokinh.pdf (vietheravada.net) — bản này chỉ gồm MN1–50, không có phần MN58; bài không trích từ bản này.
- Anālayo, A Comparative Study of the Majjhima-nikāya, vol. 1, tr. 334–335 (Dharma Drum, 2011) — thứ cấp.
📖 Nguồn / bản quyền: SuttaCentral — MN 58 (Abhayarājakumāra Sutta), Pāḷi Mahāsaṅgīti + bản Việt HT. Thích Minh Châu