← Tra cứu · ✍️ Tác giả🧑🏫 Giảng sư
Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Châu
Còn gọi: Thích Minh Châu · Minh Châu · Đinh Văn Nam · Tâm Trí · Viên Dung
Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Châu (1918–2012) — Phó Pháp chủ Hội đồng Chứng minh GHPGVN, người Việt Nam đầu tiên đỗ Tiến sĩ Phật học tại Ấn Độ, Viện trưởng sáng lập Viện Đại học Vạn Hạnh, dịch giả trọn bộ Kinh tạng Pāḷi (5 bộ Nikāya) sang tiếng Việt. Bản dịch Trung Bộ của ngài là nguồn tiếng Việt dùng cho các bài Pāḷi tạng trên cusiminhvan.

Trên cusiminhvan, bản dịch tiếng Việt các kinh Pāḷi tạng (Trung Bộ) mà chúng tôi trích dẫn chính là của Hòa thượng Thích Minh Châu (đối chiếu từ SuttaCentral
mn###/vi/minh_chau).
Ngày 2-9-2012, Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã chính thức công bố văn bản tiểu sử Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Châu. Dưới đây là phần tiểu sử theo văn bản chính thức ấy.
Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Châu từng đảm nhiệm:
- Phó Pháp chủ Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam;
- Nguyên Đại biểu Quốc hội các khóa VII, VIII, IX và X; Huân chương Hồ Chí Minh; Huân chương Độc lập hạng Nhì; Huân chương Đại đoàn kết;
- Nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự GHPGVN; Nguyên Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký HĐTS GHPGVN; Nguyên Tổng vụ trưởng Tổng vụ Giáo dục GHPGVNTN;
- Nguyên Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh;
- Nguyên Viện trưởng sáng lập Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam — Chủ tịch Hội đồng Phiên dịch Đại tạng kinh Việt Nam;
- Nguyên Hiệu trưởng Trường Cao cấp Phật học Việt Nam Cơ sở I (chùa Quán Sứ, Hà Nội); Nguyên Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM;
- Trú trì tổ đình Tường Vân (Huế); Viện chủ thiền viện Vạn Hạnh (TP.HCM).
Thân thế
Hòa thượng họ Đinh, húy Văn Nam, đệ tử của cố Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết (Đệ nhất Tăng thống GHPGVN Thống nhất); pháp danh Tâm Trí, tự Minh Châu, pháp hiệu Viên Dung. Ngài sinh ngày 20 tháng 10 năm 1918 (Mậu Ngọ) tại làng Kim Thành (Quảng Nam); nguyên quán làng Kim Khê, xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
Thân phụ là cụ ông Đinh Văn Chấp, thân mẫu là cụ bà Lê Thị Đạt; gia đình có 11 anh em, ngài là con trai thứ tư. Ngài sinh trưởng trong gia đình vọng tộc Nho gia — thân sinh đỗ Tiến sĩ Hoàng giáp năm 21 tuổi (khoa Quý Sửu 1913, niên hiệu Duy Tân thứ 7). Nhờ nền giáo dục của cụ ông, ngài cần mẫn đèn sách, trí tuệ phát triển sớm.
Năm 1939 ngài đỗ bằng Cao đẳng Tiểu học Đông Dương; năm 1940 đỗ tú tài toàn phần tại Trường Khải Định — Huế (nay là Trường Quốc Học), và được bổ làm Thư ký Tòa Khâm sứ tỉnh Thừa Thiên. Sau một năm, thấy nhiều bất công oan sai trong việc xét xử, ngài xin thôi việc.
Tìm hiểu giáo lý và xuất gia học đạo
Từ năm 1936, ngài cùng em trai Đinh Văn Vinh đến với phong trào học Phật do bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám giảng dạy, và đảm nhiệm chức Chánh Thư ký của Hội An Nam Phật học. Ngài là hạt nhân nòng cốt phát động phong trào yêu nước và vận động thanh niên học Phật, góp phần phát triển Phật sự của 17 Tỉnh hội Phật giáo miền Trung. Ngài là một trong những người sáng lập Đoàn Thanh niên Phật học Đức dục và Gia đình Phật hóa phổ (tiền thân của Gia đình Phật tử Việt Nam).
Năm 1946, ngài đầu sư với Hòa thượng Tịnh Khiết tại tổ đình Tường Vân (Thủy Xuân, Huế), được ban pháp danh Tâm Trí. Năm 1949 (Kỷ Sửu), ngài thọ Cụ túc giới tại Giới đàn Hộ Quốc chùa Báo Quốc, được Hội đồng Thập sư đặc cách thọ Tam đàn cụ túc, bổn sư ban pháp tự Minh Châu, pháp hiệu Viên Dung. Năm 1951, ngài làm Hiệu trưởng Trường Trung học Bồ Đề đầu tiên ở Huế và là đại biểu chính thức dự Hội nghị thống nhất Phật giáo ba miền tại chùa Từ Đàm.
Xuất dương du học
Nhận thấy cách phiên âm Pāḷi, Sanskrit trong Hán tạng mỗi nơi mỗi khác khiến bản văn khó hiểu, ngài phát nguyện xuất dương học thẳng Kinh – Luật – Luận bằng Pāḷi và Sanskrit để về nước phiên dịch.
- 1952–1955 — Sri Lanka: học Pāḷi và Anh văn tại Colombo; năm 1955 được Đại học Tích Lan tặng bằng Pháp sư (Saddhammacariya).
- Ấn Độ (Nava Nālandā Mahāvihāra — Đại học Bihar): năm 1958 đỗ cử nhân Pāḷi và Anh văn, đỗ thủ khoa M.A về Pāḷi và Abhidhamma.
- Tháng 9-1961: với luận án “So sánh tập Pāḷi Trung Bộ kinh với tập Trung A-hàm chữ Hán” (The Chinese Madhyama Āgama and the Pāḷi Majjhima Nikāya), ngài là người Việt Nam đầu tiên đỗ Tiến sĩ Phật học – Văn học Pāḷi tại Ấn Độ, được đích thân Tổng thống Ấn Độ trao văn bằng.
Chính luận án đối chiếu Trung Bộ (Pāḷi) ↔ Trung A-hàm (Hán) của ngài là tinh thần “song tạng” mà cusiminhvan áp dụng cho mỗi cặp bài.
Năm 1964, ngài về nước, tiếp tục trước tác và dịch thuật.
Thời kỳ về nước hành đạo
Về nước năm 1964, ngài lần lượt giữ các chức vụ: Phó Viện trưởng Viện Cao đẳng Phật học Sài Gòn (1964–1965), Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh, Tổng vụ trưởng Tổng vụ Văn hóa và Giáo dục (GHPGVNTN, 1966–1975). Sau 1975, ngài lập Phật học viện Vạn Hạnh (Phú Nhuận), tập trung phiên dịch toàn bộ Kinh tạng Pāḷi sang Việt ngữ và mở các lớp giảng pháp cho Tăng Ni, Phật tử.
Năm 1980, ngài là Chánh Thư ký Ban Vận động Thống nhất Phật giáo; năm 1981 GHPGVN thành lập, ngài được suy cử Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký GHPGVN ba nhiệm kỳ I, II, III (1981–1997). Ngài là Đại biểu Quốc hội 4 khóa liền (VII–X, 1981–2002). Năm 1989 ngài sáng lập và làm Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam; năm 1991 lập Hội đồng Chỉ đạo Phiên dịch và Ấn hành Đại tạng kinh Việt Nam do chính ngài làm Chủ tịch. Năm 1997 ngài được suy cử Phó Chủ tịch Thường trực HĐTS; năm 2007 được suy tôn Phó Pháp chủ Hội đồng Chứng minh GHPGVN.
Công trình biên soạn và phiên dịch
Dịch Kinh tạng Pāḷi:
- Trường Bộ kinh (2 tập); 2. Trung Bộ kinh (3 tập); 3. Tương Ưng Bộ kinh (5 tập); 4. Tăng Chi Bộ kinh (5 tập); 5. Tiểu Bộ kinh — gồm: Pháp Cú (Kinh Lời Vàng), Kinh Phật Tự Thuyết, Kinh Phật Thuyết Như Vầy, Kinh Tập, Trưởng Lão Tăng Kệ, Trưởng Lão Ni Kệ, Bổn Sanh (2 tập).
Dịch từ Abhidhamma: Thắng Pháp Tập Yếu Luận (Abhidhammatthasaṅgaha).
Sách viết bằng tiếng Anh: Hsuan T’sang, The Pilgrim and Scholar (Huyền Trang — nhà chiêm bái và học giả); Fa-Hsien, The Unassuming Pilgrim (Pháp Hiển — nhà chiêm bái khiêm tốn); Milindapañha and Nāgasenabhikṣusūtra — A Comparative Study; The Chinese Madhyama Āgama and the Pāḷi Majjhima Nikāya (luận án Tiến sĩ); Some Teachings of Lord Buddha on Peace, Harmony and Human Dignity.
Sách viết bằng tiếng Việt (một số tiêu biểu): Phật pháp (đồng tác giả); Đường về xứ Phật (đồng tác giả); Những ngày và những lời dạy cuối cùng của Đức Phật; Đại thừa và sự liên hệ với Tiểu thừa (dịch); Sách dạy Pāḷi; Dàn bài Kinh Trung Bộ; Toát yếu Kinh Trường Bộ; Toát yếu Kinh Trung Bộ; Hành thiền; Lịch sử Đức Phật Thích-ca; Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi; Chánh pháp và hạnh phúc; Đạo đức Phật giáo và hạnh phúc con người; Đức Phật — nhà đại giáo dục; Tâm Từ mở ra, khổ đau khép lại; Những gì Đức Phật đã dạy; Chiến thắng ác ma…
Xây dựng cơ sở và giáo dục
Ngài góp phần lập Viện Cao đẳng Phật học Sài Gòn (1964), rồi đổi thành Viện Đại học Vạn Hạnh (1965) với cơ sở tại 222 Trương Minh Giảng, mở nhiều phân khoa (Phật học, Văn học và Khoa học Nhân văn, Khoa học Xã hội, Giáo dục…). Năm 1984 ngài mở Trường Cao cấp Phật học (nay là Học viện Phật giáo VN tại TP.HCM) và làm Hiệu trưởng; năm 1981 làm Hiệu trưởng Trường Cao cấp Phật học Cơ sở I tại chùa Quán Sứ (nay là Học viện Phật giáo VN tại Hà Nội). Năm 1997 ngài chủ trì khởi công, năm 1999 khánh thành cơ sở mới của Học viện tại TP.HCM.
Nhiếp hóa đồ chúng và đối ngoại
Năm 1984 ngài được suy tôn trú trì tổ đình Tường Vân; đại trùng tu thiền viện Vạn Hạnh (2001–2006). Với khả năng ngoại điển, ngài đại diện Giáo hội dự nhiều hội nghị quốc tế về giáo dục, tôn giáo và hòa bình (Nhật Bản, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Mexico, Mông Cổ, Ấn Độ, Nga, Ý, Pháp, Sri Lanka, Canada, Úc…), từng giữ Phó Chủ tịch Tổ chức Phật giáo châu Á vì Hòa bình (ABCP) và Chủ tịch Trung tâm Quốc gia ABCP Việt Nam. Năm 1996, Đại học Hoàng gia Mahachulalongkorn (Thái Lan) tặng ngài bằng Tiến sĩ danh dự. Năm 2000 Nhà nước trao Huân chương Độc lập hạng Nhì; năm 2012 trao Huân chương Hồ Chí Minh.
Viên tịch và di sản
Vào lúc 9 giờ sáng ngày 1 tháng 9 năm 2012 (16-7 âm lịch, mùa Vu Lan PL.2556), ngài nhẹ nhàng xả báo thân tại phương trượng thiền viện Vạn Hạnh, trụ thế 95 năm, 64 hạ lạp.
Ngài là người anh cả — sáng lập viên tổ chức Gia đình Phật tử Việt Nam, bậc thực học chơn tu với sự nghiệp to lớn về giáo dục và phiên dịch Đại Tạng Kinh Pāḷi – Việt. Như lời tiểu sử: kinh sách của ngài không phân biệt Nam – Bắc tông, “trong Tiểu có Đại, trong Đại có Tiểu” — đó là giáo lý giải thoát ngài đã thuyết giảng hơn 70 năm không mệt mỏi.
Nguồn: Toàn văn tiểu sử do Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam công bố (2-9-2012), đăng trên Giác Ngộ Online. Ảnh: Wikimedia Commons. Bản dịch kinh tra tại SuttaCentral.