MN115 - Kinh Đa Giới (Bahudhātuka Sutta)
Tóm tắt nhanh: Tại Sāvatthī, trong Kỳ-đà-lâm, Đức Phật dạy chư Tỷ-kheo rằng mọi sợ hãi, thất vọng, hoạn nạn đều đến từ người ngu, không đến từ người trí — như lửa bén từ chòi lau, chòi cỏ thiêu cả ngôi nhà lầu kín cửa — nên phải học để thành “người hiền trí, biết suy tư tìm hiểu”. Tôn giả Ānanda hỏi thế nào là người như vậy; Đức Phật đáp: người thiện xảo trong bốn điều — giới, xứ, duyên khởi, và cái có thể – không thể (xứ phi xứ). Về giới, Ngài nêu sáu cách đếm (18, 6, 6, 6, 3, 2 — cộng 41 giới), từ lần thứ hai mỗi lần đều do Ānanda hỏi “còn pháp môn nào khác”; về xứ, sáu cặp nội – ngoại xứ; về duyên khởi, mười hai chi theo chiều sanh và chiều diệt; về xứ phi xứ, 28 điều không thể xảy ra (người thành tựu chánh kiến không thể xem một hành nào là thường, không thể giết mẹ…), mỗi điều đi cặp với một điều có thể xảy ra (phàm phu thì có thể…). Ānanda tán thán và xin tên kinh; Đức Phật đặt năm tên: Đa giới, Bốn chuyển, Pháp kính, Trống bất tử, Vô thượng chiến thắng.
Bối cảnh
Kinh được thuyết tại Sāvatthī (Xá-vệ), kinh đô nước Kosala, trong rừng Jetavana (Kỳ-đà-lâm), ngôi tịnh xá do ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) dâng cúng. Không có ai đến hỏi trước: chính Đức Phật mở đầu, gọi các Tỷ-kheo (bhikkhavo), họ thưa bhadante (“Bạch Thế Tôn”). Người hỏi trong suốt bài kinh là Tôn giả Ānanda, thị giả của Đức Phật, xưng hô với Ngài bằng bhante (“bạch Thế Tôn”); Đức Phật gọi lại “này Ānanda”.
Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “bhikkhavo”ti. “Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại tịnh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
Pāḷi: mn115:1.1–1.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn115/vi/minh_chau)Hai chữ then chốt của cả bài: kusala — bản Việt dịch “thiện xảo”, nghĩa là thông thạo, khéo biết (không phải “thiện” đối với “ác”); và vīmaṁsaka — “biết suy tư tìm hiểu”, người biết xét cho ra lẽ. Kinh là bài thứ năm của phẩm Anupada (Anupadavagga), thuộc phần Năm mươi kinh cuối (Uparipaṇṇāsa) của Trung Bộ — dòng cuối bản Pāḷi ghi “Bahudhātukasuttaṁ niṭṭhitaṁ pañcamaṁ”.
Lửa từ chòi lau: mọi sợ hãi đến từ người ngu
Đức Phật nêu ba thứ — sợ hãi (bhaya), thất vọng (upaddava), hoạn nạn (upasagga) — và nói cả ba đều sanh từ người ngu (bāla), không sanh từ người hiền trí (paṇḍita). Ảnh dụ: lửa bén từ một ngôi nhà lau sậy hay một ngôi nhà cỏ có thể thiêu rụi cả những ngôi nhà có lầu gác (kūṭāgāra) — trát vữa trong ngoài, kín gió, then cài chắc, cửa sổ đóng kỹ. Kết luận: kẻ ngu mang theo sợ hãi, thất vọng, hoạn nạn; người trí thì không; “không có sợ hãi nào đến từ người trí”. Vì vậy các Tỷ-kheo phải học tập: “Chúng ta sẽ thành người hiền trí, biết suy tư tìm hiểu.”
“Yāni kānici, bhikkhave, bhayāni uppajjanti sabbāni tāni bālato uppajjanti, no paṇḍitato; ye keci upaddavā uppajjanti sabbe te bālato uppajjanti, no paṇḍitato; ye keci upasaggā uppajjanti sabbe te bālato uppajjanti, no paṇḍitato. Seyyathāpi, bhikkhave, naḷāgārā vā tiṇāgārā vā aggi mutto kūṭāgārānipi dahati ullittāvalittāni nivātāni phusitaggaḷāni pihitavātapānāni; evameva kho, bhikkhave, yāni kānici bhayāni uppajjanti sabbāni tāni bālato uppajjanti, no paṇḍitato; ye keci upaddavā uppajjanti sabbe te bālato uppajjanti, no paṇḍitato; ye keci upasaggā uppajjanti sabbe te bālato uppajjanti, no paṇḍitato. Iti kho, bhikkhave, sappaṭibhayo bālo, appaṭibhayo paṇḍito; saupaddavo bālo, anupaddavo paṇḍito; saupasaggo bālo, anupasaggo paṇḍito. Natthi, bhikkhave, paṇḍitato bhayaṁ, natthi paṇḍitato upaddavo, natthi paṇḍitato upasaggo. Tasmātiha, bhikkhave, ‘paṇḍitā bhavissāma vīmaṁsakā’ti— evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
—Phàm có những sợ hãi gì sanh khởi, này các Tỷ-kheo, tất cả những sợ hãi ấy sanh khởi cho người ngu, không phải cho người hiền trí (pandita). Phàm có những thất vọng gì sanh khởi, này các Tỷ-kheo, tất cả thất vọng ấy sanh khởi cho người ngu, không phải cho người hiền trí. Phàm có những hoạn nạn gì sanh khởi, này các Tỷ-kheo, tất cả hoạn nạn ấy sanh khởi cho người ngu, không phải cho người hiền trí. Ví như, này các Tỷ-kheo, tia lửa từ ngôi nhà bằng cỏ, thiêu cháy ngôi nhà có lầu gác được trét trong trét ngoài, được che chở khỏi gió, có chốt khóa gài kỹ, có cửa sổ đóng kỹ; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những sợ hãi gì sanh khởi, này các Tỷ-kheo, tất cả những sợ hãi ấy sanh khởi cho người ngu, không phải cho người hiền trí; phàm có những thất vọng gì sanh khởi, này các Tỷ-kheo, tất cả những thất vọng ấy sanh khởi cho người ngu, không phải cho người hiền trí; phàm có những hoạn nạn gì sanh khởi, này các Tỷ-kheo, tất cả những hoạn nạn ấy sanh khởi cho người ngu, không phải cho người hiền trí. Như vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu đầy những sợ hãi, người hiền trí không có sợ hãi. Kẻ ngu đầy những thất vọng, người hiền trí không có thất vọng. Kẻ ngu đầy những hoạn nạn, người hiền trí không có hoạn nạn. Này các Tỷ-kheo, không có sợ hãi cho người hiền trí, không có thất vọng cho người hiền trí, không có hoạn nạn cho người hiền trí. Do vậy, này các Tỷ-kheo, “Chúng tôi sẽ thành người hiền trí, biết suy tư tìm hiểu”, như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Pāḷi: mn115:2.1–2.13 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn115/vi/minh_chau)Lưu ý bản dịch. Bản Việt chỉ nói “tia lửa từ ngôi nhà bằng cỏ”; Pāḷi nêu hai loại — naḷāgārā vā tiṇāgārā vā, “từ nhà lau sậy hay nhà cỏ”. Bản Việt dịch bālato uppajjanti là sợ hãi “sanh khởi cho người ngu”; Pāḷi bālato là “từ người ngu” (Bhikkhu Sujato: come from the foolish) — tức người ngu là nơi tai họa phát ra, không chỉ là người hứng chịu.
Theo Chú giải, ba chữ ấy khác nhau như ba giai đoạn của một làng bị cướp dọa: nghe tin cướp hẹn ngày đến đánh, dân làng kinh hoảng — đó là bhaya, tâm run sợ; họ ôm của chạy vào rừng, nằm đất, bị muỗi mòng cắn, dẫm gai — đó là upaddava, cảnh tán loạn không yên; cướp không đến, họ quay về làng thì bị vây, đốt cửa, giết người, cướp sạch, người sống sót ngồi bám vào bóng tường than khóc — đó là upasagga, cảnh bị dồn ép, mắc kẹt (Ps (PTS) IV 102–103). Chú giải còn nói “từ người ngu” là thế này: kẻ ngu thèm quyền thế tụ tập bọn du đãng, cướp phá làng mạc khiến dân bỏ nhà mà đi, Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni cũng phải rời trú xứ; hay hai Tỷ-kheo ngu cãi nhau mà thành đại tranh chấp như các Tỷ-kheo ở Kosambī — cả bốn chúng đều lâm vào sợ hãi (Ps (PTS) IV 103–104).
Bốn điều làm nên người hiền trí
Nghe xong, Tôn giả Ānanda hỏi: đến mức nào thì một Tỷ-kheo đáng gọi là “người hiền trí, biết suy tư tìm hiểu”? Đức Phật đáp bằng bốn điều thông thạo: về giới (dhātukusala), về xứ (āyatanakusala), về duyên khởi (paṭiccasamuppādakusala), và về xứ phi xứ — cái có thể và cái không thể xảy ra (ṭhānāṭhānakusala). Bốn điều này là bốn phần của bài kinh, cũng là lý do một trong năm tên của kinh là “Bốn chuyển” (xem Năm tên gọi). Theo Chú giải, Ānanda hỏi vì thấy bài pháp dừng lại khi chưa đến chỗ cùng tột, nên thỉnh Đấng Thập Lực nói cho trọn (Ps (PTS) IV 104).
Evaṁ vutte, āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca: “kittāvatā nu kho, bhante, paṇḍito bhikkhu ‘vīmaṁsako’ti alaṁvacanāyā”ti? “Yato kho, ānanda, bhikkhu dhātukusalo ca hoti, āyatanakusalo ca hoti, paṭiccasamuppādakusalo ca hoti, ṭhānāṭhānakusalo ca hoti— ettāvatā kho, ānanda, paṇḍito bhikkhu ‘vīmaṁsako’ti alaṁvacanāyā”ti.
Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
—Ðến mức độ nào, bạch Thế Tôn, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo là người hiền trí, biết suy tư tìm hiểu?”
—Cho đến khi, này Ānanda , Tỷ-kheo thiện xảo về giới, thiện xảo về xứ, thiện xảo về duyên khởi và thiện xảo về xứ phi xứ, cho đến mức độ như vậy, này Ānanda , là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo là người hiền trí, biết suy tư tìm hiểu”.
Pāḷi: mn115:3.1–3.4 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn115/vi/minh_chau)
Khuôn chung của sáu cách nói về giới
Phần đầu và dài nhất là giới (dhātu — yếu tố, thành phần). Đức Phật không đưa một danh sách duy nhất mà đưa sáu cách chia khác nhau; năm lần sau đều đi theo cùng một khuôn:
- Ānanda hỏi: “Nhưng bạch Thế Tôn, có thể có pháp môn (pariyāya — cách trình bày) nào khác, là vừa đủ để nói: ‘Tỷ-kheo thiện xảo về giới’?”
- Đức Phật: “Có thể có, này Ānanda.”
- Ngài nêu con số và tên từng giới của nhóm mới.
- Câu kết lặp: “cho đến khi biết được, thấy được (jānāti passati) các giới này… là vừa đủ để nói: ‘Tỷ-kheo thiện xảo về giới’.”
Lần thứ nhất (mười tám giới) không có bước 1–2 vì đó là câu hỏi đầu tiên. Dưới đây trích nguyên lần thứ nhất làm khung.
“Kittāvatā pana, bhante, ‘dhātukusalo bhikkhū’ti alaṁvacanāyā”ti? “Aṭṭhārasa kho imā, ānanda, dhātuyo— cakkhudhātu, rūpadhātu, cakkhuviññāṇadhātu; sotadhātu, saddadhātu, sotaviññāṇadhātu; ghānadhātu, gandhadhātu, ghānaviññāṇadhātu; jivhādhātu, rasadhātu, jivhāviññāṇadhātu; kāyadhātu, phoṭṭhabbadhātu, kāyaviññāṇadhātu; manodhātu, dhammadhātu, manoviññāṇadhātu. Imā kho, ānanda, aṭṭhārasa dhātuyo yato jānāti passati— ettāvatāpi kho, ānanda, ‘dhātukusalo bhikkhū’ti alaṁvacanāyā”ti.
—Ðến mức độ nào, bạch Thế Tôn, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về giới?”
—Này Ānanda , có mười tám giới này: nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới; nhĩ giới, thanh giới, nhĩ thức giới; tỷ giới, hương giới, tỷ thức giới; thiệt giới, vị giới, thiệt thức giới; thân giới, xúc giới, thân thức giới; ý giới, pháp giới, ý thức giới. Này Ānanda , cho đến khi biết được, thấy được mười tám giới này, cho đến mức độ như vậy, này Ānanda , là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về giới”.
Pāḷi: mn115:4.1–4.10 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn115/vi/minh_chau)
1. Mười tám giới — sáu căn, sáu cảnh, sáu thức
(Khung trích ở trên.) Mười tám giới đi thành sáu bộ ba, mỗi bộ gồm một căn, cảnh của căn ấy, và thức sanh từ đó: nhãn – sắc – nhãn thức; nhĩ – thanh – nhĩ thức; tỷ – hương – tỷ thức; thiệt – vị – thiệt thức; thân – xúc – thân thức; ý – pháp – ý thức. Theo Chú giải, trong mười tám giới có “mười giới rưỡi” thuộc sắc và “bảy giới rưỡi” thuộc phi sắc, tất cả gom lại là năm uẩn; câu “biết được, thấy được” chỉ con đường (Đạo) đi cùng tuệ quán (Ps (PTS) IV 104).
2. Sáu giới: đất, nước, lửa, gió, hư không, thức
Từ đây Ānanda bắt đầu hỏi “còn pháp môn nào khác”. Nhóm thứ hai là sáu giới quen thuộc: bốn đại (tứ đại) cộng thêm hư không và thức. Theo Chú giải, sáu giới này được nói để thấy “cái thân có thức” là trống rỗng, không có một chúng sanh nào trong đó (Ps (PTS) IV 104).
“Siyā pana, bhante, aññopi pariyāyo, yathā ‘dhātukusalo bhikkhū’ti alaṁvacanāyā”ti? “Siyā, ānanda. Chayimā, ānanda, dhātuyo— pathavīdhātu, āpodhātu, tejodhātu, vāyodhātu, ākāsadhātu, viññāṇadhātu. Imā kho, ānanda, cha dhātuyo yato jānāti passati— ettāvatāpi kho, ānanda, ‘dhātukusalo bhikkhū’ti alaṁvacanāyā”ti.
—Nhưng bạch Thế Tôn, có thể có pháp môn nào khác là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về giới?”
—Có thể có, này Ānanda . Này Ānanda , có sáu giới này: địa giới, thủy giới, phong giới, hỏa giới, không giới, thức giới. Này Ānanda , cho đến khi biết được, thấy được sáu giới này, cho đến mực độ như vậy, này Ānanda , là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về giới”.
Pāḷi: mn115:5.1–5.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn115/vi/minh_chau)Lưu ý bản dịch. Bản Việt kê “địa giới, thủy giới, phong giới, hỏa giới” — đảo chỗ gió và lửa. Thứ tự Pāḷi là pathavīdhātu, āpodhātu, tejodhātu, vāyodhātu — đất, nước, lửa, gió — rồi mới đến hư không (ākāsa) và thức (viññāṇa).
3. Sáu giới: lạc, khổ, hỷ, ưu, xả, vô minh
Nhóm thứ ba là những cảm thọ cộng thêm vô minh: lạc (sukha), khổ (dukkha), hỷ (somanassa), ưu (domanassa), xả (upekkhā), vô minh (avijjā). Theo Chú giải, bốn giới đầu đi thành hai cặp đối nghịch, còn hai giới sau đi với nhau vì giống nhau: xả và vô minh đều “không hiển lộ rõ” (avibhūta) (Ps (PTS) IV 105).
Chayimā, ānanda, dhātuyo— sukhadhātu, dukkhadhātu, somanassadhātu, domanassadhātu, upekkhādhātu, avijjādhātu.
Này Ānanda , có sáu giới này: lạc giới, khổ giới, hỷ giới, ưu giới, xả giới, vô minh giới.
Pāḷi: mn115:6.3–6.4 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn115/vi/minh_chau)4. Sáu giới: dục – ly dục, sân – vô sân, hại – bất hại
Nhóm thứ tư là ba cặp đối nghịch: dục (kāma) – ly dục (nekkhamma), sân (byāpāda) – vô sân (abyāpāda), hại (vihiṁsā) – bất hại (avihiṁsā). Theo Chú giải, nên hiểu nhóm này như các loại tầm (suy nghĩ) dục, sân, hại trong kinh Song Tầm (MN19); Vi Diệu Pháp định nghĩa “dục giới” ở đây là “tầm, tư duy liên hệ đến dục” (Ps (PTS) IV 105).
Chayimā, ānanda, dhātuyo— kāmadhātu, nekkhammadhātu, byāpādadhātu, abyāpādadhātu, vihiṁsādhātu, avihiṁsādhātu.
Này Ānanda , có sáu giới này: dục giới, ly dục giới, sân giới, vô sân giới, hại giới, bất hại giới.
Pāḷi: mn115:7.3–7.4 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn115/vi/minh_chau)5. Ba giới: dục, sắc, vô sắc
Nhóm thứ năm là ba cõi: dục giới (kāmadhātu), sắc giới (rūpadhātu), vô sắc giới (arūpadhātu). Chữ kāmadhātu trùng với chữ mở đầu nhóm thứ tư nhưng nghĩa khác: theo Chú giải, ở đây dục giới là năm uẩn thuộc cõi dục, sắc giới là năm uẩn thuộc cõi sắc, vô sắc giới là bốn uẩn thuộc cõi vô sắc (Ps (PTS) IV 105).
Tisso imā, ānanda, dhātuyo— kāmadhātu, rūpadhātu, arūpadhātu.
Này Ānanda , có ba giới này: dục giới, sắc giới, vô sắc giới.
Pāḷi: mn115:8.3–8.4 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn115/vi/minh_chau)6. Hai giới: hữu vi, vô vi
Nhóm cuối chỉ còn hai: hữu vi (saṅkhata — cái do duyên tạo thành) và vô vi (asaṅkhata). Theo Chú giải, hữu vi là tên khác của năm uẩn, vô vi là tên khác của Niết-bàn; và mọi nhóm từ nhóm thứ hai trở đi đều phải được “lấp đầy” bằng mười tám giới ở nhóm đầu (Ps (PTS) IV 104–106).
Dve imā, ānanda, dhātuyo— saṅkhatādhātu, asaṅkhatādhātu.
Này Ānanda , có hai giới này: hữu vi giới và vô vi giới.
Pāḷi: mn115:9.3–9.4 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn115/vi/minh_chau)Bảng tổng hợp sáu cách nói về giới
| # | Nhóm | Các giới | Pāḷi |
|---|---|---|---|
| 1 | 18 | nhãn, sắc, nhãn thức · nhĩ, thanh, nhĩ thức · tỷ, hương, tỷ thức · thiệt, vị, thiệt thức · thân, xúc, thân thức · ý, pháp, ý thức | cakkhu-, rūpa-, cakkhuviññāṇa-dhātu … mano-, dhamma-, manoviññāṇa-dhātu |
| 2 | 6 | đất, nước, lửa, gió, hư không, thức | pathavī, āpo, tejo, vāyo, ākāsa, viññāṇa |
| 3 | 6 | lạc, khổ, hỷ, ưu, xả, vô minh | sukha, dukkha, somanassa, domanassa, upekkhā, avijjā |
| 4 | 6 | dục, ly dục, sân, vô sân, hại, bất hại | kāma, nekkhamma, byāpāda, abyāpāda, vihiṁsā, avihiṁsā |
| 5 | 3 | dục, sắc, vô sắc | kāma, rūpa, arūpa |
| 6 | 2 | hữu vi, vô vi | saṅkhata, asaṅkhata |
Cộng lại: 18 + 6 + 6 + 6 + 3 + 2 = 41 giới. Kinh không tự cộng; con số 41 là theo Anālayo (vol. 2, tr. 648).
Thiện xảo về xứ: sáu cặp nội – ngoại xứ
Ānanda hỏi tiếp về xứ (āyatana). Đức Phật kê sáu cặp, mỗi cặp một xứ bên trong (căn) và một xứ bên ngoài (cảnh): mắt và sắc, tai và tiếng, mũi và hương, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp. Lần này không có câu “còn pháp môn nào khác”. Theo Chú giải, ở đây “biết được, thấy được” cũng chỉ con đường (Đạo) đi cùng tuệ quán (Ps (PTS) IV 106).
“Kittāvatā pana, bhante, ‘āyatanakusalo bhikkhū’ti alaṁvacanāyā”ti? “Cha kho panimāni, ānanda, ajjhattikabāhirāni āyatanāni— cakkhu ceva rūpā ca sotañca saddā ca ghānañca gandhā ca jivhā ca rasā ca kāyo ca phoṭṭhabbā ca mano ca dhammā ca. Imāni kho, ānanda, cha ajjhattikabāhirāni āyatanāni yato jānāti passati— ettāvatā kho, ānanda, ‘āyatanakusalo bhikkhū’ti alaṁvacanāyā”ti.
—Nhưng bạch Thế Tôn, cho đến mức độ nào là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về xứ?”
—Này Ānanda , có sáu nội xứ, ngoại xứ này: mắt và sắc, tai và tiếng, mũi và hương, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp. Này Ānanda , cho đến khi biết được, thấy được sáu nội ngoại xứ này, cho đến mức độ như vậy, này Ānanda , là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về xứ”.
Pāḷi: mn115:10.1–10.5 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn115/vi/minh_chau)Thiện xảo về duyên khởi: mười hai chi, chiều sanh và chiều diệt
Câu hỏi thứ ba là về duyên khởi (paṭiccasamuppāda). Đức Phật nêu công thức gốc — “cái này có thì cái kia có, cái này sanh thì cái kia sanh; cái này không có thì cái kia không có, cái này diệt thì cái kia diệt” — rồi đi mười hai chi theo chiều sanh: vô minh → hành → thức → danh sắc → sáu xứ (lục nhập) → xúc → thọ → ái → thủ → hữu → sanh → già chết cùng sầu, bi, khổ, ưu, não — “đó là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn”. Rồi đi ngược theo chiều diệt: vô minh diệt không còn dư tàn thì hành diệt… cho đến già chết, sầu bi khổ ưu não diệt — “đó là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn”. Chú giải không giải lại, chỉ nói phần này đã giải rộng ở Đại kinh Đoạn tận ái (MN38) (Ps (PTS) IV 106).
“Kittāvatā pana, bhante, ‘paṭiccasamuppādakusalo bhikkhū’ti alaṁvacanāyā”ti? “Idhānanda, bhikkhu evaṁ pajānāti: ‘imasmiṁ sati idaṁ hoti, imassuppādā idaṁ uppajjati, imasmiṁ asati idaṁ na hoti, imassa nirodhā idaṁ nirujjhati, yadidaṁ— avijjāpaccayā saṅkhārā, saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ, viññāṇapaccayā nāmarūpaṁ, nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṁ, saḷāyatanapaccayā phasso, phassapaccayā vedanā, vedanāpaccayā taṇhā, taṇhāpaccayā upādānaṁ, upādānapaccayā bhavo, bhavapaccayā jāti, jātipaccayā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassūpāyāsā sambhavanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti. Avijjāya tveva asesavirāganirodhā saṅkhāranirodho, saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho, viññāṇanirodhā nāmarūpanirodho, nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodho, saḷāyatananirodhā phassanirodho, phassanirodhā vedanānirodho, vedanānirodhā taṇhānirodho, taṇhānirodhā upādānanirodho, upādānanirodhā bhavanirodho, bhavanirodhā jātinirodho, jātinirodhā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassūpāyāsā nirujjhanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti’. Ettāvatā kho, ānanda, ‘paṭiccasamuppādakusalo bhikkhū’ti alaṁvacanāyā”ti.
—Nhưng bạch Thế Tôn, cho đến mức độ nào là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về duyên khởi?”
—Ở đây, này Ānanda , Tỷ-kheo biết như sau: Nếu cái này có, cái kia có; do cái này sanh, cái kia sanh. Nếu cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt. Tức là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; do duyên sanh lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy, này Ānanda , là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Nhưng do sự diệt trừ, sự ly tham hoàn toàn của chính vô minh này, các hành diệt; do các hành diệt, danh sắc diệt; do danh sắc diệt, lục nhập diệt; do lục nhập diệt, xúc diệt; do xúc diệt, thọ diệt; do thọ diệt, ái diệt; do ái diệt, thủ diệt; do thủ diệt, hữu diệt; do hữu diệt, sanh diệt; do sanh diệt, lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt hoàn toàn của khổ uẩn này. Cho đến như vậy, này Ānanda , là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về duyên khởi”.
Pāḷi: mn115:11.1–11.29 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn115/vi/minh_chau)Lưu ý bản dịch. Ở chiều diệt, bản Việt viết “các hành diệt; do các hành diệt, danh sắc diệt” — sót mất một mắt xích. Pāḷi có đủ: saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho, viññāṇanirodhā nāmarūpanirodho — “do hành diệt nên thức diệt; do thức diệt nên danh sắc diệt”. Chiều sanh trong bản Việt thì đủ mười hai chi.
Khuôn chung của các trường hợp “có thể – không thể”
Câu hỏi thứ tư là về xứ phi xứ (ṭhānāṭhāna): ṭhāna là “chỗ đứng, khả năng”, aṭṭhāna là “không có chỗ đứng” — điều không thể xảy ra. Mọi trường hợp đều đúc theo một khuôn hai vế:
- Vế không thể: “Tỷ-kheo biết rõ: điều này không thể có, không có cơ hội (aṭṭhānametaṁ anavakāso) — rằng [người hay việc A] lại [làm X]. Điều ấy không xảy ra.”
- Vế có thể: “Và biết rõ: điều này có thể có (ṭhānañca kho etaṁ vijjati) — rằng [người hay việc B] [làm X]. Điều ấy có xảy ra.”
Ở chín trường hợp đầu, A là người thành tựu chánh kiến (diṭṭhisampanno puggalo) và B là phàm phu (puthujjana). Theo Chú giải, “người thành tựu chánh kiến” là bậc Thánh đệ tử đã chứng Dự lưu, thành tựu chánh kiến của Đạo (Ps (PTS) IV 107). Các nhóm sau đổi cặp đối chiếu: hai vị – một vị (Phật, vua Chuyển luân), nữ – nam (năm địa vị); ở bốn nhóm nghiệp, cùng một loại hành (ác hành hay thiện hành) mà hai vế khác nhau ở kết quả — quả khả ái hay không khả ái, cõi lành hay cõi dữ. Kinh trích dưới đây là lần đầu tiên của khuôn: xem một hành nào đó là thường.
“Kittāvatā pana, bhante, ‘ṭhānāṭhānakusalo bhikkhū’ti alaṁvacanāyā”ti? “Idhānanda, bhikkhu ‘aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ diṭṭhisampanno puggalo kañci saṅkhāraṁ niccato upagaccheyya, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ puthujjano kañci saṅkhāraṁ niccato upagaccheyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti;
—Nhưng cho đến mức độ nào, bạch Thế Tôn, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về xứ phi xứ?”
—Ở đây, này Ānanda , Tỷ-kheo biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: khi một người thành tựu (chánh) kiến lại đi đến các hành (samkhara) và xem là thường còn. Sự kiện như vậy không xảy ra”. Và vị ấy biết rằng: “Sự kiện này có xảy ra, có hiện hữu: Khi một người phàm phu đi đến các hành và xem là thường còn. Sự hiện như vậy có xảy ra”.
Pāḷi: mn115:12.1–12.3 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn115/vi/minh_chau)Theo Chú giải, aṭṭhāna phủ nhận nhân, anavakāsa phủ nhận duyên — cả hai cùng nói “không có lý do nào” cho việc ấy; “một hành nào đó” là bất kỳ pháp hữu vi nào; các pháp siêu thế không thể làm đối tượng cho tà kiến, như hòn sắt nung đỏ suốt ngày thì ruồi không đậu được (Ps (PTS) IV 106–107).
1. Thường, lạc, ngã — ba cách thấy sai
Ba trường hợp đầu: người thành tựu chánh kiến không thể xem một hành nào là thường (đã trích ở trên), không thể xem một hành nào là lạc, không thể xem một pháp nào là tự ngã; phàm phu thì có thể. Ở vế thứ ba, kinh đổi chữ: không nói “hành” (saṅkhāra) mà nói “pháp” (dhamma). Theo Chú giải, đổi như vậy để gồm cả các khái niệm chế định (như biến xứ — kasiṇa), vốn không phải là hành mà người ta vẫn có thể chấp là ngã (Ps (PTS) IV 107).
‘aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ diṭṭhisampanno puggalo kañci saṅkhāraṁ sukhato upagaccheyya, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ puthujjano kañci saṅkhāraṁ sukhato upagaccheyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti. ‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ diṭṭhisampanno puggalo kañci dhammaṁ attato upagaccheyya, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti, ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ puthujjano kañci dhammaṁ attato upagaccheyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti.
Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một người thành tựu (chánh) kiến, lại có thể đi đến các hành với ý niệm lạc thọ. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra, có hiện hữu: Khi một người phàm phu đi đến các hành với ý niệm lạc thọ. Sự kiện như vậy có xảy ra”. Vị ấy biết rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một người nào thành tựu (chánh) kiến, lại có thể đi đến các pháp với ý niệm tự ngã. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rằng: “Sự kiện này có xảy ra, có hiện hữu: Khi một người phàm phu đi đến các pháp với ý niệm tự ngã. Sự kiện như vậy có xảy ra”.
Pāḷi: mn115:12.4–12.7 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn115/vi/minh_chau)Lưu ý bản dịch. “Đi đến các hành với ý niệm lạc thọ” dịch kañci saṅkhāraṁ sukhato upagaccheyya — nghĩa là “xem một hành nào đó là lạc”; Pāḷi không nói đến “thọ”. Cũng vậy, “đi đến các pháp với ý niệm tự ngã” là kañci dhammaṁ attato upagaccheyya — “xem một pháp nào đó là tự ngã”. Ba vế này chính là ba điều ngược với vô thường, khổ, vô ngã.
2. Sáu việc: giết mẹ, giết cha, giết A-la-hán, làm Như Lai chảy máu, phá Tăng, theo thầy khác
Người thành tựu chánh kiến không thể: (1) giết mẹ; (2) giết cha; (3) giết một vị A-la-hán; (4) với ác tâm làm Như Lai chảy máu; (5) phá hòa hợp Tăng; (6) nhận một vị thầy khác (aññaṁ satthāraṁ uddiseyya). Phàm phu thì có thể làm cả sáu việc. Năm việc đầu là năm nghiệp vô gián (ānantariya) mà Chú giải giải rất kỹ: giết A-la-hán là giết vị A-la-hán thân người; “làm chảy máu” Như Lai thì chỉ có máu tụ bên trong, như khi mảnh đá do Devadatta lăn xuống văng trúng chân Ngài — còn y sĩ Jīvaka mổ da lấy máu độc theo ý Ngài thì là việc phước (Ps (PTS) IV 108–111). Về việc thứ sáu, Chú giải nói: dù ở một đời khác, người ấy cũng không nhận một giáo chủ ngoại đạo làm thầy mình (Ps (PTS) IV 113).
‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ diṭṭhisampanno puggalo mātaraṁ jīvitā voropeyya, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ puthujjano mātaraṁ jīvitā voropeyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti. ‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ diṭṭhisampanno puggalo pitaraṁ jīvitā voropeyya …pe… arahantaṁ jīvitā voropeyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ diṭṭhisampanno puggalo duṭṭhacitto tathāgatassa lohitaṁ uppādeyya, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ puthujjano duṭṭhacitto tathāgatassa lohitaṁ uppādeyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti. ‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ diṭṭhisampanno puggalo saṅghaṁ bhindeyya, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ puthujjano saṅghaṁ bhindeyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti. ‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ diṭṭhisampanno puggalo aññaṁ satthāraṁ uddiseyya, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ puthujjano aññaṁ satthāraṁ uddiseyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti.
Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: khi một người thành tựu (chánh) kiến, có thể giết sinh mạng người mẹ. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi một người phàm phu có thể giết sinh mạng người mẹ. Sự kiện như vậy có xảy ra”. Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một người thành tựu (chánh) kiến, có thể giết sinh mạng người cha … có thể giết sinh mạng A-la-hán. Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một người thành tựu (chánh) kiến có thể với ác tâm làm Như Lai chảy máu. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi một người phàm phu với ác tâm làm Như Lai chảy máu. Sự kiện như vậy có xảy ra”. Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một người thành tựu (chánh) kiến có thể phá hòa hợp Tăng. Sự kiện như vậy không xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi một người phàm phu có thể phá hòa hợp với Tăng. Sự kiện như vậy có xảy ra”. Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một người thành tựu (chánh) kiến có thể đề cao một Ðạo sư khác. Sự kiên như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi một người phàm phu đề cao một Ðạo sư khác. Sự kiện như vậy có xảy ra”.
Pāḷi: mn115:13.1–13.10 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn115/vi/minh_chau)Lưu ý bản dịch. Ở việc giết cha và giết A-la-hán, bản Việt chỉ còn vế “không thể” (“…có thể giết sinh mạng người cha … có thể giết sinh mạng A-la-hán”) rồi chuyển sang việc khác, bỏ mất vế “phàm phu thì có thể”. Pāḷi viết tắt bằng …pe… nhưng câu 13.4 kết bằng arahantaṁ jīvitā voropeyya, ṭhānametaṁ vijjatī — “giết A-la-hán, điều ấy có xảy ra”, tức là có đủ cả vế phàm phu.
3. Hai Phật, hai Chuyển luân vương trong một thế giới
Không thể có hai vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác cùng xuất hiện trong một thế giới (lokadhātu) “không trước không sau” (apubbaṁ acarimaṁ — tức cùng một thời); chỉ có thể một vị. Cũng vậy với hai vị vua Chuyển luân (cakkavatti). Theo Chú giải, ở câu về hai vị Phật, “một thế giới” là mười ngàn thế giới — cõi rung động khi Như Lai nhập thai, đản sanh, thành đạo, chuyển pháp luân, xả thọ hành và nhập Niết-bàn (Ps (PTS) IV 113–114); ở câu về hai vua Chuyển luân, “một thế giới” là một thế giới-luân (cakkavāḷa), và “không trước không sau” tính từ lúc xe báu (cakkaratana) xuất hiện cho đến khi xe báu biến mất (Ps (PTS) IV 121).
‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ ekissā lokadhātuyā dve arahanto sammāsambuddhā apubbaṁ acarimaṁ uppajjeyyuṁ, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ ekissā lokadhātuyā eko arahaṁ sammāsambuddho uppajjeyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti. ‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ ekissā lokadhātuyā dve rājāno cakkavattino apubbaṁ acarimaṁ uppajjeyyuṁ, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ ekissā lokadhātuyā eko rājā cakkavattī uppajjeyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti.
Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi cùng trong một thế giới (lokadhatu), hai A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có thể xuất hiện (một lần) không trước không sau. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi cùng trong một thế giới, một A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có thể xuất hiện. Sự kiện như vậy có xảy ra”. Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra: Khi cùng trong một thế giới, hai vua Chuyển Luân có thể xuất hiện (một lần), không trước không sau. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi trong một thế giới, một vị vua Chuyển Luân có thể xuất hiện. Sự kiện như vậy có xảy ra”.
Pāḷi: mn115:14.1–14.4 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn115/vi/minh_chau)4. Năm địa vị: Phật, Chuyển luân vương, Sakka, Māra, Phạm thiên
Kinh nói một người nữ không thể là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác; không thể là vua Chuyển luân; không thể làm Sakka (Đế-thích), làm Māra (Ma vương), làm Phạm thiên; một người nam thì có thể. Cần đọc đúng chữ: arahaṁ sammāsambuddho ở đây là danh hiệu của một vị Phật Chánh Đẳng Giác, không phải nói người nữ không chứng được quả A-la-hán. Anālayo cũng nhấn mạnh rằng điều kinh nói ở đây không hàm ý nữ giới không thể giải thoát (vol. 2, tr. 652, chú thích 70). Chú giải giải thích bằng các điều kiện phát đại nguyện trong Phật sử, và nói “Phạm thiên” ở đây là địa vị Đại Phạm thiên — người nữ tu thiền vẫn có thể sanh vào hàng Phạm chúng thiên (Ps (PTS) IV 122–123). Bản Hán MA181 không có nhóm năm điều này (xem Đối chiếu).
‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ itthī arahaṁ assa sammāsambuddho, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ puriso arahaṁ assa sammāsambuddho, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti. ‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ itthī rājā assa cakkavattī, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ puriso rājā assa cakkavattī, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti. ‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ itthī sakkattaṁ kareyya … mārattaṁ kareyya … brahmattaṁ kareyya, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ puriso sakkattaṁ kareyya … mārattaṁ kareyya … brahmattaṁ kareyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti.
Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một nữ nhân có thể thành A-La-Hán, Chánh Ðẳng Giác. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: Sự kiện này có xảy ra: Khi một nam nhân có thể thành một A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Sự kiện như vậy có xảy ra. “Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một nữ nhân có thể thành Sakka (Ðế -thích). Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra, có hiện hữu: Khi một nam nhân có thể trở thành Sakka. Sự kiện như vậy có xảy ra”. Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một nữ nhân có thể trở thành Ma vương. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra khi một nam nhân trở thành một Ma vương. Sự kiện như vậy có xảy ra”. Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một nữ nhân có thể trở thành Phạm thiên. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi một nam nhân có thể trở thành Phạm thiên. Sự kiện này như vậy có xảy ra”.
Pāḷi: mn115:15.1–15.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn115/vi/minh_chau)5. Ác hành của thân, khẩu, ý không cho quả khả ái
Không thể có chuyện ác hành của thân (kāyaduccarita), của khẩu, của ý sanh ra quả báo khả ái, khả hỷ, khả lạc (iṭṭho kanto manāpo); chỉ có thể sanh ra quả báo không khả ái, không khả hỷ, không khả lạc. Theo Chú giải, như hạt cây nimba, hạt kosātakī không bao giờ cho trái ngọt, ác hành không cho quả ngọt; như hạt mía, hạt lúa sāli cho vị ngọt thơm, thiện hành cho quả ngọt — Chú giải dẫn câu kệ “gieo giống nào thì gặt quả nấy” (Ps (PTS) IV 123–124).
‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ kāyaduccaritassa iṭṭho kanto manāpo vipāko nibbatteyya, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ kāyaduccaritassa aniṭṭho akanto amanāpo vipāko nibbatteyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti. ‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ vacīduccaritassa …pe… yaṁ manoduccaritassa iṭṭho kanto manāpo vipāko nibbatteyya, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ vacīduccaritassa …pe… yaṁ manoduccaritassa aniṭṭho akanto amanāpo vipāko nibbatteyya, ṭhānametaṁ vijjatīti pajānāti.
Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một thân ác hành có thể sanh ra quả báo khả ái, khả hỷ, khả lạc. Sự kiện này không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi một thân ác hành có thể sanh ra quả báo không khả ái, không khả hỷ, không khả lạc. Sự kiện như vậy có xảy ra”. Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một khẩu ác hành … Khi một ý ác hành có thể sanh ra quả báo khả ái, khả hỷ, khả lạc. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi một ý ác hành có thể sanh ra quả báo không khả ái, không khả hỷ, không khả lạc. Sự kiện như vậy có xảy ra”.
Pāḷi: mn115:16.1–16.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn115/vi/minh_chau)6. Thiện hành không cho quả bất khả ái
Vế ngược lại: thiện hành của thân (kāyasucarita), khẩu, ý không thể sanh ra quả báo không khả ái; chỉ có thể sanh ra quả báo khả ái, khả hỷ, khả lạc. Đây là phần nghiệp và quả trong xứ phi xứ.
‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ kāyasucaritassa aniṭṭho akanto amanāpo vipāko nibbatteyya, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ kāyasucaritassa iṭṭho kanto manāpo vipāko nibbatteyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti. ‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ vacīsucaritassa …pe… yaṁ manosucaritassa aniṭṭho akanto amanāpo vipāko nibbatteyya, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ vacīsucaritassa …pe… yaṁ manosucaritassa iṭṭho kanto manāpo vipāko nibbatteyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti.
Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một thân thiện hành có thể sanh ra quả báo không khả ái, không khả hỷ, không khả lạc. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi một thân thiện hành có thể sanh ra quả báo khả ái, khả hỷ, khả lạc. Sự kiện như vậy có xảy ra”. Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một khẩu thiện hành … một ý thiện hành có thể sanh ra quả báo không khả ái, không khả hỷ, không khả lạc. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi một ý thiện hành có thể sanh ra quả báo khả ái, khả hỷ, khả lạc. Sự kiện như vậy có xảy ra”.
Pāḷi: mn115:17.1–17.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn115/vi/minh_chau)7. Ác hành không đưa lên cõi lành
Người thành tựu (samaṅgī) thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành — “do nhân ấy, do duyên ấy” — sau khi thân hoại mạng chung không thể sanh lên thiện thú, cõi trời; chỉ có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Theo Chú giải, samaṅgī (“người gắn liền với”) ở đây hiểu theo nghĩa gắn liền với việc tích tập nghiệp, với tác ý và với nghiệp ấy; Chú giải kể chuyện cha của Trưởng lão Soṇa, người nuôi chó săn, lúc lâm chung thấy chó dữ vây quanh (cảnh địa ngục), được con cho cúng dường hoa nơi bảo tháp, tâm tịnh tín thì cảnh cõi trời hiện ra — để nói tướng cảnh lúc lâm chung còn có thể đổi (Ps (PTS) IV 124–126).
‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ kāyaduccaritasamaṅgī taṁnidānā tappaccayā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyya, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ kāyaduccaritasamaṅgī taṁnidānā tappaccayā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti. ‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ vacīduccaritasamaṅgī …pe… yaṁ manoduccaritasamaṅgī taṁnidānā tappaccayā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyya, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ vacīduccaritasamaṅgī …pe… yaṁ manoduccaritasamaṅgī taṁnidānā tappaccayā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti.
Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một người hành trì thân ác hành, do nhân thân ác hành ấy, do duyên thân ác hành ấy sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh thiện thú, thiên giới, cõi đời này. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi một người hành trì thân ác hành, do nhân thân ác hành ấy, do duyên thân ác hành ấy, sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Sự kiện này có xảy ra”. Vị ấy biết rõ rằng sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một người hành trì khẩu ác hành … hành trì ý ác hành, do nhân ý ác hành ấy, do duyên ý ác hành ấy, sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra, khi một người hành trì khẩu ác hành … ý ác hành, sau khi thân hoại mạng chung có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Sự kiện như vậy có xảy ra”.
Pāḷi: mn115:18.1–19.4 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn115/vi/minh_chau)8. Thiện hành không đưa xuống cõi dữ
Người thành tựu thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành không thể vì đó mà sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục; chỉ có thể sanh lên thiện thú, cõi trời. Đến đây Đức Phật kết: chừng ấy là vừa đủ để nói “Tỷ-kheo thiện xảo về xứ phi xứ”.
‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ kāyasucaritasamaṅgī taṁnidānā tappaccayā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyya, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ kāyasucaritasamaṅgī taṁnidānā tappaccayā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti. ‘Aṭṭhānametaṁ anavakāso yaṁ vacīsucaritasamaṅgī …pe… yaṁ manosucaritasamaṅgī taṁnidānā tappaccayā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyya, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti pajānāti; ‘ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ vacīsucaritasamaṅgī …pe… yaṁ manosucaritasamaṅgī taṁnidānā tappaccayā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyya, ṭhānametaṁ vijjatī’ti pajānāti. Ettāvatā kho, ānanda, ‘ṭhānāṭhānakusalo bhikkhū’ti alaṁvacanāyā”ti.
Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một người hành trì thân thiện hành, do nhân thân thiện hành ấy, do duyên thân thiện ấy, có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rằng: “Sự kiện này có xảy ra: Khi một người hành trì thân thiện hành, do nhân thân thiện hành ấy, do duyên thân thiện hành ấy, có thể sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này. Sự kiện như vậy có xảy ra”. Vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một người hành trì khẩu thiện hành … hành trì thiện hành, do nhân ý thiện hành ấy, do duyên ý thiện hành ấy, có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Sự kiện như vậy không có xảy ra”. Và vị ấy biết rõ rằng: “Sự kiện này có xảy ra, có hiện hữu: Khi một người hành trì khẩu thiện hành … hành trì ý thiện hành, do nhân ý thiện hành ấy, do duyên ý thiện hành ấy, có thể sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này. Sự kiện như vậy có xảy ra”.
Cho đến mức độ như vậy, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về xứ phi xứ”.
Pāḷi: mn115:19.5–19.11 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn115/vi/minh_chau)Lưu ý bản dịch. (1) Ở cả hai đoạn, bản Việt dịch nơi tái sanh tốt là “thiện thú, thiên giới, cõi đời này”. Pāḷi là sugatiṁ saggaṁ lokaṁ — “thiện thú, thế giới cõi trời” (Sujato: a good place, a heavenly realm); chữ lokaṁ đi với saggaṁ, không có nghĩa “đời này”. (2) Ở đoạn thiện hành, bản Việt không có cụm “sau khi thân hoại mạng chung” mà Pāḷi có ở mọi vế (kāyassa bhedā paraṁ maraṇā), và ở vế khẩu – ý viết “hành trì thiện hành, do nhân ý thiện hành ấy” — sót chữ “ý” trước “thiện hành” thứ nhất (Pāḷi manosucaritasamaṅgī).
Bảng tổng hợp 28 điều không thể
Kinh không tự đánh số; cách đếm 28 dưới đây theo bảng của Anālayo (vol. 2, tr. 650).
| # | Không thể | Có thể |
|---|---|---|
| 1 | người thành tựu chánh kiến xem một hành nào là thường | phàm phu xem như vậy |
| 2 | … xem một hành nào là lạc | phàm phu |
| 3 | … xem một pháp nào là tự ngã | phàm phu |
| 4 | … giết mẹ | phàm phu |
| 5 | … giết cha | phàm phu |
| 6 | … giết A-la-hán | phàm phu |
| 7 | … ác tâm làm Như Lai chảy máu | phàm phu |
| 8 | … phá hòa hợp Tăng | phàm phu |
| 9 | … nhận một vị thầy khác | phàm phu |
| 10 | hai Phật Chánh Đẳng Giác cùng lúc trong một thế giới | một vị |
| 11 | hai vua Chuyển luân cùng lúc trong một thế giới | một vị |
| 12 | người nữ là A-la-hán, Chánh Đẳng Giác | người nam |
| 13 | người nữ là vua Chuyển luân | người nam |
| 14 | người nữ làm Sakka | người nam |
| 15 | người nữ làm Māra | người nam |
| 16 | người nữ làm Phạm thiên | người nam |
| 17–19 | ác hành thân, khẩu, ý cho quả khả ái | cho quả không khả ái |
| 20–22 | thiện hành thân, khẩu, ý cho quả không khả ái | cho quả khả ái |
| 23–25 | ác hành thân, khẩu, ý đưa lên thiện thú, cõi trời | đưa xuống cõi dữ, địa ngục |
| 26–28 | thiện hành thân, khẩu, ý đưa xuống cõi dữ, địa ngục | đưa lên thiện thú, cõi trời |
Năm tên gọi của bài kinh
Nghe xong, Ānanda thốt lên: “Thật vi diệu thay, thật hy hữu thay!” và hỏi pháp môn này tên gì. Theo Chú giải, Ānanda ôn lại toàn bài từ đầu, thấy một bài pháp rực rỡ như vậy mà Đức Phật chưa đặt tên, nên thỉnh Ngài đặt (Ps (PTS) IV 126). Đức Phật dạy hãy thọ trì kinh này với năm tên:
Evaṁ vutte, āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca: “acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante. Konāmo ayaṁ, bhante, dhammapariyāyo”ti? “Tasmātiha tvaṁ, ānanda, imaṁ dhammapariyāyaṁ ‘bahudhātuko’tipi naṁ dhārehi, ‘catuparivaṭṭo’tipi naṁ dhārehi, ‘dhammādāso’tipi naṁ dhārehi, ‘amatadundubhī’tipi naṁ dhārehi, ‘anuttaro saṅgāmavijayo’tipi naṁ dhārehī”ti.
Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, pháp môn này có tên gì?
—Do vậy, này Ānanda , Ông hãy thọ trì pháp môn này là Ða giới, hãy thọ trì pháp môn nầy là Bốn chuyển (Dhammadasa), hãy thọ trì pháp môn này là Pháp kính (Dhammadasa), hãy thọ trì pháp môn này là Trống bất tử, hãy thọ trì pháp môn này là Vô thượng chiến thắng.
Pāḷi: mn115:20.1–20.4 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn115/vi/minh_chau)| # | Tên (Pāḷi) | Bản Việt | Ý nghĩa theo Chú giải (Ps (PTS) IV 126–127) |
|---|---|---|---|
| 1 | Bahudhātuka | Đa giới | vì kinh phân tích rất nhiều giới (18, 6…) |
| 2 | Catuparivaṭṭa | Bốn chuyển | bốn vòng: giới, xứ, duyên khởi, xứ phi xứ |
| 3 | Dhammādāsa | Pháp kính | như soi gương thấy rõ mặt, người xét kinh này thấy rõ các pháp |
| 4 | Amatadundubhi | Trống bất tử | như quân sĩ nổi trống trận xông lên thắng giặc, hành giả theo kinh này phá phiền não, đạt A-la-hán |
| 5 | Anuttaro saṅgāmavijayo | Vô thượng chiến thắng | như người lính cầm năm thứ vũ khí phá quân địch, hành giả cầm vũ khí tuệ quán thắng đạo quân phiền não |
Lưu ý bản dịch. Bản Việt ghi “Bốn chuyển (Dhammadasa)” — chữ trong ngoặc ghi nhầm (lặp lại chữ của tên sau). Pāḷi của “Bốn chuyển” là catuparivaṭṭo; dhammādāso là “Pháp kính”.
Kết kinh
Idamavoca bhagavā. Attamano āyasmā ānando bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Pāḷi: mn115:20.5–20.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn115/vi/minh_chau)Kinh không kể ai chứng đắc gì; người hoan hỷ tín thọ được nêu tên là Tôn giả Ānanda — người đã hỏi suốt từ đầu.
Giải thích
Một bài kinh về “người trí” chứ không chỉ về giới. Tên “Đa giới” dễ khiến người đọc nghĩ đây là một bảng phân loại. Nhưng kinh mở đầu bằng một vấn đề rất đời thường: tai họa đến từ đâu? Câu trả lời là từ người ngu — như lửa từ chòi lau bén sang nhà lầu, sự thiếu hiểu biết của một người lan sang cả những người cẩn trọng quanh mình. Vì vậy “học để thành người trí” là một bổn phận, và bốn điều thiện xảo là chương trình học của người trí.
“Biết được, thấy được” chứ không phải thuộc lòng. Mọi đoạn đều kết bằng jānāti passati. Chú giải hiểu đó là con đường (Đạo) đi cùng tuệ quán (Ps (PTS) IV 104, 106): thiện xảo về giới không phải là nhớ đủ 41 tên gọi mà là thấy thân tâm mình đúng như các giới ấy — những thành phần do duyên mà có, “trống rỗng, không có chúng sanh” (theo lời Chú giải về sáu giới).
Sáu cách chia là sáu góc nhìn vào cùng một thực tại. Mười tám giới chia theo giác quan; sáu giới đất – nước – lửa – gió – hư không – thức chia theo chất liệu của thân và tâm; nhóm lạc – khổ – hỷ – ưu – xả – vô minh nhìn từ cảm thọ; nhóm dục – sân – hại nhìn từ khuynh hướng của tâm; nhóm ba cõi nhìn từ nơi tái sanh; cặp hữu vi – vô vi nhìn từ chỗ có duyên tạo hay không. Chú giải nói mọi nhóm đều phải được hiểu trọn trong khuôn mười tám giới, và mỗi nhóm đều được nói “để đưa sự tu tập của một vị Tỷ-kheo đến chỗ cùng tột” (Ps (PTS) IV 104–106). Từ đó có thể hiểu (đây là nhận xét của bài, không phải lời Chú giải): không có cách chia nào “đúng hơn”, chỉ có những lát cắt khác nhau vào cùng một thân tâm.
Xứ phi xứ là biết giới hạn của khả năng. Phần cuối liệt kê những điều không thể — và qua đó vẽ ra chân dung bậc Dự lưu: người đã thấy pháp thì không còn có thể xem cái gì là thường, lạc, ngã; không thể phạm năm nghiệp vô gián; không thể bỏ Phật theo thầy khác. Chú giải nói điều này được nói ra để thấy bản thể phàm phu nhiều lỗi lầm thế nào (mahāsāvajja — có thể làm cả việc giết mẹ) và bậc Thánh đệ tử có sức mạnh lớn thế nào: dù sanh sang đời khác, quên mình là bậc Thánh, có người bảo “giết con kiến này đi thì được làm Chuyển luân vương” — vị ấy cũng không giết (Ps (PTS) IV 108). Phần nghiệp quả (12 điều cuối) khẳng định một quy luật không ngoại lệ: chính ác hành — “do nhân ấy, do duyên ấy” — không bao giờ cho quả khả ái hay đưa lên cõi trời, và chính thiện hành không bao giờ cho quả không khả ái hay đưa xuống cõi dữ.
Về năm địa vị của người nữ. Đây là đoạn dễ gây hiểu lầm nhất. Chữ arahaṁ sammāsambuddho chỉ một vị Phật Chánh Đẳng Giác, không nói đến quả A-la-hán của người tu. Đoạn này cũng không có trong bản Hán MA181; Anālayo cho rằng rất có thể nhóm năm điều này vốn không thuộc bài kinh ban đầu, dù cũng có thể là phần bị mất trong quá trình truyền (vol. 2, tr. 653). Đây là nhận định của một học giả (thứ cấp), bài này nêu để người đọc biết, không kết luận thay.
Đối chiếu các tạng
Theo danh mục tương đương của SuttaCentral (tra ngày 20/10/2026), MN115 có các bản: Hán tạng MA181 多界經 (Trung A-hàm), bản dịch lẻ T776 四品法門, đoạn dẫn kinh trong Pháp uẩn túc luận T1537 (phẩm 20, 多界品), bản Tây Tạng D297, đoạn dẫn trong luận giải Abhidharmakośa của Śamathadeva (Up 1.032), đoạn dẫn trong Đại trí độ luận T1509 (24a), và AN 1.268–277 (Tăng Chi, phần các điều không thể). SuttaCentral xếp năm bản đầu là tương đương đầy đủ; riêng T1509 và AN 1.268–277 được đánh dấu là “tương tự” (resembling), tức chỉ gần giống một phần nội dung. Bài này chỉ đối chiếu chi tiết với MA181 (bản có trong kho của site). T776, T1537, D297, Up 1.032, T1509 và AN 1.268–277 chưa đối chiếu; các nhận xét về những bản ấy dưới đây là theo Anālayo (thứ cấp). SuttaCentral ghi nhan đề bản D297 là Daharopama-sūtra, trong khi Anālayo gọi bản Tây Tạng tương đương là khams mang po pa’i mdo (“kinh nhiều giới”) — chưa rõ hai bên có cùng chỉ một bản hay không.
Không có bản trùng tên nào cần loại.
| Điểm | MN115 (Pāḷi) | MA181 (Hán) |
|---|---|---|
| Tên kinh | Bahudhātuka — Đa giới; bài thứ 5 phẩm Anupada | 多界經 Kinh Đa Giới; phẩm Tâm (心品), quyển 47; 2.236 chữ |
| Nơi chốn | Sāvatthī, Jetavana, vườn Anāthapiṇḍika | Xá-vệ, rừng Thắng lâm (勝林), vườn Cấp cô độc |
| Mở đầu | Đức Phật tự dạy chư Tỷ-kheo | A-nan một mình tĩnh tọa tư duy, nghĩ ra điều “sợ hãi từ ngu si”, xế chiều đến bạch Phật; Phật xác nhận |
| Ảnh dụ lửa | lửa từ nhà lau, nhà cỏ thiêu nhà lầu trát kín | lửa từ bụi lau, bụi cỏ cháy lầu các, điện đường |
| Ba thời | không có | thêm: quá khứ, vị lai, hiện tại cũng vậy |
| A-nan | hỏi ngay | khóc, nước mắt chảy (悲泣淚出), hỏi thế nào là ngu si rồi thế nào là trí tuệ |
| Bốn điều | giới, xứ, duyên khởi, xứ phi xứ | giới, xứ, nhân duyên, thị xứ phi xứ — giống |
| Giới | 6 nhóm = 41; A-nan hỏi xen mỗi nhóm | 13 nhóm = 62 (見此六十二界知如真); Phật nói liền một mạch; nhóm dục – nhuế – hại đứng trước nhóm lạc – khổ; thêm thọ – tưởng – hành – thức; sắc – vô sắc – diệt; quá khứ – vị lai – hiện tại; diệu – bất diệu – trung; thiện – bất thiện – vô ký; học – vô học – phi học phi vô học; hữu lậu – vô lậu |
| Xứ | 6 cặp nội – ngoại | 12 xứ — giống |
| Duyên khởi | đủ 12 chi hai chiều | rút gọn “cho đến” (乃至) |
| Thường, lạc, ngã | có (3 điều đầu) | không có |
| Năm việc nặng | giết mẹ, cha, A-la-hán, làm Như Lai chảy máu, phá Tăng (theo thứ tự này) | gộp một câu: hại cha mẹ, giết A-la-hán, phá Thánh chúng, ác tâm làm Phật chảy máu (phá Tăng đứng trước) |
| Theo thầy khác | 1 điều | tách nhiều điều: phạm giới, xả giới bỏ đạo; bỏ nội đạo tìm phước điền bên ngoài; tin Sa-môn khác “thấy điều đáng thấy”; tin bói toán; theo Sa-môn, Phạm chí khác xem bói cát hung mà cho là thật; lúc khổ cầu chú thuật bên ngoài |
| Tái sanh lần thứ tám | không có | có (受八有) |
| Hai Phật, hai Chuyển luân vương | Phật trước | Chuyển luân vương trước |
| Năm địa vị của người nữ | có | không có |
| Nghiệp quả | quả báo trước, cõi tái sanh sau | cõi tái sanh trước, quả báo sau |
| Thêm ở cuối | không có | năm triền cái → bốn niệm xứ → bảy giác chi → Vô thượng Chánh đẳng giác → tận khổ |
| Tên kinh | 5 tên | 8 tên: đa giới, pháp giới, cam lộ giới, đa cổ, pháp cổ, cam lộ cổ, pháp kính, tứ phẩm; “vì vậy gọi là Đa Giới” |
| Kết | Ānanda hoan hỷ tín thọ | A-nan và các Tỷ-kheo hoan hỷ phụng hành |
Hai bản giống nhau ở xương sống: người ngu là gốc sợ hãi, ảnh dụ lửa, bốn điều thiện xảo, các nhóm giới chính, mười hai xứ, duyên khởi, phần lớn các điều không thể, và tên “Đa giới” cùng “bốn phẩm/bốn chuyển”. Khác lớn nhất ở phần giới (41 so với 62) và phần xứ phi xứ (Pāḷi có thường – lạc – ngã và năm địa vị của người nữ; Hán có nhiều điều về thầy ngoài, tái sanh lần thứ tám, và chuỗi triền cái → niệm xứ → giác chi → giác ngộ). Theo Anālayo, T776 kê 56 giới, các bản còn lại (MA181, Tây Tạng, Pháp uẩn túc luận) đều 62 giới (vol. 2, tr. 648); và các luận Đại Tỳ-bà-sa và Câu-xá đều gắn kinh “Đa giới” với con số 62 giới (vol. 2, tr. 648, chú thích 61). Bài MA181 chưa đăng trên site.
Tra cứu trong bài
- Nhân vật: Đức Phật · Tôn giả Ānanda · Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) · Devadatta
- Địa danh: Sāvatthī (Xá-vệ) · Kỳ-đà-lâm (Jetavana) · Kosambī
- Thuật ngữ: Giới (dhātu) · Xứ phi xứ (ṭhānāṭhāna) · Duyên khởi · Tứ đại · Năm uẩn · Niết-bàn · Chánh kiến · Dự lưu · Phàm phu · A-la-hán · Như Lai · Tăng-già · Nghiệp · Vô thường · Vô ngã
- Dịch giả: HT. Thích Minh Châu · HT. Tuệ Sỹ
Nguồn tham khảo
- Pāḷi (Mahāsaṅgīti): MN 115 — SuttaCentral
- Việt — HT. Thích Minh Châu dịch (Bình Anson hiệu đính): mn115/vi/minh_chau — SuttaCentral
- English — Bhikkhu Sujato, Many Elements: mn115/en/sujato — SuttaCentral
- Danh mục kinh tương đương: MN 115 — SuttaCentral (API parallels, tra ngày 20/10/2026)
- Hán tạng tương đương — Trung A-hàm 181, 多界經: ma181/lzh/taisho — SuttaCentral · bản Việt HT. Tuệ Sỹ: ma181/vi/tue_sy — SuttaCentral
- Chú giải Pāḷi: Papañcasūdanī, Bahudhātukasuttavaṇṇanā (bản VRI Chaṭṭha Saṅgāyana, đoạn 124–132) — số trang “Ps (PTS) IV …” trong bài lấy theo mốc trang PTS trong bản này.
- Chú giải Trung Bộ Kinh, bản Thái-Việt (sudhamma.net), mục Kinh số 115 — Giải thích Kinh Đa Giới: Chú giải Trung Bộ Kinh (sudhamma.net) — bản web không có số trang; bài dẫn theo số đoạn 124–132.
- Chú Giải Trung Bộ Kinh, bản Việt (vietheravada.net): chugiaitrungbokinh.pdf (vietheravada.net) — bản này chỉ gồm MN1–50, không có phần MN115; bài không trích từ bản này.
- Anālayo, A Comparative Study of the Majjhima-nikāya, vol. 2, tr. 645–654 (Dharma Drum, 2011) — thứ cấp.
📖 Nguồn / bản quyền: SuttaCentral — MN 115 (Bahudhātuka Sutta), Pāḷi Mahāsaṅgīti + bản Việt HT. Thích Minh Châu