MN21 - Kinh Ví Dụ Cái Cưa (Kakacūpama Sutta)

Nữ gia chủ Vedehikā giận dữ giơ then cửa trước nữ tỳ Kāḷī dậy trễ — Kinh Ví Dụ Cái Cưa, MN21

Tóm tắt nhanh: Tại Sāvatthī, trong Kỳ-đà-lâm, Tôn giả Moḷiya Phagguna sống quá thân cận với các Tỷ-kheo-ni, ai chê bên này thì bên kia nổi giận, đòi xử. Đức Phật cho gọi ông đến, dạy ông dù thấy các ni hay chính mình bị chê, bị đánh (bốn trường hợp) vẫn phải giữ tâm không đổi, không buông lời ác, sống với tâm từ. Rồi Ngài nói với chư Tỷ-kheo: nhắc lại các Tỷ-kheo thuở trước mà Ngài chỉ cần khơi dậy niệm là làm theo (ảnh dụ cỗ xe), khuyên bỏ bất thiện như người chăm rừng sāla chặt bỏ cây cong, kể chuyện bà Vedehikā nổi tiếng hiền mà bị nữ tỳ Kāḷī thử ba lần đã lộ cơn giận, và dạy rằng chỉ ai dễ dạy vì kính Pháp mới thật là dễ dạy. Kinh nêu năm cặp cách người khác có thể nói với mình, bốn ảnh dụ cho tâm không lay động (đất lớn, hư không, sông Hằng, túi da mèo) và đỉnh cao là ảnh dụ cái cưa: dù bị cướp cưa từng chi phần, ai khởi ý ác thì chưa làm theo lời Phật dạy. Chư Tỷ-kheo nhận rằng không còn lời nào, nhỏ hay lớn, mà mình không nhẫn được, và hoan hỷ tín thọ.

🔗 Song tạng: Bản Hán tạng tương đương — MA193 - Kinh Mâu-lê-phá-quần-na (牟犁破群那經), Trung A-hàm 193. Khác lớn nhất: ở lần dạy đầu về năm cách nói và ở ảnh dụ cái cưa, bản Hán rải đủ bốn tâm vô lượng (từ, bi, hỷ, xả) chứ không chỉ tâm từ, và kinh kết bằng lời hứa chắc được một trong hai quả — cứu cánh trí ngay đời này hoặc A-na-hàm.

Bối cảnh

Kinh được nói tại tinh xá ông Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika) trong rừng Kỳ-đà, gần thành Sāvatthī. Nhân vật mở đầu là Tôn giả Moḷiyaphagguna: Phagguna là tên, còn moḷi là “búi tóc” — theo Chú giải (tr. 442), lúc còn là cư sĩ ông để búi tóc lớn nên người ta gọi là “Phagguna Búi Tóc”, xuất gia rồi vẫn giữ tên ấy (bản Anh của Bhikkhu Sujato dịch là Phagguna of the Top-Knot).

Vấn đề được kinh nêu bằng chữ ativelaṁ saṁsaṭṭho — “thân cận quá mức”. Chú giải (tr. 442) giải thích “quá mức” là vượt cả ba thứ giới hạn: giới hạn thời gian (mặt trời đã lặn vẫn còn ngồi dạy các ni), giới hạn khuôn phép (răn dạy quá năm, sáu lời quy định) và giới hạn giới hạnh (lúc thuyết pháp còn nói đùa giỡn). Hệ quả kinh tả rất cụ thể, theo cả hai chiều: hễ có Tỷ-kheo chê các ni trước mặt Phagguna thì ông giận, bất mãn và khởi cả thủ tục tranh tụng (adhikaraṇa, bản Việt: “vấn tội”); hễ có Tỷ-kheo chê Phagguna trước mặt các ni thì các ni cũng giận, bất mãn và khởi tranh tụng như vậy.

Mở đầu - MN21 1–2

Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena āyasmā moḷiyaphagguno bhikkhunīhi saddhiṁ ativelaṁ saṁsaṭṭho viharati. Evaṁ saṁsaṭṭho āyasmā moḷiyaphagguno bhikkhunīhi saddhiṁ viharati— sace koci bhikkhu āyasmato moḷiyaphaggunassa sammukhā tāsaṁ bhikkhunīnaṁ avaṇṇaṁ bhāsati, tenāyasmā moḷiyaphagguno kupito anattamano adhikaraṇampi karoti. Sace pana koci bhikkhu tāsaṁ bhikkhunīnaṁ sammukhā āyasmato moḷiyaphaggunassa avaṇṇaṁ bhāsati, tena tā bhikkhuniyo kupitā anattamanā adhikaraṇampi karonti. Evaṁ saṁsaṭṭho āyasmā moḷiyaphagguno bhikkhunīhi saddhiṁ viharati.

Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).

Lúc bấy giờ, Tôn giả Moliya Phagguna sống liên hệ với các Tỷ-kheo ni một cách quá độ. Tôn giả Moliya Phagguna sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni như sau: Nếu có Tỷ-kheo nào, trước mặt Tôn giả Moliya Phagguna nói xấu các Tỷ-kheo-ni ấy, Tôn giả Moliya Phagguna liền phẫn nộ, bất mãn, vấn tội ngay; nếu có Tỷ-kheo nào, trước mặt các Tỷ-kheo ni ấy, nói xấu Tôn giả Moliya Phagguna, các Tỷ-kheo ni ấy liền phẫn nộ, bất mãn, vấn tội ngay. Tôn giả Moliya Phagguna sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni như vậy.

Pāḷi: mn21:1.1–2.5 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn21/vi/minh_chau)

Một vị Tỷ-kheo trình lên Thế Tôn, Phagguna được gọi đến

Một vị Tỷ-kheo (aññataro bhikkhu) đến đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên và thuật lại đúng sự việc ấy, cả hai chiều. Theo Chú giải (tr. 443), vị này nói ra không phải để chia rẽ mà vì mong điều lợi ích: vị ấy nghĩ để vậy thì tiếng xấu sẽ sinh và ảnh hưởng đến Phật giáo, mà Tỷ-kheo khác nhắc thì Phagguna sẽ không chịu bỏ, chỉ khi Thế Tôn dạy ông mới bỏ.

Trình lên Thế Tôn - MN21 3

Atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “āyasmā, bhante, moḷiyaphagguno bhikkhunīhi saddhiṁ ativelaṁ saṁsaṭṭho viharati. Evaṁ saṁsaṭṭho, bhante, āyasmā moḷiyaphagguno bhikkhunīhi saddhiṁ viharati— sace koci bhikkhu āyasmato moḷiyaphaggunassa sammukhā tāsaṁ bhikkhunīnaṁ avaṇṇaṁ bhāsati, tenāyasmā moḷiyaphagguno kupito anattamano adhikaraṇampi karoti. Sace pana koci bhikkhu tāsaṁ bhikkhunīnaṁ sammukhā āyasmato moḷiyaphaggunassa avaṇṇaṁ bhāsati, tena tā bhikkhuniyo kupitā anattamanā adhikaraṇampi karonti. Evaṁ saṁsaṭṭho, bhante, āyasmā moḷiyaphagguno bhikkhunīhi saddhiṁ viharatī”ti.

Có một Tỷ-kheo khác đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn

—Bạch Thế Tôn, Tôn giả Moliya Phagguna sống liên hệ với các Tỷ-kheo ni một cách quá độ. Bạch Thế Tôn, Tôn giả Moliya Phagguna sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni như sau: Nếu có Tỷ-kheo nào, trước mặt Tôn giả Moliya Phagguna nói xấu các Tỷ-kheo-ni ấy, Tôn giả Moliya Phagguna liền phẫn nộ, bất mãn và vấn tội ngay; nếu có Tỷ-kheo nào, trước mặt các Tỷ-kheo ni ấy, nói xấu Tôn giả Moliya Phagguna, các Tỷ-kheo-ni ấy liền phẫn nộ, bất mãn và vấn tội ngay. Bạch Thế Tôn, Tôn giả Moliya Phagguna sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni một cách quá độ như vậy.

Pāḷi: mn21:3.1–3.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn21/vi/minh_chau)

Thế Tôn không trả lời ngay mà sai một vị Tỷ-kheo khác đi gọi, “nhân danh Ta” (mama vacanena): “Hiền giả Phagguna, bậc Đạo Sư gọi Hiền giả.” Vị ấy vâng lời, đến báo; Phagguna vâng đáp, đến đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.

Cho gọi Phagguna - MN21 4

Atha kho bhagavā aññataraṁ bhikkhuṁ āmantesi: “ehi tvaṁ, bhikkhu, mama vacanena moḷiyaphaggunaṁ bhikkhuṁ āmantehi: ‘satthā taṁ, āvuso phagguna, āmantetī’”ti. “Evaṁ, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato paṭissutvā yenāyasmā moḷiyaphagguno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ moḷiyaphaggunaṁ etadavoca: “satthā taṁ, āvuso phagguna, āmantetī”ti. “Evamāvuso”ti kho āyasmā moḷiyaphagguno tassa bhikkhuno paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ moḷiyaphaggunaṁ bhagavā etadavoca:

Thế Tôn gọi một Tỷ-kheo khác và bảo

—Này Tỷ-kheo, hãy đi, nhân danh Ta, cho gọi Tỷ-kheo Moliya Phagguna: “Hiền giả Phagguna, bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả”.
—Bạch Thế Tôn, vâng!

Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến chỗ Tôn giả Moliya Phagguna, khi đến xong, liền thưa Tôn giả Moliya Phagguna

—Hiền giả Moliya Phagguna, bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả.
—Vâng, Hiền giả.

Tỷ-kheo Moliya Phagguna vâng đáp Tỷ-kheo ấy, đến chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Moliya Phagguna đang ngồi xuống một bên

Pāḷi: mn21:4.1–4.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn21/vi/minh_chau)

Thế Tôn hỏi Phagguna hai câu

Câu thứ nhất là hỏi lại sự việc, dùng chữ kira — “nghe nói”, “người ta đồn” — và Phagguna nhận: “Bạch Thế Tôn, có như vậy.” Câu thứ hai không hỏi về các ni mà hỏi về chính ông: ông có phải là thiện nam tử (kulaputta) vì lòng tin (saddhā) mà xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình? Phagguna lại nhận: “Thưa vâng.”

Hai câu hỏi - MN21 5

“Saccaṁ kira tvaṁ, phagguna, bhikkhunīhi saddhiṁ ativelaṁ saṁsaṭṭho viharasi? Evaṁ saṁsaṭṭho kira tvaṁ, phagguna, bhikkhunīhi saddhiṁ viharasi— sace koci bhikkhu tuyhaṁ sammukhā tāsaṁ bhikkhunīnaṁ avaṇṇaṁ bhāsati, tena tvaṁ kupito anattamano adhikaraṇampi karosi. Sace pana koci bhikkhu tāsaṁ bhikkhunīnaṁ sammukhā tuyhaṁ avaṇṇaṁ bhāsati, tena tā bhikkhuniyo kupitā anattamanā adhikaraṇampi karonti. Evaṁ saṁsaṭṭho kira tvaṁ, phagguna, bhikkhunīhi saddhiṁ viharasī”ti? “Evaṁ, bhante”ti. “Nanu tvaṁ, phagguna, kulaputto saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito”ti? “Evaṁ, bhante”ti.

—Này Phagguna, có đúng sự thật không, như lời người ta đồn là Ông sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni một cách quá độ. Người ta đồn Ông sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni như sau: “Nếu Tỷ-kheo nào, trước mặt Ông nói xấu các Tỷ-kheo-ni ấy, Ông liền phẫn nộ, bất mãn, vấn tội ngay; nếu Tỷ-kheo nào, trước mặt các Tỷ-kheo-ni ấy, nói xấu Ông, các Tỷ-kheo-ni ấy liền phẫn nộ, bất mãn, vấn tội ngay”. Này Phagguna, có phải Ông sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni như vậy?

—Bạch Thế Tôn, có như vậy.

—Này Phagguna, có phải Ông là Thiện nam tử, vì lòng tin, đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình?

—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Pāḷi: mn21:5.1–5.8 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn21/vi/minh_chau)

Lời dạy cho Phagguna: bốn trường hợp, một cách học

Từ câu trả lời thứ hai, Thế Tôn rút ra kết luận: một người đã xuất gia vì lòng tin thì không xứng (na patirūpaṁ) sống thân cận với các ni như thế. Rồi Ngài dạy Phagguna giữ tâm trong bốn trường hợp, mỗi trường hợp cùng một lời dạy:

#Trường hợpPāḷi
1Có ai chê các Tỷ-kheo-ni ấy ngay trước mặt ôngtava cepi koci sammukhā tāsaṁ bhikkhunīnaṁ avaṇṇaṁ bhāseyya
2Có ai đánh các Tỷ-kheo-ni ấy ngay trước mặt ông — bằng tay, cục đất, gậy, daopāṇinā… leḍḍunā… daṇḍena… satthena pahāraṁ dadeyya
3Có ai chê chính ông ngay trước mặt ôngtava cepi koci sammukhā avaṇṇaṁ bhāseyya
4Có ai đánh chính ông bằng tay, cục đất, gậy, daotava cepi koci pāṇinā… satthena pahāraṁ dadeyya

Trong cả bốn trường hợp, việc phải làm gồm hai phần. Trước hết là bỏ những ước muốn và suy tư dựa vào đời sống gia đình (gehasitā chandā, gehasitā vitakkā; theo Chú giải, tr. 443, là những gì nương vào năm dục). Sau đó là học tập theo một câu gồm bốn vế: (1) tâm ta sẽ không biến đổi (na me cittaṁ vipariṇataṁ bhavissati); (2) ta sẽ không thốt ra lời ác (na pāpikaṁ vācaṁ nicchāressāmi); (3) ta sẽ sống thương tưởng vì lợi ích (hitānukampī), với tâm từ (mettacitto); (4) không ôm sân hận bên trong (na dosantaro).

Bốn trường hợp - MN21 6

“Na kho te etaṁ, phagguna, patirūpaṁ kulaputtassa saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitassa, yaṁ tvaṁ bhikkhunīhi saddhiṁ ativelaṁ saṁsaṭṭho vihareyyāsi. Tasmātiha, phagguna, tava cepi koci sammukhā tāsaṁ bhikkhunīnaṁ avaṇṇaṁ bhāseyya, tatrāpi tvaṁ, phagguna, ye gehasitā chandā ye gehasitā vitakkā te pajaheyyāsi. Tatrāpi te, phagguna, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘na ceva me cittaṁ vipariṇataṁ bhavissati, na ca pāpikaṁ vācaṁ nicchāressāmi, hitānukampī ca viharissāmi mettacitto, na dosantaro’ti. Evañhi te, phagguna, sikkhitabbaṁ. Tasmātiha, phagguna, tava cepi koci sammukhā tāsaṁ bhikkhunīnaṁ pāṇinā pahāraṁ dadeyya, leḍḍunā pahāraṁ dadeyya, daṇḍena pahāraṁ dadeyya, satthena pahāraṁ dadeyya. Tatrāpi tvaṁ, phagguna, ye gehasitā chandā ye gehasitā vitakkā te pajaheyyāsi. Tatrāpi te, phagguna, evaṁ sikkhitabbaṁ ‘na ceva me cittaṁ vipariṇataṁ bhavissati, na ca pāpikaṁ vācaṁ nicchāressāmi, hitānukampī ca viharissāmi mettacitto, na dosantaro’ti. Evañhi te, phagguna, sikkhitabbaṁ. Tasmātiha, phagguna, tava cepi koci sammukhā avaṇṇaṁ bhāseyya, tatrāpi tvaṁ, phagguna, ye gehasitā chandā ye gehasitā vitakkā te pajaheyyāsi. Tatrāpi te, phagguna, evaṁ sikkhitabbaṁ ‘na ceva me cittaṁ vipariṇataṁ bhavissati, na ca pāpikaṁ vācaṁ nicchāressāmi, hitānukampī ca viharissāmi mettacitto, na dosantaro’ti. Evañhi te, phagguna, sikkhitabbaṁ. Tasmātiha, phagguna, tava cepi koci pāṇinā pahāraṁ dadeyya, leḍḍunā pahāraṁ dadeyya, daṇḍena pahāraṁ dadeyya, satthena pahāraṁ dadeyya, tatrāpi tvaṁ, phagguna, ye gehasitā chandā ye gehasitā vitakkā te pajaheyyāsi. Tatrāpi te, phagguna, evaṁ sikkhitabbaṁ ‘na ceva me cittaṁ vipariṇataṁ bhavissati, na ca pāpikaṁ vācaṁ nicchāressāmi, hitānukampī ca viharissāmi mettacitto, na dosantaro’ti. Evañhi te, phagguna, sikkhitabban”ti.

—Này Phagguna, thật không xứng đáng cho Ông, một Thiện nam tử, vì lòng tin đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, mà sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni một cách quá độ như vậy. Do vậy, này Phagguna, nếu có ai trước mặt Ông, nói xấu các Tỷ-kheo-ni ấy, này Phagguna, Ông phải từ bỏ những dục liên hệ đến thế tục, những tư duy liên hệ đến thế tục. Này Phagguna, Ông phải học tập như sau: “Mong rằng tâm của ta sẽ không bi biến nhiễm! Mong rằng ta sẽ không nói những lời ác ngữ! Mong rằng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, không ôm lòng sân hận!” Này Phagguna, Ông phải học tập như vậy.

Do vậy, này Phagguna, nếu có ai trước mặt Ông, lấy tay đánh những Tỷ-kheo-ni ấy, lấy đất ném, lấy gậy đập, lấy gươm đánh, này Phagguna, Ông phải từ bỏ những dục … không ôm lòng sân hận. Này Phagguna, Ông phải học tập như vậy. Do vậy, này Phagguna, nếu có ai trước mặt Ông nói xấu (ai), này Phagguna, Ông phải từ bỏ những dục … không ôm lòng sân hận. Này Phagguna, Ông phải học tập như vậy. Do vậy, này Phagguna, nếu có ai trước mặt Ông lấy tay đánh, lấy đất ném, lấy gậy đập, lấy gươm đánh, này Phagguna, Ông phải từ bỏ những dục liên hệ đến thế tục, những tư duy liên hệ đến thế tục. Này Phagguna, Ông phải học tập như sau: “Mong rằng tâm của ta sẽ không bị biến nhiễm! Mong rằng ta sẽ không nói những lời ác ngữ! Mong rằng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, không ôm lòng sân hận!” Này Phagguna, Ông phải học tập như vậy.

Pāḷi: mn21:6.1–6.15 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn21/vi/minh_chau)

(Lưu ý bản Việt: ở trường hợp thứ ba bản Việt ghi “nếu có ai trước mặt Ông nói xấu (ai)” — chữ “(ai)” làm câu mơ hồ; Pāḷi tava cepi koci sammukhā avaṇṇaṁ bhāseyya là “nếu có ai chê chính ông ngay trước mặt”, bản Anh của Sujato cũng dịch criticizes you in your presence. Ở lần đầu, bản Việt in “không bi biến nhiễm” — lỗi chính tả của “bị”, lần sau in đúng.)

Bốn trường hợp đi từ người mình thân đến chính mình, và ở mỗi bên đều từ bị chê đến bị đánh: các ni bị chê, các ni bị đánh, chính ông bị chê, chính ông bị đánh. Lời dạy ở đây mới dừng ở chỗ giữ tâm và giữ lời; phần rải tâm từ ra khắp thế gian sẽ được nói ở đoạn dạy chung cho chư Tỷ-kheo.

Các Tỷ-kheo thuở trước: một bữa ăn và ảnh dụ cỗ xe

Thế Tôn quay sang nói với chư Tỷ-kheo. Theo Chú giải (tr. 443), lý do là Phagguna nghe dạy như vậy rồi mà vẫn không chịu nghĩ “tôi sẽ bớt thân cận với các ni”, lại còn chống đối Thế Tôn như một cái nêm lắc lư; thấy một vị khó dạy như thế, Thế Tôn nhớ đến các vị dễ dạy thời đầu sau khi Ngài thành đạo (paṭhamabodhi) và muốn tán thán họ.

Ngài kể: một thời các Tỷ-kheo đã làm tâm Ngài hài lòng. Ngài bảo họ: Ta ăn một bữa trong một lần ngồi (ekāsanabhojana), và nhờ vậy thấy được năm điều: ít bệnh (appābādhatā), ít khó chịu (appātaṅkatā), thân nhẹ nhàng (lahuṭṭhāna), có sức (bala), sống an lạc (phāsuvihāra); các ông cũng hãy làm vậy. Với các vị ấy, Ngài không cần phải giáo huấn mãi, chỉ cần khơi dậy niệm cho họ (satuppādakaraṇīyameva). Chú giải (tr. 443–444) giải thích “một bữa” là bữa ăn buổi sáng — từ lúc mặt trời mọc đến giữa trưa, dù ăn mấy lần cũng tính là một — nên ở kinh này là bỏ ăn phi thời sau giờ trưa, còn ở kinh Bhaddāli (MN65) là bỏ ăn ban đêm.

Một bữa trong một lần ngồi - MN21 7.1–7.9

Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “ārādhayiṁsu vata me, bhikkhave, bhikkhū ekaṁ samayaṁ cittaṁ. Idhāhaṁ, bhikkhave, bhikkhū āmantesiṁ— ahaṁ kho, bhikkhave, ekāsanabhojanaṁ bhuñjāmi. Ekāsanabhojanaṁ kho ahaṁ, bhikkhave, bhuñjamāno appābādhatañca sañjānāmi appātaṅkatañca lahuṭṭhānañca balañca phāsuvihārañca. Etha tumhepi, bhikkhave, ekāsanabhojanaṁ bhuñjatha. Ekāsanabhojanaṁ kho, bhikkhave, tumhepi bhuñjamānā appābādhatañca sañjānissatha appātaṅkatañca lahuṭṭhānañca balañca phāsuvihārañcāti. Na me, bhikkhave, tesu bhikkhūsu anusāsanī karaṇīyā ahosi; satuppādakaraṇīyameva me, bhikkhave, tesu bhikkhūsu ahosi.

Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo

—Này các Tỷ-kheo, một thời các Tỷ-kheo của Ta có tâm rất thuần thục hoan hỷ. Này các Tỷ-kheo, ở đây, Ta bảo các Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, Ta theo hạnh nhất tọa thực. Chư Tỷ-kheo, sống theo hạnh nhất tọa thực, Ta cảm thấy không bệnh tật, không ốm đau, nhẹ nhàng, khang kiện và sảng khoái. Chư Tỷ-kheo, các Ngươi hãy sống theo hạnh nhất tọa thực. Chư Tỷ-kheo, các Ngươi theo hạnh nhất tọa thực thời các Ngươi sẽ cảm thấy không bệnh tật, không ốm đau, nhẹ nhàng, khang kiện và sảng khoái. Chư Tỷ-kheo, Ta không cần phải giảng dạy gì cho các Tỷ-kheo ấy; chư Tỷ-kheo, Ta chỉ cần khơi dậy ức niệm nơi các Tỷ-kheo ấy.

Pāḷi: mn21:7.1–7.9 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn21/vi/minh_chau)

(Lưu ý bản Việt: câu đầu “một thời các Tỷ-kheo của Ta có tâm rất thuần thục hoan hỷ” dịch khác nguyên văn; Pāḷi ārādhayiṁsu vata me, bhikkhave, bhikkhū ekaṁ samayaṁ cittaṁ là “một thời các Tỷ-kheo đã làm tâm Ta hài lòng” — tức chủ thể hài lòng là Thế Tôn; bản Hán MA193 cũng nói 彼諸比丘可於我心, “các Tỷ-kheo ấy vừa lòng Ta”.)

Ảnh dụ thứ nhất là một cỗ xe thắng ngựa thuần chủng, đứng trên đất bằng ở ngã tư đường lớn, roi đã đặt sẵn (odhastapatodo; Chú giải, tr. 444: roi gác ngang xe). Người luyện ngựa khéo, bậc đánh xe điều ngự, bước lên, tay trái cầm cương, tay phải cầm roi, cho xe đi tới, đi lui, đến chỗ nào, lúc nào tùy ý. Các Tỷ-kheo thuở ấy cũng vậy: chỉ cần nhắc. Vì vậy, Ngài dạy: hãy bỏ bất thiện, chuyên tâm vào các thiện pháp, như vậy sẽ được tăng trưởng, lớn mạnh, sung mãn (vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ) trong Pháp và Luật này.

Ảnh dụ cỗ xe - MN21 7.10–7.15

Seyyathāpi, bhikkhave, subhūmiyaṁ catumahāpathe ājaññaratho yutto assa ṭhito odhastapatodo. Tamenaṁ dakkho yoggācariyo assadammasārathi abhiruhitvā, vāmena hatthena rasmiyo gahetvā, dakkhiṇena hatthena patodaṁ gahetvā, yenicchakaṁ yadicchakaṁ sāreyyapi paccāsāreyyapi. Evameva kho, bhikkhave, na me tesu bhikkhūsu anusāsanī karaṇīyā ahosi, satuppādakaraṇīyameva me, bhikkhave, tesu bhikkhūsu ahosi. Tasmātiha, bhikkhave, tumhepi akusalaṁ pajahatha, kusalesu dhammesu āyogaṁ karotha. Evañhi tumhepi imasmiṁ dhammavinaye vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjissatha.

Chư Tỷ-kheo, ví như trên đất bằng, tại chỗ ngã tư, có một chiếc xe đang đậu, thắng với ngựa hay, có roi ngựa đặt ngang sẵn sàng. Có người mã thuật sư thiện xảo, người đánh xe điều ngự các con ngựa đáng được điều ngự, leo lên xe ấy, tay trái nắm lấy dây cương, tay mặt cầm lấy roi ngựa, có thể đánh xe ngựa ấy đi tới đi lui, tại chỗ nào và như thế nào, theo ý mình muốn. Cũng vậy chư Tỷ-kheo, Ta không cần phải giảng dạy gì cho các Tỷ-kheo ấy; chư Tỷ-kheo, Ta chỉ cần khơi dậy ức niệm nơi các Tỷ-kheo ấy.

Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy từ bỏ bất thiện, hãy nỗ lực đối với các thiện pháp, như vậy các Ngươi mới thành tựu sự trưởng thành, hưng thịnh, lớn mạnh trong Pháp và Luật này.

Pāḷi: mn21:7.10–7.15 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn21/vi/minh_chau)

Ảnh dụ rừng cây sāla

Ảnh dụ thứ hai: gần một làng hay một thị trấn có một rừng cây sāla lớn bị cỏ dại eḷaṇḍa phủ kín (bản Việt: “cây leo y lan”; bản Anh của Sujato: castor-oil weeds). Có một người muốn điều tốt cho khu rừng — kinh dùng đủ ba chữ: muốn lợi ích (atthakāmo), muốn điều lành (hitakāmo), muốn an ổn (yogakkhemakāmo). Người ấy làm bốn việc: (1) chặt những cây sāla non cong queo, (2) đem chúng ra ngoài, (3) dọn sạch bên trong rừng, (4) chăm sóc đúng cách những cây non thẳng, mọc tốt. Theo thời gian khu rừng tăng trưởng, lớn mạnh. Lời dạy được nhắc lại y như ở cuối ảnh dụ cỗ xe: hãy bỏ bất thiện, chuyên tâm vào thiện pháp.

Rừng sāla - MN21 8

Seyyathāpi, bhikkhave, gāmassa vā nigamassa vā avidūre mahantaṁ sālavanaṁ. Tañcassa eḷaṇḍehi sañchannaṁ. Tassa kocideva puriso uppajjeyya atthakāmo hitakāmo yogakkhemakāmo. So yā tā sālalaṭṭhiyo kuṭilā ojāpaharaṇiyo tā chetvā bahiddhā nīhareyya, antovanaṁ suvisodhitaṁ visodheyya. Yā pana tā sālalaṭṭhiyo ujukā sujātā tā sammā parihareyya. Evañhetaṁ, bhikkhave, sālavanaṁ aparena samayena vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjeyya. Evameva kho, bhikkhave, tumhepi akusalaṁ pajahatha, kusalesu dhammesu āyogaṁ karotha. Evañhi tumhepi imasmiṁ dhammavinaye vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjissatha.

Chư Tỷ-kheo, cũng như gần một thôn làng hay thị trấn nhỏ, có ngôi rừng cây tala lớn, ngôi rừng bị các cây leo y lan bao phủ. Có một người đến khu rừng này, muốn lợi ích cho ngôi rừng, muốn hạnh phúc, muốn an ổn khỏi các ách phược cho ngôi rừng. Người ấy chặt đứt các nhành cây cong thiếu hẳn sinh lực, vất chúng ra khỏi ngôi rừng, dọn dẹp trong rừng sạch sẽ. Người ấy săn sóc kỹ lưỡng các nhánh cây tala thẳng thắn, khéo mọc. Chư Tỷ-kheo, sau một thời gian, ngôi rừng như vậy được trưởng thành, hưng thịnh, lớn mạnh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy từ bỏ bất thiện, hãy nỗ lực đối với các thiện pháp, như vậy các Ngươi mới thành tựu sự trưởng thành, hưng thịnh, lớn mạnh trong Pháp và Luật này.

Pāḷi: mn21:8.1–8.8 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn21/vi/minh_chau)

(Lưu ý bản Việt: (a) bản Việt gọi là “rừng cây tala”, nhưng Pāḷi là sālavana — rừng cây sāla (sa-la), bản Hán MA193 cũng ghi 娑羅樹林; tāla là một loại cây khác (cây thốt nốt). (b) Những cây bị chặt được bản Việt tả là “các nhành cây cong thiếu hẳn sinh lực”; Pāḷi sālalaṭṭhiyo kuṭilā ojāpaharaṇiyo là những cây sāla non cong queo hút mất dưỡng chất (ojā) của rừng — Sujato dịch robbing the sap. Như vậy lý do chặt là chúng làm hại cây khác, không phải vì chúng yếu.)

Chú giải (tr. 444–445) nói thêm: “chăm sóc đúng cách” là đúng lúc tưới nước, xới đất quanh gốc, cắt dây leo và bụi cỏ chung quanh, dọn tổ kiến, gỡ mạng nhện, bỏ cành khô.

Chuyện nữ gia chủ Vedehikā và nữ tỳ Kāḷī

Để nói về cái hại của sự thiếu nhẫn nại (Chú giải, tr. 445), Thế Tôn kể một chuyện thuở xưa (bhūtapubbaṁ) xảy ra ngay tại Sāvatthī này. Nữ gia chủ Vedehikā có tiếng tốt với ba đức: hiền thục (soratā), nhu thuận (nivātā), ôn hòa (upasantā). Bà có một nữ tỳ tên Kāḷī, được tả bằng ba nét: khéo léo (dakkhā), không biếng nhác (analasā), lo liệu công việc chu toàn (susaṁvihitakammantā). Câu chuyện đi qua ba lần thử, lần sau trễ hơn lần trước, và cơn giận của bà chủ cũng tăng dần qua ba nấc.

Sơ đồ ba lần thử của nữ tỳ Kāḷī: dậy trễ → bà Vedehikā cau mày; dậy trễ hơn → buông lời giận; dậy trễ hơn nữa → cầm then cửa đánh bể đầu; kết cục tiếng tốt thành tiếng xấu

Tiếng tốt và ý định thử chủ

Kāḷī tự hỏi: bà chủ có cơn giận bên trong mà không để lộ, hay không có cơn giận; hay là vì chính công việc của mình chu toàn nên bà có giận mà không lộ ra? Nàng quyết định thử.

Ý định thử chủ - MN21 9.1–9.10

Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, imissāyeva sāvatthiyā vedehikā nāma gahapatānī ahosi. Vedehikāya, bhikkhave, gahapatāniyā evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato: ‘soratā vedehikā gahapatānī, nivātā vedehikā gahapatānī, upasantā vedehikā gahapatānī’ti. Vedehikāya kho pana, bhikkhave, gahapatāniyā kāḷī nāma dāsī ahosi dakkhā analasā susaṁvihitakammantā. Atha kho, bhikkhave, kāḷiyā dāsiyā etadahosi: ‘mayhaṁ kho ayyāya evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato: “soratā vedehikā gahapatānī, nivātā vedehikā gahapatānī, upasantā vedehikā gahapatānī”ti. Kiṁ nu kho me ayyā santaṁyeva nu kho ajjhattaṁ kopaṁ na pātukaroti udāhu asantaṁ udāhu mayhamevete kammantā susaṁvihitā yena me ayyā santaṁyeva ajjhattaṁ kopaṁ na pātukaroti, no asantaṁ? Yannūnāhaṁ ayyaṁ vīmaṁseyyan’ti.

Chư Tỷ-kheo, thuở xưa, tại thành Sāvatthi này có nữ gia chủ tên là Vedehika. Chư Tỷ-kheo, tiếng đồn tốt đẹp sau đây được khởi lên về nữ gia chủ Vedehika: “Nữ gia chủ Vedehika là hiền thục, nữ gia chủ Vedehika là nhu thuận; nữ gia chủ Vedehika là ôn hòa”. Chư Tỷ-kheo, nữ gia chủ Vedehika có người nữ tỳ tên là Kālī , người này khéo tay, siêng năng, và làm việc cẩn thận chu toàn. Chư Tỷ-kheo, nữ tỳ Kālī khởi lên ý nghĩ: “Chủ của ta được tiếng đồn tốt đẹp khởi lên như sau: “Nữ gia chủ Vedehika là hiền thục; nữ gia chủ Vedehika là nhu thuận; nữ gia chủ Vedehika là ôn hòa”. Không biết nữ chủ của ta có nội sân mà không tỏ lộ hay không có nội sân, hay vì công việc ta làm cẩn thận chu toàn nên nữ chủ ta có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vậy ta hãy thử nữ chủ của ta!”

Pāḷi: mn21:9.1–9.10 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn21/vi/minh_chau)

Lần thử thứ nhất: dậy trễ — bà chủ cau mày

Kāḷī dậy trễ, khi trời đã sáng (divā uṭṭhāsi; Chú giải, tr. 445: lúc mặt trời đã lên cao, bỏ cả những việc phải làm từ sớm như vắt sữa bò). Bà chủ gọi: “Này Kāḷī!” — “Thưa bà, có việc gì?” — “Sao dậy trễ vậy?” — “Thưa, không có gì.” — “Không có gì mà dậy trễ, con tỳ hư kia!” Bà giận, bất mãn và cau mày (bhākuṭiṁ akāsi; bản Việt: “trừng mắt”). Kāḷī kết luận: bà chủ có cơn giận bên trong mà không lộ ra, chỉ vì việc của mình chu toàn; nàng quyết định thử thêm.

Lần thử thứ nhất - MN21 9.11–9.21

Atha kho, bhikkhave, kāḷī dāsī divā uṭṭhāsi. Atha kho, bhikkhave, vedehikā gahapatānī kāḷiṁ dāsiṁ etadavoca: ‘he je kāḷī’ti. ‘Kiṁ, ayye’ti? ‘Kiṁ, je, divā uṭṭhāsī’ti? ‘Na khvayye, kiñcī’ti. ‘No vata re kiñci, pāpi dāsi, divā uṭṭhāsī’ti kupitā anattamanā bhākuṭiṁ akāsi. Atha kho, bhikkhave, kāḷiyā dāsiyā etadahosi: ‘santaṁyeva kho me ayyā ajjhattaṁ kopaṁ na pātukaroti, no asantaṁ; mayhamevete kammantā susaṁvihitā, yena me ayyā santaṁyeva ajjhattaṁ kopaṁ na pātukaroti, no asantaṁ. Yannūnāhaṁ bhiyyoso mattāya ayyaṁ vīmaṁseyyan’ti.

Chư Tỷ-kheo, rồi nữ tỳ Kālī sáng ngày sau dậy thật trễ. Chư Tỷ-kheo, nữ gia chủ Vedehika nói với nữ tỳ Kālī
—Này Kālī !

—Thưa Nữ chủ, có việc gì?

—Sao hôm nay Ngươi dậy trễ vậy?

—Thưa nữ chủ, có việc gì đâu?

—Thật sự không có việc gì à? Ác nữ tỳ kia, hôm nay Ngươi dậy trễ!”

Và nữ chủ phẫn nộ, bất mãn, trừng mắt.

Chư Tỷ-kheo, nữ tỳ Kālī suy nghĩ: “Nữ chủ của ta thật sự có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vì những công việc ta làm cẩn thận chu toàn, nên nữ chủ của ta tuy có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vậy Ta hãy thử thêm nữa nữ chủ của ta!”

Pāḷi: mn21:9.11–9.21 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn21/vi/minh_chau)

Lần thử thứ hai: dậy trễ hơn — bà chủ buông lời giận

Kāḷī dậy trễ hơn nữa (divātaraṁ). Cuộc đối đáp lặp lại y như lần trước; lần này bà chủ giận, bất mãn và thốt ra lời bất mãn (anattamanavācaṁ nicchāresi). Chú giải (tr. 445) ghi lời ấy là: “này ác nữ tỳ kia, ngươi không biết chừng mực của ngươi; nghĩ rằng trời lạnh à, bây giờ ta sẽ cho ngươi nhận ra chính mình.” Kāḷī lại kết luận như cũ và quyết định thử thêm lần nữa.

Lần thử thứ hai - MN21 9.22–9.32

Atha kho, bhikkhave, kāḷī dāsī divātaraṁyeva uṭṭhāsi. Atha kho, bhikkhave, vedehikā gahapatānī kāḷiṁ dāsiṁ etadavoca: ‘he je kāḷī’ti. ‘Kiṁ, ayye’ti? ‘Kiṁ, je, divātaraṁ uṭṭhāsī’ti? ‘Na khvayye, kiñcī’ti. ‘No vata re kiñci, pāpi dāsi, divātaraṁ uṭṭhāsī’ti kupitā anattamanā anattamanavācaṁ nicchāresi. Atha kho, bhikkhave, kāḷiyā dāsiyā etadahosi: ‘santaṁyeva kho me ayyā ajjhattaṁ kopaṁ na pātukaroti, no asantaṁ. Mayhamevete kammantā susaṁvihitā, yena me ayyā santaṁyeva ajjhattaṁ kopaṁ na pātukaroti, no asantaṁ. Yannūnāhaṁ bhiyyoso mattāya ayyaṁ vīmaṁseyyan’ti.

Chư Tỷ-kheo, rồi nữ tỳ Kālī ngày sau lại dậy trễ hơn nữa. Chư Tỷ-kheo, nữ chủ Vedehika nói với nữ tỳ Kālī
—Này Kālī !

—Thưa Nữ chủ, có việc gì?

—Sao hôm nay Ngươi dậy trễ vậy?

—Thưa Nữ chủ, có việc gì đâu?

—Thật sự không có việc gì à? Ác nữ tỳ kia, hôm nay Ngươi dậy trễ!

Và nữ chủ phẫn nộ, bất mãn, thốt lên những lời bất mãn.

Chư Tỷ-kheo, nữ tỳ Kālī suy nghĩ: “Nữ chủ của ta thật sự có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vì những công việc ta làm cẩn thận chu toàn nên nữ chủ của ta tuy có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vậy ta hãy thử thêm nữa nữ chủ của ta!”

Pāḷi: mn21:9.22–9.32 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn21/vi/minh_chau)

Lần thử thứ ba: dậy trễ hơn nữa — then cửa và cái đầu bể

Kāḷī dậy càng trễ hơn. Sau đúng những câu hỏi đáp ấy, bà chủ giận, bất mãn, cầm then cửa (aggaḷasūci) đánh vào đầu nàng, làm bể đầu. Kāḷī, đầu bể máu chảy, đi kể với hàng xóm: “Thưa các bà, hãy xem việc làm của người hiền thục! Hãy xem việc làm của người nhu thuận! Hãy xem việc làm của người ôn hòa! Sao lại nổi giận chỉ vì đứa tỳ duy nhất của mình (ekadāsikā) dậy trễ, mà cầm then cửa đánh vào đầu, làm bể đầu?”

Lần thử thứ ba - MN21 9.33–9.43

Atha kho, bhikkhave, kāḷī dāsī divātaraṁyeva uṭṭhāsi. Atha kho, bhikkhave, vedehikā gahapatānī kāḷiṁ dāsiṁ etadavoca: ‘he je kāḷī’ti. ‘Kiṁ, ayye’ti? ‘Kiṁ, je, divā uṭṭhāsī’ti? ‘Na khvayye, kiñcī’ti. ‘No vata re kiñci, pāpi dāsi, divā uṭṭhāsī’ti kupitā anattamanā aggaḷasūciṁ gahetvā sīse pahāraṁ adāsi, sīsaṁ vobhindi. Atha kho, bhikkhave, kāḷī dāsī bhinnena sīsena lohitena galantena paṭivissakānaṁ ujjhāpesi: ‘passathayye, soratāya kammaṁ; passathayye, nivātāya kammaṁ, passathayye, upasantāya kammaṁ. Kathañhi nāma ekadāsikāya divā uṭṭhāsīti kupitā anattamanā aggaḷasūciṁ gahetvā sīse pahāraṁ dassati, sīsaṁ vobhindissatī’ti.

Chư Tỷ-kheo, rồi nữ tỳ Kālī sáng hôm sau lại dậy trễ hơn nữa. Chư Tỷ-kheo, nữ chủ Vedehika nói với nữ tỳ Kālī
—Này Kālī !

—Thưa Nữ chủ, có việc gì?

—Sao hôm nay Ngươi dậy trễ vậy?

—Thưa Nữ chủ, có việc gì đâu?

—Thật sự không có việc gì à? Ác nữ tỳ kia, hôm nay Ngươi dậy trễ!

Rồi phẫn nộ, không hoan hỷ, nàng cầm cái then gài cửa, đánh một cú trên đầu nữ tỳ khiến bể đầu.

Chư Tỷ-kheo, nữ tỳ Kālī , với đầu bể máu chảy, liền đi kể lể với các nhà láng giềng

—Hãy xem việc làm của nữ chủ hiền thục! Hãy xem việc làm của nữ chủ nhu thuận! Hãy xem việc làm của nữ chủ ôn hòa! Sao nữ chủ nói với nữ tỳ độc nhất: “Hôm nay Ngươi dậy trễ”, rồi phẫn nộ, bất mãn, nàng cầm then gài cửa, đánh tôi một cú trên đầu khiến bể đầu”.

Pāḷi: mn21:9.33–9.43 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn21/vi/minh_chau)
Minh hoạ: trong sân nhà buổi sáng, bà Vedehikā giận dữ giơ cây then cửa về phía nữ tỳ Kāḷī vừa dậy trễ, đang đưa tay che đầu

Tiếng xấu thay tiếng tốt

Về sau, ba đức của tiếng tốt đổi thành ba điều ngược lại: hung dữ (caṇḍī), không nhu thuận (anivātā), không ôn hòa (anupasantā). Chú giải (tr. 445) bình: lợi ích tích lũy từ từ, còn lỗi lầm chỉ trong chốc lát đã xóa sạch.

Tiếng xấu - MN21 9.44–9.45

Atha kho, bhikkhave, vedehikāya gahapatāniyā aparena samayena evaṁ pāpako kittisaddo abbhuggacchi: ‘caṇḍī vedehikā gahapatānī, anivātā vedehikā gahapatānī, anupasantā vedehikā gahapatānī’ti.

Chư Tỷ-kheo, sau một thời gian, tiếng đồn xấu sau đây được khởi lên về nữ chủ Vedehika: “Nữ chủ Vedehika là độc ác! Nữ chủ Vedehika là không nhu thuận! Nữ chủ Vedehika là không ôn hòa!”

Pāḷi: mn21:9.44–9.45 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn21/vi/minh_chau)

Hiền lành thật sự và dễ dạy thật sự

Thế Tôn áp chuyện ấy vào Tỷ-kheo: có vị rất hiền, rất nhu thuận, rất ôn hòa chừng nào chưa gặp lời nói trái ý (amanāpā vacanapathā); chính khi gặp lời trái ý mới biết vị ấy có hiền, có nhu thuận, có ôn hòa thật không. Tiếp đó là chữ suvaca — “dễ nói, dễ dạy” (bản Việt: “dễ nói”): Ngài không gọi là dễ dạy người chỉ dễ dạy vì bốn thứ vật dụng — y áo, đồ ăn khất thực, chỗ ở, thuốc men chữa bệnh — vì khi không được những thứ ấy, người đó hết dễ dạy. Người dễ dạy thật là người dễ dạy chỉ vì kính Pháp, kinh kê năm cách: cung kính (sakkaronto), tôn trọng (garuṁ karonto), quý mến (mānento), cúng dường (pūjento), kính lễ (apacāyamāno) Pháp. Chư Tỷ-kheo phải học tập như vậy.

Dễ dạy vì Pháp - MN21 10

Evameva kho, bhikkhave, idhekacco bhikkhu tāvadeva soratasorato hoti nivātanivāto hoti upasantūpasanto hoti yāva na amanāpā vacanapathā phusanti. Yato ca, bhikkhave, bhikkhuṁ amanāpā vacanapathā phusanti, atha bhikkhu ‘sorato’ti veditabbo, ‘nivāto’ti veditabbo, ‘upasanto’ti veditabbo. Nāhaṁ taṁ, bhikkhave, bhikkhuṁ ‘suvaco’ti vadāmi yo cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārahetu suvaco hoti, sovacassataṁ āpajjati. Taṁ kissa hetu? Tañhi so, bhikkhave, bhikkhu cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhāraṁ alabhamāno na suvaco hoti, na sovacassataṁ āpajjati. Yo ca kho, bhikkhave, bhikkhu dhammaṁyeva sakkaronto, dhammaṁ garuṁ karonto, dhammaṁ mānento, dhammaṁ pūjento, dhammaṁ apacāyamāno suvaco hoti, sovacassataṁ āpajjati, tamahaṁ ‘suvaco’ti vadāmi. Tasmātiha, bhikkhave, ‘dhammaṁyeva sakkarontā, dhammaṁ garuṁ karontā, dhammaṁ mānentā, dhammaṁ pūjentā, dhammaṁ apacāyamānā suvacā bhavissāma, sovacassataṁ āpajjissāmā’ti. Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ.

Cũng vậy chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo hết sức hiền lành, hết sức nhu thuận, hết sức ôn hòa trong khi chưa bị những lời nói bất khả ý, xúc phạm. Và chư Tỷ-kheo, chỉ khi nào Tỷ-kheo bị những lời nói bất khả ý, xúc phạm mà vị ấy vẫn hết sức hiền lành, hết sức nhu thuận, hết sức ôn hòa, khi ấy vị ấy mới được xem là hiền lành, mới được xem là nhu thuận, mới được xem là ôn hòa. Chư Tỷ-kheo, Ta không gọi một Tỷ-kheo là dễ nói, khi vị ấy dễ nói về các vật dụng như y áo, món ăn, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, khi vị ấy thành tựu được tánh dễ nói. Vì sao vậy? Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy khi không được các vật dụng như y áo, thức ăn, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, không còn là dễ nói, không còn thành tựu tánh dễ nói. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào tôn trọng Pháp, cung kính Pháp, sùng kính Pháp trở thành dễ nói, thành tựu tánh dễ nói, vị ấy Ta mới gọi là dễ nói. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy suy nghĩ: “Chỉ vì tôn trọng Pháp, cung kính Pháp, sùng kính Pháp chúng ta sẽ trở thành dễ nói, thành tựu tánh dễ nói”. Chư Tỷ-kheo, các Ngươi phải học tập như vậy.

Pāḷi: mn21:10.1–10.8 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn21/vi/minh_chau)

(Lưu ý bản Việt: Pāḷi kê năm động từ kính Pháp, bản Việt gom còn ba: “tôn trọng Pháp, cung kính Pháp, sùng kính Pháp”.)

Năm cách người khác có thể nói với mình

Đây là đoạn then chốt của kinh. Thế Tôn nêu năm cặp cách mà người khác có thể dùng khi nói với các Tỷ-kheo (yehi vo pare vadamānā vadeyyuṁ):

#Có thể nói……hoặc
1đúng thời (kālena)không đúng thời (akālena)
2đúng sự thật (bhūtena)không đúng sự thật (abhūtena)
3dịu dàng (saṇhena)thô bạo (pharusena)
4có lợi ích (atthasaṁhitena)không lợi ích (anatthasaṁhitena)
5với tâm từ (mettacittā)với sân hận bên trong (dosantarā)

Dù người ta nói theo cách nào, cách học tập vẫn là một. Đó là bốn vế đã dạy cho Phagguna — tâm không biến đổi, không thốt lời ác, sống thương tưởng vì lợi ích với tâm từ, không sân hận bên trong — nay nói ở số nhiều (“chúng ta”), và thêm hai bước rải tâm từ: (5) rải tâm câu hữu với từ đến chính người ấy; (6) rồi lấy người ấy làm đối tượng (tadārammaṇa), rải đến khắp cả thế gian với tâm câu hữu với từ, kinh kê năm tính chất: rộng lớn (vipula), quảng đại (mahaggata), vô lượng (appamāṇa), không oán thù (avera), không hại (abyābajjha).

Năm cách nói và cách học tập - MN21 11

Pañcime, bhikkhave, vacanapathā yehi vo pare vadamānā vadeyyuṁ— kālena vā akālena vā; bhūtena vā abhūtena vā; saṇhena vā pharusena vā; atthasaṁhitena vā anatthasaṁhitena vā; mettacittā vā dosantarā vā. Kālena vā, bhikkhave, pare vadamānā vadeyyuṁ akālena vā; bhūtena vā, bhikkhave, pare vadamānā vadeyyuṁ abhūtena vā; saṇhena vā, bhikkhave, pare vadamānā vadeyyuṁ pharusena vā; atthasaṁhitena vā, bhikkhave, pare vadamānā vadeyyuṁ anatthasaṁhitena vā; mettacittā vā, bhikkhave, pare vadamānā vadeyyuṁ dosantarā vā. Tatrāpi vo, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘na ceva no cittaṁ vipariṇataṁ bhavissati, na ca pāpikaṁ vācaṁ nicchāressāma, hitānukampī ca viharissāma mettacittā, na dosantarā. Tañca puggalaṁ mettāsahagatena cetasā pharitvā viharissāma, tadārammaṇañca sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cittena vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharissāmā’ti. Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ.

Chư Tỷ-kheo, có năm loại ngôn ngữ mà các Ngươi có thể dùng khi nói với các người khác: đúng thời hay phi thời, chơn thực hay không chơn thực, nhu nhuyến hay thô bạo, có lợi ích hay không lợi ích, với từ tâm hay với sân tâm. Chư Tỷ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói đúng thời hay phi thời. Chư Tỷ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói lời chơn thực hay nói lời không chơn thực. Chư Tỷ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói lời nhu nhuyến hay nói lời thô bạo. Chư Tỷ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói lời lợi ích hay nói lời không lợi ích. Chư Tỷ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói với từ tâm hay với sân tâm. Chư Tỷ-kheo, ở tại đây, các Ngươi cần phải học tập như sau: “Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm, chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ, chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Chúng ta sẽ sống bao phủ người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng địa vô biên, không hận, không sân”. Chư Tỷ-kheo, như vậy các Ngươi cần phải học tập.

Pāḷi: mn21:11.1–11.15 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn21/vi/minh_chau)

(Lưu ý bản Việt — điểm quan trọng: bản Việt viết “năm loại ngôn ngữ mà các Ngươi có thể dùng khi nói với các người khác”, và “khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói đúng thời hay phi thời…”, tức đảo ngược người nói. Pāḷi yehi vo pare vadamānā vadeyyuṁ là “những cách mà người khác có thể dùng khi nói với các ông” — bản Anh của Sujato: five ways in which others might criticize you. Đọc theo nguyên văn thì mạch kinh mới khớp: đây là lời người khác nói với mình, và việc của mình là giữ tâm không biến đổi trước những lời ấy. Bản Việt lặp lại cách dịch này ở cả bốn ảnh dụ phía sau. Ngoài ra, “quảng địa vô biên” ở đây có lẽ là lỗi in của “quảng đại, vô biên” — các đoạn sau của chính bản Việt đều in “quảng đại, vô biên”.)

Chú giải (tr. 446) giải thích tadārammaṇa: lấy chính người đang nói năm cách ấy làm đối tượng đầu tiên của tâm từ, rồi trải tâm ấy đến mọi chúng sinh còn lại trong thế gian.

Khuôn chung của bốn ảnh dụ

Tiếp theo là bốn ảnh dụ (§12–19), cùng một khuôn bốn bước. Khuôn được trích một lần dưới đây (lấy ảnh dụ đầu tiên làm mẫu); ở từng ảnh dụ bên dưới chỉ trích phần riêng.

  1. Ảnh dụ: “Ví như có một người đến, mang theo [dụng cụ]” và tuyên bố sẽ làm một việc không thể làm.
  2. Câu hỏi: Thế Tôn hỏi chư Tỷ-kheo: “Các ông nghĩ thế nào? Người ấy có làm được không?”
  3. Lời đáp của chư Tỷ-kheo: “Bạch Thế Tôn, không” — vì [đặc tính của đối tượng]; không dễ gì làm được, “người ấy chỉ chuốc lấy mệt nhọc và thất bại” (kilamathassa vighātassa bhāgī).
  4. Áp dụng: “Cũng vậy”, với năm cách người khác nói, hãy học tập: tâm không biến đổi… rải đến người ấy, rồi đến khắp thế gian với tâm như [đối tượng ấy] (…samena cetasā).
Sơ đồ bốn ảnh dụ và ảnh dụ cái cưa trong MN21: đất lớn, hư không, sông Hằng, túi da mèo — mỗi ảnh dụ có dụng cụ, việc muốn làm, lý do không làm được và tâm như đối tượng ấy; cuối cùng là cái cưa
Khuôn mẫu một ảnh dụ - MN21 12–13

Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, api nu so puriso imaṁ mahāpathaviṁ apathaviṁ kareyyā”ti? “No hetaṁ, bhante”. “Taṁ kissa hetu”? “Ayañhi, bhante, mahāpathavī gambhīrā appameyyā. Sā na sukarā apathavī kātuṁ; yāvadeva ca pana so puriso kilamathassa vighātassa bhāgī assā”ti.

Chư Tỷ-kheo, nghĩ thế nào? Người ấy có thể làm cho đất lớn này trở thành không phải đất chăng?

—Bạch Thế Tôn, không. Vì sao vậy? Vì đất lớn này thâm sâu và vô lượng, không dễ gì khiến cho đất lớn này trở thành không phải đất, trước khi người ấy bị mệt nhoài và bị thất bại.

Tatrāpi vo, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘na ceva no cittaṁ vipariṇataṁ bhavissati, na ca pāpikaṁ vācaṁ nicchāressāma, hitānukampī ca viharissāma mettacittā na dosantarā. Tañca puggalaṁ mettāsahagatena cetasā pharitvā viharissāma, tadārammaṇañca sabbāvantaṁ lokaṁ pathavisamena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharissāmā’ti. Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ.

Các Tỷ-kheo, ở tại đây, các Ông cần phải học tập như sau: “Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm; chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ; chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận; chúng ta sẽ sống biến mãn người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới, với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân”. Các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như vậy.

Pāḷi: mn21:12.6–13.15 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn21/vi/minh_chau)

(Lưu ý bản Việt — điểm quan trọng thứ hai: ở cả bốn ảnh dụ, bản Việt đều dịch câu cuối là “biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ”, tức không phân biệt bốn ảnh dụ. Pāḷi mỗi lần một khác: pathavisamena cetasā — “với tâm như đất” (§13), ākāsasamena — “như hư không” (§15), gaṅgāsamena — “như sông Hằng” (§17), biḷārabhastāsamena — “như túi da mèo” (§19). Chỉ ở §11 và §20, phần rải khắp thế gian mới là mettāsahagatena — “câu hữu với từ” (còn phần rải đến chính người kia thì lần nào cũng là tâm từ). Chính chỗ khác nhau này nối mỗi ảnh dụ với tâm của người tu.)

1. Đất lớn — người cầm xẻng và thúng

Một người cầm xẻng và thúng (kudālapiṭaka) đến, tuyên bố: “Ta sẽ làm cho đất lớn này thành không phải đất.” Người ấy làm bốn việc khắp chỗ này chỗ kia: đào (vikhaṇeyya), rải đất (vikireyya), nhổ nước bọt (oṭṭhubheyya), tiểu tiện (omutteyya), miệng nói “Hãy thành không phải đất!” Lý do không làm được: đất lớn sâu và vô lượng (gambhīrā appameyyā). Áp dụng: rải tâm như đất (pathavisamena cetasā). Chú giải (tr. 446–447) đọc ảnh dụ thế này: tâm từ giống mặt đất, người dùng năm cách nói giống người mang cuốc và thúng; người ấy không làm được đất thành không-đất thế nào thì người dùng năm cách nói cũng không làm biến đổi được tâm từ thế ấy (Chú giải còn nêu độ dày của đất theo vũ trụ quan truyền thống là 240.000 do-tuần).

Đất lớn - MN21 12.1–12.5

Seyyathāpi, bhikkhave, puriso āgaccheyya kudālapiṭakaṁ ādāya. So evaṁ vadeyya: ‘ahaṁ imaṁ mahāpathaviṁ apathaviṁ karissāmī’ti. So tatra tatra vikhaṇeyya, tatra tatra vikireyya, tatra tatra oṭṭhubheyya, tatra tatra omutteyya: ‘apathavī bhavasi, apathavī bhavasī’ti.

Chư Tỷ-kheo, ví như một người đến, cầm xẻng và thúng, nói như sau: “Tôi sẽ làm cho đất lớn này không thành đất nữa”, và người ấy đào chỗ này chỗ kia, rải đất chỗ này chỗ kia, nhổ nước miếng chỗ này chỗ kia, đi tiểu tiện chỗ này chỗ kia, với ý nghĩ: “Ngươi trở thành không phải đất, Ngươi trở thành không phải đất”.

Pāḷi: mn21:12.1–12.5 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn21/vi/minh_chau)

2. Hư không — người cầm màu muốn vẽ lên trời

Một người cầm bốn thứ màu: nhựa cánh kiến đỏ (lākhā), nghệ vàng (haliddī), chàm xanh (nīla), đỏ thiến thảo (mañjiṭṭhā) (bản Việt: “màu sơn, màu vàng, màu xanh sẫm hay màu đỏ tía”), tuyên bố: “Ta sẽ vẽ hình sắc trên hư không, làm cho hình sắc hiện ra.” Lý do không làm được: hư không là vô sắc, không thể thấy (arūpī anidassano). Áp dụng: rải tâm như hư không (ākāsasamena cetasā). Phần áp dụng ở đây được kinh rút gọn bằng “…pe…” (bản Việt: “(như trên)”). Chú giải (tr. 447) so: tâm từ như hư không; năm cách nói như bốn màu và cây cọ là thứ năm.

Hư không - MN21 14–15

Seyyathāpi, bhikkhave, puriso āgaccheyya lākhaṁ vā haliddiṁ vā nīlaṁ vā mañjiṭṭhaṁ vā ādāya. So evaṁ vadeyya: ‘ahaṁ imasmiṁ ākāse rūpaṁ likhissāmi, rūpapātubhāvaṁ karissāmī’ti. Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, api nu so puriso imasmiṁ ākāse rūpaṁ likheyya, rūpapātubhāvaṁ kareyyā”ti? “No hetaṁ, bhante”. “Taṁ kissa hetu”? “Ayañhi, bhante, ākāso arūpī anidassano. Tattha na sukaraṁ rūpaṁ likhituṁ, rūpapātubhāvaṁ kātuṁ; yāvadeva ca pana so puriso kilamathassa vighātassa bhāgī assā”ti.

Chư Tỷ-kheo, ví như một người đến, cầm màu sơn, màu vàng, màu xanh sẫm hay màu đỏ tía; người ấy có thể nói như sau: “Ta sẽ viết các hình sắc trên hư không này. Ta sẽ làm cho các hình sắc hiển hiện”. Các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy có thể viết các hình sắc trên hư không và làm cho các hình sắc hiển hiện được không?

—Bạch Thế Tôn, không thể được. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn, hư không là vô sắc, không thể thấy được. Ở đây, không dễ gì viết các hình sắc và làm hình sắc hiển hiện, trước khi người ấy bị mệt nhoài và bị thất bại.

“Evameva kho, bhikkhave, pañcime vacanapathā yehi vo pare vadamānā vadeyyuṁ kālena vā akālena vā …pe… tadārammaṇañca sabbāvantaṁ lokaṁ ākāsasamena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharissāmā’ti. Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ.

—Cũng vậy, này Tỷ-kheo, có năm loại ngôn ngữ này mà các Ông có thể nói với người khác: “Ðúng thời hay phi thời … hay với sân tâm … (như trên) … Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân”. Chư Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như vậy.

Pāḷi: mn21:14.1–15.3 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn21/vi/minh_chau)

3. Sông Hằng — người cầm bó đuốc cỏ

Một người cầm bó đuốc cỏ đang cháy (ādittaṁ tiṇukkaṁ), tuyên bố: “Ta sẽ dùng bó đuốc cỏ này hâm nóng, đun sôi sông Hằng.” Lý do không làm được: sông Hằng sâu và vô lượng (gambhīrā appameyyā). Áp dụng: rải tâm như sông Hằng (gaṅgāsamena cetasā), phần áp dụng cũng rút gọn “…pe…”. Chú giải (tr. 447): nước cao một, tám ngón tay thì còn đun sôi được, chứ sông Hằng thì không ai làm nóng nổi; tâm từ như sông Hằng, người dùng năm cách nói như người cầm bó đuốc cỏ.

Sông Hằng - MN21 16–17

Seyyathāpi, bhikkhave, puriso āgaccheyya ādittaṁ tiṇukkaṁ ādāya. So evaṁ vadeyya: ‘ahaṁ imāya ādittāya tiṇukkāya gaṅgaṁ nadiṁ santāpessāmi samparitāpessāmī’ti. Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, api nu so puriso ādittāya tiṇukkāya gaṅgaṁ nadiṁ santāpeyya samparitāpeyyā”ti? “No hetaṁ, bhante”. “Taṁ kissa hetu”? “Gaṅgā hi, bhante, nadī gambhīrā appameyyā. Sā na sukarā ādittāya tiṇukkāya santāpetuṁ samparitāpetuṁ; yāvadeva ca pana so puriso kilamathassa vighātassa bhāgī assā”ti. “Evameva kho, bhikkhave, pañcime vacanapathā yehi vo pare vadamānā vadeyyuṁ kālena vā akālena vā …pe… tadārammaṇañca sabbāvantaṁ lokaṁ gaṅgāsamena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharissāmā’ti. Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ.

Chư Tỷ-kheo, ví như một người đến, cầm một bó cỏ khô đang cháy và nói như sau: “Ta với bó cỏ khô đang cháy này sẽ hâm nóng và đun sôi sông Hằng này. Chư Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy, với bỏ cỏ khô đang cháy có thể hâm nóng và đun sôi sông Hằng được không?

—Bạch Thế Tôn, không. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn, vì sông Hằng thâm sâu và vô lượng, không dễ gì với bó cỏ khô đang cháy có thể hâm nóng và đun sôi sông Hằng được, trước khi người ấy mệt nhoài và bị thất bại.

—Cũng vậy, này chư Tỷ-kheo, có năm loại ngôn ngữ này mà các Ông có thể nói với các người khác: “Ðúng thời hay phi thời … hay với sân tâm”. Chư Tỷ-kheo, khi nói với các người khác, các Ông có thể nói: “Ðúng thời … hay với sân tâm … (như trên) … Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân”. Chư Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như vậy.

Pāḷi: mn21:16.1–17.3 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn21/vi/minh_chau)
Minh hoạ: một người đứng trên bờ sông Hằng mênh mông, giơ bó đuốc cỏ đang cháy như muốn đun nóng cả dòng sông

4. Túi da mèo — người cầm gậy hay mảnh sành

Một cái túi da mèo đã được thuộc ba mức — thuộc, thuộc kỹ, thuộc thật kỹ (madditā sumadditā suparimadditā) — mềm, mượt như bông (mudukā tūlinī), hết tiếng sột soạt, lạo xạo (chinnasassarā chinnabhabbharā; bản Việt: “không còn tiếng xì, tiếng xọp”). Một người cầm gậy hay mảnh sành (kaṭṭhaṁ vā kathalaṁ vā) tuyên bố sẽ làm nó kêu sột soạt. Lý do không làm được: chính vì túi đã được thuộc mềm như thế. Áp dụng: rải tâm như túi da mèo (biḷārabhastāsamena cetasā); ở ảnh dụ này kinh nói lại đủ năm cặp và cả câu học tập, không rút gọn.

Túi da mèo - MN21 18–19

Seyyathāpi, bhikkhave, biḷārabhastā madditā sumadditā suparimadditā, mudukā tūlinī chinnasassarā chinnabhabbharā. Atha puriso āgaccheyya kaṭṭhaṁ vā kathalaṁ vā ādāya. So evaṁ vadeyya: ‘ahaṁ imaṁ biḷārabhastaṁ madditaṁ sumadditaṁ suparimadditaṁ, mudukaṁ tūliniṁ, chinnasassaraṁ chinnabhabbharaṁ kaṭṭhena vā kathalena vā sarasaraṁ karissāmi bharabharaṁ karissāmī’ti. Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, api nu so puriso amuṁ biḷārabhastaṁ madditaṁ sumadditaṁ suparimadditaṁ, mudukaṁ tūliniṁ, chinnasassaraṁ chinnabhabbharaṁ kaṭṭhena vā kathalena vā sarasaraṁ kareyya, bharabharaṁ kareyyā”ti? “No hetaṁ, bhante”. “Taṁ kissa hetu”? “Amu hi, bhante, biḷārabhastā madditā sumadditā suparimadditā, mudukā tūlinī, chinnasassarā chinnabhabbharā. Sā na sukarā kaṭṭhena vā kathalena vā sarasaraṁ kātuṁ bharabharaṁ kātuṁ; yāvadeva ca pana so puriso kilamathassa vighātassa bhāgī assā”ti.

—Chư Tỷ-kheo, ví như một cái bị bằng da mèo, đã được thuộc chín, khéo thuộc, khéo thuộc cùng khắp, nhu nhuyến, như bông, không còn tiếng xì, tiếng xọp, và một người đến, cầm gậy hay cầm mẻ sành và nói như sau: “Ta sẽ lấy cái gậy hay với cái mẻ sành làm cho cái bị bằng da mèo này, đã được thuộc chín, khéo thuộc, khéo thuộc cùng khắp, nhu nhuyễn, như bông, không còn tiếng xì, tiếng xọp, phát ra tiếng xì, tiếng xọp”. Chư Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy có thể, với cái gậy hay với cái mẻ sành làm cho cái bị bằng da mèo này đã được thuộc chín, khéo thuộc, khéo thuộc cùng khắp, nhu nhuyễn, như bông, không còn tiếng xì, tiếng xọp, phát ra tiếng xì, tiếng xọp được không?

—Bạch Thế Tôn, không. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn, cái bị bằng da mèo này đã được thuộc chín, khéo thuộc, khéo thuộc cùng khắp, nhu nhuyễn, như bông, không còn tiếng xì, tiếng xọp, không dễ gì làm cho cái bị ấy phát ra tiếng xì, tiếng xọp được, trước khi người ấy bị mệt nhoài và bị thất bại.

Tañca puggalaṁ mettāsahagatena cetasā pharitvā viharissāma, tadārammaṇañca sabbāvantaṁ lokaṁ biḷārabhastāsamena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharissāmā’ti.

Chúng ta sẽ sống biến mãn người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân

Pāḷi: mn21:18.1–19.14 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn21/vi/minh_chau)

Bảng tổng hợp bốn ảnh dụ

#Người kia mangMuốn làmVì sao không đượcTâm rải khắp thế gian
1xẻng và thúnglàm đất lớn thành không-đất (đào, rải, nhổ, tiểu)đất sâu, vô lượngnhư đất (pathavisamena)
2bốn màu: cánh kiến, nghệ, chàm, thiến thảovẽ hình sắc lên hư khônghư không vô sắc, không thể thấynhư hư không (ākāsasamena)
3bó đuốc cỏ đang cháyhâm nóng, đun sôi sông Hằngsông Hằng sâu, vô lượngnhư sông Hằng (gaṅgāsamena)
4gậy hay mảnh sànhlàm túi da mèo kêu sột soạttúi đã thuộc mềm, hết tiếngnhư túi da mèo (biḷārabhastāsamena)

Cả bốn lần, chư Tỷ-kheo đều đáp “Bạch Thế Tôn, không”, và đều kết bằng cùng một câu: người ấy chỉ chuốc lấy mệt nhọc và thất bại.

Ảnh dụ cái cưa

Ảnh dụ cuối, cũng là tên kinh, không theo khuôn hỏi–đáp như bốn ảnh dụ trước. Thế Tôn nói thẳng: dù bọn cướp hạ liệt dùng cưa có cán ở hai đầu (ubhatodaṇḍakena kakacena) cưa thân thể từng chi phần (aṅgamaṅgāni), ai ở đó khởi tâm ác (mano padūseyya) thì người ấy không phải là người làm theo lời dạy của Ta (na me so tena sāsanakaro). Câu học tập theo sau trở về đúng như ở §11: rải tâm câu hữu với từ (mettāsahagatena) đến người ấy, rồi đến khắp thế gian.

Cái cưa - MN21 20

Ubhatodaṇḍakena cepi, bhikkhave, kakacena corā ocarakā aṅgamaṅgāni okanteyyuṁ, tatrāpi yo mano padūseyya, na me so tena sāsanakaro. Tatrāpi vo, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘na ceva no cittaṁ vipariṇataṁ bhavissati, na ca pāpikaṁ vācaṁ nicchāressāma, hitānukampī ca viharissāma mettacittā na dosantarā. Tañca puggalaṁ mettāsahagatena cetasā pharitvā viharissāma tadārammaṇañca sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharissāmā’ti. Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ.

Chư Tỷ-kheo, như những kẻ đạo tặc hạ liệt, dùng cưa hai lưỡi mà cưa tay, cưa chân; dầu vậy, nếu một ai ở đây khởi ý nhiễm loạn, người ấy do vậy không phải là người thực hành giáo pháp của Ta. Ở đây, chư Tỷ-kheo các Ông phải học tập như sau: “Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm; chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ; chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Chúng ta sẽ sống bao phủ người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân”. Chư Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như vậy.

Pāḷi: mn21:20.1–20.5 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn21/vi/minh_chau)

(Lưu ý bản Việt: “cưa hai lưỡi” — Pāḷi ubhatodaṇḍaka là “có cán (daṇḍa) ở cả hai đầu” — thường hiểu là loại cưa lớn có tay cầm ở hai đầu; bản Anh của Sujato: two-handed saw. Chú giải, tr. 448, giải ocarakā là “những kẻ thực hành pháp hạ liệt”, và nói người khởi tâm ác vì không chịu nổi bị cưa thì “không gọi là người thực hành theo lời dạy của Ta”.)

Kết kinh

Thế Tôn hỏi: nếu thường xuyên suy niệm lời dạy ví dụ cái cưa này, các ông có thấy lời nói nào, nhỏ hay lớn (aṇuṁ vā thūlaṁ vā; bản Việt: “tế nhị hay thô bạo”), mà mình không nhẫn chịu được không? Chư Tỷ-kheo đáp: “Bạch Thế Tôn, không.” Ngài dạy: vậy hãy thường xuyên suy niệm lời dạy ví dụ cái cưa; điều ấy sẽ đem lại lợi ích và an lạc lâu dài. Chư Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ.

Kết kinh - MN21 21

Imañca tumhe, bhikkhave, kakacūpamaṁ ovādaṁ abhikkhaṇaṁ manasi kareyyātha. Passatha no tumhe, bhikkhave, taṁ vacanapathaṁ, aṇuṁ vā thūlaṁ vā, yaṁ tumhe nādhivāseyyāthā”ti? “No hetaṁ, bhante”. “Tasmātiha, bhikkhave, imaṁ kakacūpamaṁ ovādaṁ abhikkhaṇaṁ manasikarotha. Taṁ vo bhavissati dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti. Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.

Và này chư Tỷ-kheo, nếu các Ông luôn luôn suy tư lời dạy ví dụ cái cưa này, thì này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy loại ngôn ngữ nào, dầu tế nhị hay thô bạo mà các Ông không kham nhẫn được chăng?
—Bạch Thế Tôn, không.

—Chư Tỷ-kheo, do vậy, hãy luôn luôn suy tư lời dạy ví như cái cưa này, và các Ông sẽ được hạnh phúc an lạc lâu ngày.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

Pāḷi: mn21:21.1–21.7 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn21/vi/minh_chau)

Chú giải (tr. 448) cho rằng câu “lợi ích và an lạc lâu dài” ở cuối là Thế Tôn hướng đến quả A-la-hán.

Giải thích

1. Một chuyện nhỏ mở ra một bài giảng lớn. Kinh bắt đầu từ chuyện riêng của một vị Tỷ-kheo — thân quá mức với các ni, ai chê là nổi nóng — nhưng Thế Tôn không dừng ở chuyện đúng sai giữa hai bên. Lời dạy của Ngài nhắm vào gốc: những ước muốn và suy tư dựa vào đời sống gia đình (gehasita) phải được bỏ; còn dựa vào đó thì lời chê một người mình thân cũng thành mũi tên bắn vào mình. Lời dạy cho Phagguna đi từ người thân bị chê đến chính mình bị đánh: thước đo không phải người kia đúng hay sai, mà là tâm mình có biến đổi hay không.

2. Hiền lành chưa bị thử thì chưa biết. Chuyện bà Vedehikā là tấm gương soi rất đời thường. Tiếng tốt của bà có thật, nhưng chỉ đứng được khi mọi việc trong nhà đều thuận; ba buổi sáng dậy trễ của một nữ tỳ đủ cho thấy cơn giận vẫn nằm sẵn bên trong. Kinh dùng chuyện ấy để định nghĩa lại hai chữ: “hiền” chỉ biết được khi gặp lời trái ý, và “dễ dạy” chỉ thật khi dễ dạy vì kính Pháp, không phải vì được cho đủ y áo, đồ ăn, chỗ ở, thuốc men.

3. Không đòi lời người khác phải đúng. Năm cặp cách nói được kê ra đủ cả hai phía: người ta có thể nói đúng lúc hay sai lúc, thật hay không thật, dịu hay thô, có ích hay vô ích, với lòng tốt hay với ác ý. Điều đáng chú ý là cách học tập không đổi theo những cặp ấy — kinh không dạy “nếu người ta nói thật thì nhận, nói sai thì cãi”, mà dạy giữ tâm không biến đổi trong mọi trường hợp. (Đây là chỗ bản Việt đảo người nói gây hiểu lầm — xem lưu ý ở mục Năm cách người khác có thể nói với mình.) Kinh cũng không bảo phải im lặng trước điều sai; điều kinh nhắm tới là tâm của người nghe.

4. Bốn ảnh dụ, bốn phẩm chất của tâm. Đất lớn thì quá rộng sâu để bị đào cho hết; hư không thì không có chỗ cho màu bám; sông Hằng thì quá lớn để một bó đuốc làm nóng; túi da mèo đã thuộc mềm thì không còn gì để kêu. Theo cách Chú giải đọc, người dùng năm cách nói giống người cầm dụng cụ, còn tâm từ của người tu giống đất, hư không, dòng sông, chiếc túi: lời nói chạm vào mà không để lại dấu. Có thể đọc bốn hình ảnh ấy như bốn góc nhìn: rộng lớn, không chỗ bám, không bị đốt nóng, mềm đến mức không còn phản ứng.

5. Cái cưa là chuẩn cao nhất. Sau bốn ảnh dụ về lời nói, kinh đặt ra trường hợp cực đoan nhất — bị cưa từng chi phần — và nói rằng ngay cả lúc ấy mà khởi tâm ác thì chưa làm theo lời Phật. Câu hỏi cuối kinh khép lại lập luận: nếu thường nhớ đến chuẩn ấy, thì còn lời nói nào, nhỏ hay lớn, là không nhẫn được nữa? Chính chư Tỷ-kheo tự trả lời “không”.

6. Ứng dụng. Có thể mang theo kinh này như một bài tập rất cụ thể: mỗi khi bị chê, tự hỏi lời ấy thuộc cặp nào trong năm cặp; rồi nhắc bốn vế — tâm không đổi, không buông lời ác, thương tưởng, không ôm sân — và thử rải tâm từ đến chính người vừa nói, trước khi nghĩ đến chuyện đáp lại.

Đối chiếu các tạng

Theo danh mục tương đương của SuttaCentral, MN21 có bản Hán tương đương đầy đủ là MA193 — Kinh Mâu-lê-phá-quần-na (牟犁破群那經), Trung A-hàm quyển 50, Đại phẩm, bản Việt của HT. Thích Tuệ Sỹ — và bản tương đương một phần là EA 50.8 (Tăng nhất A-hàm). SuttaCentral ghi rằng EA 50.8 chỉ có phần đầu giống MN21 (Phagguna thân cận các ni), phần còn lại giống MN22 (chủ trương “dục không chướng ngại” và ảnh dụ con rắn) — chưa đối chiếu EA 50.8 vì kho của site chưa có bản này. SuttaCentral cũng ghi đoạn §20.1 (ảnh dụ cái cưa) có chỗ tương ứng trong MN28 (SuttaCentral), nơi ảnh dụ này được nhắc lại — chưa đối chiếu chi tiết. Bài này chỉ đối chiếu kỹ với MA193 (bản Hán + bản Việt Tuệ Sỹ trong kho; xem bài song tạng MA193 - Kinh Mâu-lê-phá-quần-na). Học giả Anālayo cũng nhận MA193 là bản tương đương chính và EA 50.8 là bản một phần; ông ghi thêm rằng theo SN 12.32 và bản Hán MA23, về sau Phagguna đã hoàn tục (Anālayo, A Comparative Study of the Majjhima-nikāya, vol. 1, tr. 145, chú 2–3 — thứ cấp, chưa đối chiếu SN 12.32).

Sơ đồ so sánh MN21 và MA193: người trình, lời dạy Phagguna, cách đặt đoạn dễ dạy, ba lần thử, năm cách nói, thứ tự bốn ảnh dụ, cách rải tâm và phần kết
ĐiểmMN21 (Pāḷi)MA193 (Hán)
Tên kinhKakacūpama — Ví dụ cái cưaTheo tên nhân vật: Mâu-lê-phá-quần-na; trong kinh gọi là 利鋸刀喻 “thí dụ lưỡi cưa bén”
Nơi chốnSāvatthī, Jetavana舍衛國,在勝林給孤獨園 (Xá-vệ, Thắng lâm, vườn Cấp Cô Độc)
Người trình lênmột Tỷ-kheo (aññataro)nhiều Tỷ-kheo (眾多比丘)
Lời dạy Phaggunabốn trường hợp: ni bị chê, ni bị đánh, mình bị chê, mình bị đánh; giữ tâm bốn vếkhông có các trường hợp bị chê, bị đánh; dạy đoạn dục và niệm dựa vào gia đình, tu tập dục và niệm dựa vào vô dục; rồi hỏi và dạy tất cả chư Tỷ-kheo y như vậy
Một bữa ănTa ăn một lần ngồi, năm điều lợiTỷ-kheo được nhiều hay ít người biết đều học 一坐食 “nhất tọa thực”
Cỗ xeđất bằng, ngã tư, tay trái cương tay phải roitay trái cương tay phải roi, đi theo tám đường (隨八道行)
Rừng sālachặt cây cong, dọn rừng, chăm cây thẳngtả kỹ hơn: xới gốc, bón, tưới, san chỗ cao lấp chỗ thấp, nhổ cỏ, bứng cây cong, tỉa cành ngang, chăm cây non thẳng
Đoạn “dễ dạy”sau chuyện Vedehikā; dễ dạy vì kính Pháptrước chuyện Vedehikā; dễ dạy vì viễn ly (為遠離、依遠離、住遠離)
Bà chủVedehikā, tiếng hiền thục, nhu thuận, ôn hòa鞞陀提 Tì-đà-đề, thêm rất giàu có (của cải, súc vật, thực ấp)
Nữ tỳKāḷī: khéo, siêng, việc chu toàn黑 “Hắc” (cùng nghĩa “đen” như kāḷī): ăn nói dịu dàng, ít nhiều làm việc thiện
Ba lần thửtrễ → cau mày; trễ hơn → lời giận; trễ hơn nữa → then cửa đánh bể đầukhông dậy sớm → chỉ hỏi; dậy rất trễ → chỉ hỏi; ngủ đến xế chiều (晡時) → giận, trán nổi ba đường gân, cầm gậy lớn đánh bể đầu
Năm cách nóithời, thật, dịu/thô, lợi ích, từ/sânthời, thật, mềm/cứng, từ/sân, có nghĩa/không nghĩa; tâm biến đổi thì “chắc chắn suy thoái” (必衰)
Rải tâmđến người ấy rồi khắp thế gian; chỉ nói tâm từ, không kể bi, hỷ, xảở lần dạy đầu về năm cách nói và ở ảnh dụ cái cưa: đủ mười phương, và cả bi, hỷ, xả (bốn vô lượng tâm); ở bốn ảnh dụ thì chỉ nói tâm “như” đất, sông Hằng, hư không, túi da mèo
Thứ tự ảnh dụđất · hư không · sông Hằng · túi da mèođất · sông Hằng · hư không (thợ vẽ và học trò) · túi da mèo
Túi da mèoáp dụng cho năm cách nóitúi bị đấm, ném đá, đánh gậy, chém dao, đập đất; áp dụng cho khi bị đánh
Cái cưacưa có cán hai đầu利鋸刀 lưỡi cưa bén
Kếtkhông lời nào không nhẫn được; lợi ích an lạc lâu dàibốn lần “Lành thay”: không lời nào không nhẫn được; an lạc khắp bốn phương; thiện pháp tăng trưởng ngày đêm; chắc được một trong hai quả: cứu cánh trí ngay đời này hoặc A-na-hàm

Hai bản khớp nhau ở khung chính: chuyện Phagguna, chuyện các Tỷ-kheo dễ dạy thuở trước với hai ảnh dụ cỗ xe và rừng sāla (bản Hán gắn cả hai ảnh dụ với các Tỷ-kheo “vừa lòng Ta”, bản Pāḷi gắn rừng sāla với lời khuyên bỏ bất thiện), chuyện bà chủ nổi tiếng hiền bị nữ tỳ thử ba lần, năm cách nói, bốn ảnh dụ và ảnh dụ cái cưa. Khác nhau chủ yếu ở chi tiết: bản Pāḷi có bốn trường hợp bị chê, bị đánh trong lời dạy riêng cho Phagguna (Anālayo cũng nhận đây là điểm riêng của bản Pāḷi), còn bản Hán đưa việc bị đánh vào ảnh dụ túi da mèo, đổi chỗ hai ảnh dụ giữa, rải đủ bốn tâm vô lượng và kết bằng lời hứa về quả chứng.

Tra cứu trong bài

Nguồn tham khảo

📖 Nguồn / bản quyền: SuttaCentral — MN 21 (Kakacūpama Sutta), Pāḷi Mahāsaṅgīti + bản Việt HT. Thích Minh Châu