MN41 - Kinh Sāleyyaka (Sāleyyaka Sutta)
Tóm tắt nhanh: Đức Phật du hành trong nước Kosala cùng đại chúng Tỷ-kheo và dừng lại ở Sālā, một làng Bà-la-môn; các Bà-la-môn và gia chủ trong làng tìm đến hỏi: do nhân gì, duyên gì mà có người chết rồi sa vào cõi dữ, địa ngục, có người lại sinh lên cõi lành, cõi trời? Ngài đáp vắn tắt: hành phi pháp, bất chánh thì xuống cõi dữ; hành đúng pháp, chánh hạnh thì lên cõi lành. Được thỉnh giảng rộng, Ngài kể đủ mười nghiệp đạo bất thiện — ba nơi thân, bốn nơi lời, ba nơi ý — rồi mười nghiệp đạo thiện đối lại, kết bằng chánh kiến. Tiếp đó Ngài nói người sống đúng pháp, nếu mong ước, có thể sinh vào ba hạng đại gia, vào hai mươi bốn cõi trời được kê tên, từ Tứ Thiên vương đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ (bản Việt kể hai mươi lăm), và có thể ngay đời này chứng lậu tận — tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Nghe xong, dân Sālā tán thán bằng bốn ảnh dụ và xin quy y Tam Bảo trọn đời.
Bối cảnh
Kinh xảy ra trên đường du hành: Thế Tôn cùng “đại chúng Tỷ-kheo” đi qua nước Kosala và dừng ở Sālā, một làng Bà-la-môn (brāhmaṇagāma). Người đến nghe pháp là sāleyyakā brāhmaṇagahapatikā — “các Bà-la-môn và gia chủ người Sālā” (tên kinh Sāleyyaka nghĩa là “những người ở Sālā”). Trong kinh, Thế Tôn gọi họ là gahapatayo — “này các Gia chủ”, còn họ gọi Ngài là bho Gotama — “Tôn giả Gotama”, cách xưng hô của người ngoài đạo, giữ nguyên cho đến lời quy y. Cũng chính dân làng Sālā này là người nghe Kinh Không Gì Chuyển Hướng (MN60).
Theo Chú giải (tr. 798–799), “đại chúng” ở đây không xác định số — có thể là trăm, nghìn hay trăm nghìn vị; “làng Bà-la-môn” là làng nơi các Bà-la-môn tụ cư; còn chỗ Thế Tôn nghỉ không được nói rõ, nên hiểu là một khu rừng thích hợp gần làng. Chú giải cũng kể một tích dân gian về tên xứ Kosala: dân chúng bỏ cả cày bừa, suốt hơn bảy năm diễn trò mà không làm vương tử Mahāpanāda cười được; đến khi vua trời sai một vũ công cõi trời xuống diễn thì vương tử bật cười, người người trên đường về hỏi nhau “kusalaṁ, kusalaṁ?” (“tốt đẹp chứ?”) — do đó vùng đất được gọi là Kosala (tr. 798).
Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ bhagavā kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena sālā nāma kosalānaṁ brāhmaṇagāmo tadavasari. Assosuṁ kho sāleyyakā brāhmaṇagahapatikā: “samaṇo khalu, bho, gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ sālaṁ anuppatto. Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato: ‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’. So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti. So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ; kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti. Sādhu kho pana tathārūpānaṁ arahataṁ dassanaṁ hotī”ti.
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn đang du hành trong nước Kosala (Kiều tất la) cùng với Ðại chúng Tỷ-kheo đi đến một làng Bà-la-môn của dân chúng Kosala tên là Sāla .
Các gia chủ Bà-la-môn ở Sāla nghe rằng: “Người ta nói Sa-môn Gotama , là Thích Tử, xuất gia từ gia tộc Sakya, đang du hành trong nước Kosala với Ðại chúng Tỷ-kheo, và đã đến Sa-la. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Tôn giả Gotama : “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời và Người. Khi đã chứng ngộ, Ngài còn tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ văn nghĩa. Ngài truyền dạy phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ trong sạch. Lành thay, nếu được yết kiến một A-la-hán như vậy!”
Pāḷi: mn41:1.1–2.8 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn41/vi/minh_chau)Tiếng đồn mà dân Sālā nghe được gồm ba phần: các danh hiệu của Như Lai (từ arahaṁ — A-la-hán đến bhagavā — Thế Tôn); Ngài tự chứng ngộ thế giới cùng chư thiên, Ma, Phạm thiên, Sa-môn, Bà-la-môn, trời và người rồi tuyên thuyết; và Ngài dạy pháp “sơ thiện, trung thiện, hậu thiện”, truyền dạy phạm hạnh trọn vẹn thanh tịnh. Kết lại là một câu: lành thay được thấy một vị A-la-hán như vậy. Chú giải (tr. 800) giải thích tâm ý ấy: chỉ cần mở mắt nhìn đã là điều lành, nếu được nghe Ngài nói dù một câu thì càng lành hơn.
Họ đến chỗ Thế Tôn, và kinh ghi tỉ mỉ năm cách họ chào trước khi ngồi xuống một bên: (1) có người đảnh lễ; (2) có người nói lời chào hỏi thân hữu; (3) có người chắp tay vái; (4) có người xưng tên họ của mình; (5) có người im lặng ngồi xuống. Năm cách chào cho thấy mức kính tin rất khác nhau trong cùng một đám đông — từ người cúi lạy đến người chỉ lặng lẽ ngồi xuống; các bản Hán tương đương không có chi tiết này (Anālayo, tr. 263).
Atha kho sāleyyakā brāhmaṇagahapatikā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā appekacce bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu; appekacce bhagavatā saddhiṁ sammodiṁsu, sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu; appekacce yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu; appekacce bhagavato santike nāmagottaṁ sāvetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu; appekacce tuṇhībhūtā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho sāleyyakā brāhmaṇagahapatikā bhagavantaṁ etadavocuṁ:
Rồi các gia chủ Bà-la-môn ở Sa-la đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, một số đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số nói lên những lời chào đón, thân hữu xã giao với Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số chấp tay vái Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số nói lên tên họ của mình trước mặt Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số giữ im lặng rồi ngồi xuống một bên.
Sau khi ngồi xuống một bên, các gia chủ Bà-la-môn ở Sa-la bạch Thế Tôn
Pāḷi: mn41:3.1 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn41/vi/minh_chau)
Câu hỏi: vì sao người sa đọa, người sinh thiên
Câu hỏi của dân Sālā rất thực tế, đúng mối quan tâm của người tại gia: không hỏi về giải thoát, mà hỏi về nơi đi sau khi chết. Cõi xấu được gọi bằng bốn tên — cõi dữ (apāya), ác thú (duggati), đọa xứ (vinipāta), địa ngục (niraya); cõi tốt bằng hai tên — thiện thú (sugati), cõi trời (saggaṁ lokaṁ). Theo Chú giải (tr. 801), có hai kiểu hỏi: kiểu người tại gia (“thế nào là thiện, thế nào là bất thiện?”) và kiểu người xuất gia (“đây là năm thủ uẩn chăng?”); dân Sālā hỏi đúng kiểu người tại gia, hợp với mình.
“ko nu kho, bho gotama, hetu, ko paccayo, yena m’idhekacce sattā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjanti? Ko pana, bho gotama, hetu, ko paccayo, yena m’idhekacce sattā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjantī”ti?
—Tôn giả Gotama , do nhân gì, do duyên gì, ở đây, một số hữu tình sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục? Này Tôn giả Gotama , do nhân gì, do duyên gì, ở đây, một số loài hữu tình sau khi thân hoại mạng chung được sanh vào thiện thú, Thiên giới, đời này?
Pāḷi: mn41:4.1–4.2 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn41/vi/minh_chau)(Lưu ý bản dịch: cụm “thiện thú, Thiên giới, đời này” dịch sugatiṁ saggaṁ lokaṁ; chữ lokaṁ ở đây là “cõi, thế giới” trong cụm saggaṁ lokaṁ — “cõi trời” — chứ không phải “đời này” đối với đời sau. Cụm này lặp lại nhiều lần trong bản Việt của kinh.)
Lời đáp vắn tắt: hành phi pháp và hành đúng pháp
Thế Tôn trả lời gọn trong hai câu đối xứng: adhammacariyā-visamacariyā — hành phi pháp, hành bất chánh — là nhân đưa xuống cõi dữ; dhammacariyā-samacariyā — hành đúng pháp, hành chánh — là nhân đưa lên cõi lành. Chữ sama nghĩa gốc là “bằng phẳng, ngay”, visama là “gồ ghề, lệch”; Chú giải (tr. 802) đọc cụm này là một: “sự hành lệch lạc, tức là sự hành phi pháp”, và nói cách hiểu ấy áp dụng cho mọi cặp đen–trắng trong kinh.
“Adhammacariyāvisamacariyāhetu kho, gahapatayo, evam’idhekacce sattā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjanti. Dhammacariyāsamacariyāhetu kho, gahapatayo, evam’idhekacce sattā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjantī”ti.
—Này các Gia chủ, do nhân hành phi pháp, hành phi pháp chánh đạo, này các Gia chủ, mà như vậy, ở đây có một số loài hữu tình, sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Do nhân hành đúng pháp, hành đúng chánh đạo, này các Gia chủ, mà như vậy, ở đây có một số loài hữu tình sau khi thân hoại mạng chung được sanh vào thiện thú, Thiên giới, đời này.
Pāḷi: mn41:5.1–5.2 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn41/vi/minh_chau)Vì sao lại đáp vắn tắt đến mức người hỏi không hiểu? Chú giải (tr. 801) cho rằng những người này tự cho mình là bậc trí (paṇḍitamānikā): nếu ngay từ đầu giảng rộng cho dễ hiểu, họ sẽ coi thường bài pháp là nông cạn, “chúng ta nói cũng được như thế”. Nên Thế Tôn đáp vắn tắt trước; khi họ tự nhận không hiểu và thỉnh cầu, Ngài mới giảng rộng.
Dân Sālā xin giảng rộng
Họ thật thà nhận không hiểu đầy đủ lời nói vắn tắt, xin Thế Tôn giảng cho rộng. Thế Tôn bảo hãy nghe và khéo tác ý; họ vâng đáp.
“Na kho mayaṁ imassa bhoto gotamassa saṅkhittena bhāsitassa, vitthārena atthaṁ avibhattassa, vitthārena atthaṁ ājānāma. Sādhu no bhavaṁ gotamo tathā dhammaṁ desetu, yathā mayaṁ imassa bhoto gotamassa saṅkhittena bhāsitassa, vitthārena atthaṁ avibhattassa, vitthārena atthaṁ ājāneyyāmā”ti. “Tena hi, gahapatayo, suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti. “Evaṁ, bho”ti kho sāleyyakā brāhmaṇagahapatikā bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
—Chúng con không thể hiểu đầy đủ những gì Tôn giả Gotama thuyết một cách vắn tắt nếu không được giải thích rộng rãi. Lành thay, nếu Tôn giả Gotama thuyết pháp cho chúng con để chúng con có thể hiểu đầy đủ những gì Tôn giả Gotama thuyết một cách vắn tắt!
—Như vậy, này các Gia chủ, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
—Thưa vâng, Tôn giả.
Các vị gia chủ Bà-la-môn, ở Sa-la vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
Pāḷi: mn41:6.1–6.5 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn41/vi/minh_chau)Khuôn chung của mười nghiệp đạo
Phần giảng rộng (§7–14) đi qua mười việc bất thiện rồi mười việc thiện, tất cả theo cùng một khuôn năm bước. Khuôn này trích một lần ở đây (lấy câu mở đầu phía bất thiện làm mẫu); các mục bên dưới trích phần mô tả riêng của từng nhóm.
- Tổng nêu: hành phi pháp (hay đúng pháp) có ba loại nơi thân, bốn loại nơi lời, ba loại nơi ý.
- Hỏi từng nhóm: “Thế nào là ba loại thân hành… / bốn loại khẩu hành… / ba loại ý hành…?”
- Mô tả: “Ở đây, này các Gia chủ, có người…” + hành vi cụ thể. Ở bảy việc của thân và lời, phía thiện mở bằng “từ bỏ…, tránh xa…” (pahāya… paṭivirato); ba việc của ý thì nói thẳng “không tham”, “tâm không sân”, “có chánh kiến”.
- Kết nhóm: “Như vậy… là ba (bốn) loại … hành phi pháp (đúng pháp)”.
- Kết cả mười: do nhân ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào cõi dữ (hay thiện thú, cõi trời) — chính là lời đáp vắn tắt ở §5, nay đã được mở ra.
“Tividhaṁ kho, gahapatayo, kāyena adhammacariyāvisamacariyā hoti, catubbidhaṁ vācāya adhammacariyāvisamacariyā hoti, tividhaṁ manasā adhammacariyāvisamacariyā hoti. Kathañca, gahapatayo, tividhaṁ kāyena adhammacariyāvisamacariyā hoti?
—Này các Gia chủ, có ba loại thân hành phi pháp, phi chánh đạo, có bốn loại khẩu hành phi pháp, phi chánh đạo, có ba loại ý hành phi pháp, phi chánh đạo. Này các Gia chủ, thế nào là ba loại thân hành phi pháp, phi chánh đạo?
Pāḷi: mn41:7.1–8.1 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn41/vi/minh_chau)(Lưu ý bản dịch: bản Việt dịch visamacariyā là “phi chánh đạo” và samacariyā là “đúng chánh đạo”; chữ “chánh đạo” ở đây không chỉ Bát Chánh Đạo mà là “hạnh ngay thẳng, chánh hạnh” — Bhikkhu Sujato dịch là moral conduct. Một lần ở §12 bản Việt lại ghi “đúng thánh đạo”; Pāḷi vẫn là samacariyā như các chỗ khác.)
1. Ba thân nghiệp bất thiện: sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh
Mỗi nghiệp có nét mô tả riêng. Sát sanh được tả bằng bốn nét: tàn nhẫn (luddo), tay lấm máu (lohitapāṇi), chuyên sát hại đả thương (hatappahate niviṭṭho), không từ bi với chúng sinh (adayāpanno). Lấy của không cho: tài vật của người khác dù ở trong làng hay trong rừng, không được cho mà lấy với tâm trộm cắp. Tà hạnh trong các dục: Pāḷi kê mười một hạng phụ nữ không được xâm phạm — người được mẹ, cha, cả mẹ cha, anh, chị, bà con, dòng họ (gottarakkhitā), hay pháp (dhammarakkhitā) che chở; người đã có chồng (sassāmikā); người mà việc xâm phạm có hình phạt (saparidaṇḍā); và cả người “chỉ mới được choàng vòng hoa” (mālāguḷaparikkhittā).
Idha, gahapatayo, ekacco pāṇātipātī hoti, luddo lohitapāṇi hatappahate niviṭṭho adayāpanno pāṇabhūtesu. Adinnādāyī kho pana hoti. Yaṁ taṁ parassa paravittūpakaraṇaṁ, gāmagataṁ vā araññagataṁ vā, taṁ adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādātā hoti. Kāmesumicchācārī kho pana hoti. Yā tā māturakkhitā piturakkhitā mātāpiturakkhitā bhāturakkhitā bhaginirakkhitā ñātirakkhitā gottarakkhitā dhammarakkhitā sassāmikā saparidaṇḍā antamaso mālāguḷaparikkhittāpi, tathārūpāsu cārittaṁ āpajjitā hoti. Evaṁ kho, gahapatayo, tividhaṁ kāyena adhammacariyāvisamacariyā hoti.
Ở đây, này các Gia chủ, có người sát sanh, tàn nhẫn, tay lấm máu, tâm chuyên sát hại đả thương, tâm không từ bi đối với các loài hữu tình. Người này lấy của không cho, bất cứ tài vật gì của người khác hoặc tại thôn làng hoặc tại rừng núi không cho người ấy, người ấy lấy trộm tài vật ấy. Người ấy sống tà hạnh đối với các dục lạc, giao cấu với các hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có mẹ cha che chở, có anh che chở, có chị che chở, có bà con che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa. Như vậy, này các Gia chủ, là ba loại thân hành phi pháp, phi chánh đạo.
Pāḷi: mn41:8.2–8.5 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn41/vi/minh_chau)(Lưu ý bản dịch: bản Việt chỉ kê chín hạng — sót “có dòng họ che chở” gottarakkhitā và “có pháp che chở” dhammarakkhitā. Cụm “được trang sức bằng vòng hoa” dịch mālāguḷaparikkhittā; theo Chú giải (tr. 803–804) đó là người con gái đã được ai đó ném vòng hoa lên với ý “người này sẽ là vợ ta” — tức đã có lời giao ước, dù chỉ bằng một vòng hoa. Chú giải cũng giải thích “được mẹ che chở” là khi cha đã mất hay thất lạc, mẹ nuôi nấng và giữ gìn để gả vào nhà tử tế; “đã có chồng” gồm cả người được hai nhà hứa gả từ khi còn trong bụng mẹ; “có hình phạt” là khi làng, nhà hay phố đã định mức phạt cho ai xâm phạm người ấy.)
2. Bốn khẩu nghiệp bất thiện: vọng ngữ, hai lưỡi, ác khẩu, phù phiếm
Vọng ngữ được đặt vào một cảnh cụ thể: bị dẫn ra làm chứng ở năm nơi — chỗ tập hội, chỗ chúng hội, giữa bà con, giữa phường hội (pūga), giữa triều đình — được hỏi “hãy nói những gì ông biết”, thì nói bốn câu đảo ngược: không biết nói biết, biết nói không biết, không thấy nói thấy, thấy nói không thấy; vì ba lý do: vì mình, vì người, hay vì chút lợi nhỏ. Hai lưỡi: nghe bên này đem nói bên kia để chia rẽ, phá kẻ hòa hợp, xúi kẻ đã ly gián, ưa thích chia phe. Ác khẩu: lời thô ác, cộc cằn, làm người đau, làm người giận, gần với phẫn nộ, không đưa đến định. Phù phiếm: nói phi thời, không thật, không lợi ích, phi pháp, phi luật, lời không đáng ghi nhớ, nói không đúng lúc, không dẫn chứng, lan man, không đem lại lợi ích.
Kathañca, gahapatayo, catubbidhaṁ vācāya adhammacariyāvisamacariyā hoti? Idha, gahapatayo, ekacco musāvādī hoti. Sabhāgato vā parisāgato vā, ñātimajjhagato vā pūgamajjhagato vā rājakulamajjhagato vā, abhinīto sakkhipuṭṭho: ‘ehambho purisa, yaṁ jānāsi taṁ vadehī’ti, so ajānaṁ vā āha: ‘jānāmī’ti, jānaṁ vā āha: na jānāmī’ti, ‘apassaṁ vā āha: ‘passāmī’ti, passaṁ vā āha: ‘na passāmī’ti. Iti attahetu vā parahetu vā āmisakiñcikkhahetu vā sampajānamusā bhāsitā hoti. Pisuṇavāco kho pana hoti. Ito sutvā amutra akkhātā imesaṁ bhedāya, amutra vā sutvā imesaṁ akkhātā amūsaṁ bhedāya. Iti samaggānaṁ vā bhettā, bhinnānaṁ vā anuppadātā, vaggārāmo vaggarato vagganandī vaggakaraṇiṁ vācaṁ bhāsitā hoti. Pharusavāco kho pana hoti. Yā sā vācā aṇḍakā kakkasā parakaṭukā parābhisajjanī kodhasāmantā asamādhisaṁvattanikā, tathārūpiṁ vācaṁ bhāsitā hoti. Samphappalāpī kho pana hoti. Akālavādī abhūtavādī anatthavādī adhammavādī avinayavādī. Anidhānavatiṁ vācaṁ bhāsitā hoti akālena anapadesaṁ apariyantavatiṁ anatthasaṁhitaṁ. Evaṁ kho, gahapatayo, catubbidhaṁ vācāya adhammacariyāvisamacariyā hoti.
Này các Gia chủ, thế nào là bốn loại khẩu hành phi pháp, phi chánh đạo? Ở đây, này các Gia chủ, có người vọng ngữ, đến chỗ tập hội, hay đến chỗ chúng hội, hay đến giữa các thân tộc, hay đến giữa các tổ hợp, hay đến giữa vương tộc, khi được dẫn ra làm chứng và được hỏi: “Này người kia, hãy nói những gì Ông biết”; dầu cho người ấy không biết, người ấy nói: “Tôi biết”; dầu cho người ấy biết, người ấy nói: “Tôi không biết”; hay dầu cho người ấy không thấy, người ấy nói: “Tôi thấy”; hay dầu cho người ấy thấy, người ấy nói: “Tôi không thấy”. Như vậy, lời nói của người ấy trở thành cố ý vọng ngữ, hoặc vì nguyên nhân tự kỷ, hoặc vì nguyên nhân tha nhân, hoặc vì nguyên nhân một vài quyền lợi gì. Và người ấy là người nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, đến chỗ kia, nói đễ sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia, đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy, người ấy ly gián những kẻ hòa hợp hay xúi dục những kẻ ly gián, ưa thích phá hoại, vui thích phá hoại, thích thú phá hoại, nói những lời đưa đến phá hoại. Và người ấy là người nói lời thô ác. Bất cứ lời gì thô ác, tàn ác, khiến người đau khổ, khiến người tức giận, liên hệ đến phẫn nộ, không đưa đến Thiền định, người ấy nói những lời như vậy. Và người ấy nói những lời phù phiếm, nói phi thời, nói những lời phi chơn, nói những lời không lợi ích, nói những lời phi pháp, nói những lời phi luật, nói những lời không đáng gìn giữ. Vì nói phi thời, nên lời nói không có thuận lý, không có mạch lạc, hệ thống, không có lợi ích. Như vậy, này các Gia chủ, có bốn loại khẩu hành phi pháp, phi chánh đạo.
Pāḷi: mn41:9.1–9.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn41/vi/minh_chau)Chú giải (tr. 804–806) có vài hình ảnh đáng nhớ: “chút lợi nhỏ” (āmisakiñcikkha) là dù chỉ để được một con chim đa đa, một con chim cút, một nắm bơ; lời ác khẩu được ví như cái u bướu mọc trên thân cây có bệnh, như gỗ mục cào vào tai, như cành gai móc vào người đang muốn đi. Lời “lan man không có giới hạn” (apariyantavati) được ví với “Pháp sư cây đa”: nêu một bài kinh hay một chuyện tiền thân làm đề rồi nói lan ra ngoài, như rễ phụ của cây đa cứ tỏa xuống đất mọc thành cây mới, đi xa nửa do-tuần, một do-tuần, trong khi gốc cây cũ chết mất; người nói nhiều mà còn chỉ ra được “điều này nói vì việc kia” thì không lỗi.
3. Ba ý nghiệp bất thiện — và con đường xuống cõi dữ
Tham: nhìn của người khác mà nghĩ “ôi, mong rằng của ấy thành của ta”. Sân: tâm hại người, mong “các chúng sinh này bị giết, bị tàn sát, bị tiêu diệt, bị tàn hại, hay đừng còn tồn tại”. Tà kiến, cái thấy điên đảo, gồm mười điều “không có”: không có bố thí, không có tế lễ, không có cúng dường; không có quả dị thục của nghiệp thiện ác; không có đời này, không có đời sau; không có mẹ, không có cha; không có loài hóa sanh; trong đời không có Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh tự chứng rồi tuyên bố về đời này và đời sau. Khép nhóm này là câu kết cả mười việc bất thiện: do nhân ấy mà sinh vào cõi dữ.
Kathañca, gahapatayo, tividhaṁ manasā adhammacariyāvisamacariyā hoti? Idha, gahapatayo, ekacco abhijjhālu hoti, yaṁ taṁ parassa paravittūpakaraṇaṁ taṁ abhijjhātā hoti: ‘aho vata yaṁ parassa taṁ mamassā’ti. Byāpannacitto kho pana hoti paduṭṭhamanasaṅkappo: ‘ime sattā haññantu vā vajjhantu vā ucchijjantu vā vinassantu vā mā vā ahesun’ti. Micchādiṭṭhiko kho pana hoti viparītadassano: ‘natthi dinnaṁ natthi yiṭṭhaṁ natthi hutaṁ, natthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, natthi ayaṁ loko natthi paro loko, natthi mātā natthi pitā, natthi sattā opapātikā, natthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammāpaṭipannā ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti. Evaṁ kho, gahapatayo, tividhaṁ manasā adhammacariyāvisamacariyā hoti. Evaṁ adhammacariyāvisamacariyāhetu kho, gahapatayo, evam’idhekacce sattā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjanti.
Và này các Gia chủ, thế nào là ba loại ý hành phi pháp, phi chánh đạo? Ở đây, này các Gia chủ, có người có tham ái, tham lam tài vật kẻ khác, nghĩ rằng: “Ôi, mong rằng mọi tài vật của người khác trở thành của mình!” Lại có người có tâm sân, khởi lên hại ý, hại niệm như sau: “Mong rằng những loài hữu tình này bị giết, hay bị tàn sát, hay bị tiêu diệt, hay bị tàn hại, hay mong chúng không còn tồn tại!” Lại có người có tà kiến, có tưởng điên đảo như: “Không có bố thí, không có kết quả của bố thí, không có tế lễ, không có cúng dường, các hành vi thiện ác, không có kết quả dị thục, không có đời này, không có đời sau, không có mẹ, không có cha, không có các loại hóa sanh, trong đời không có các Sa-môn, Bà-la-môn chân chính hành trì, chân chánh thành tựu, sau khi tự tri, tự chứng lại tuyên bố cho đời này và cho đời sau”. Như vậy, này các Gia chủ, là ba ý hành phi pháp, phi chánh đạo. Như vậy do nhân hành phi pháp, hành phi chánh đạo, này các Gia chủ, ở đây, một số loài hữu tình sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Pāḷi: mn41:10.1–10.7 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn41/vi/minh_chau)Chú giải (tr. 806–807) phân định ranh giới khi nào ý nghiệp trở thành “nghiệp đạo” trọn vẹn: chỉ nhìn của người với lòng thèm muốn thì chưa thành nghiệp đạo; khi hướng tâm “mong cho vật này thành của ta, cho ta làm chủ nó” thì mới thành. Cũng vậy, chỉ nổi giận thì chưa; khi khởi ý “mong chúng bị giết” thì mới thành. Tà kiến được Chú giải gọi là “tà kiến mười điều” (dasavatthukā micchādiṭṭhi, tr. 807–808).
4. Ba thân nghiệp thiện: từ bỏ sát sanh, trộm cắp, tà hạnh
Phía thiện mở bằng câu tổng nêu ba – bốn – ba (§11) rồi đi lại từng việc. Vế thiện không chỉ là “không làm”: từ bỏ sát sanh đi kèm bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, thương xót đến hạnh phúc của mọi loài. Hai việc kia là phủ định của phía bất thiện — không lấy của không cho dù ở làng hay ở rừng, không xâm phạm mười một hạng phụ nữ đã kể.
Tividhaṁ kho, gahapatayo, kāyena dhammacariyāsamacariyā hoti, catubbidhaṁ vācāya dhammacariyāsamacariyā hoti, tividhaṁ manasā dhammacariyāsamacariyā hoti. Kathañca, gahapatayo, tividhaṁ kāyena dhammacariyāsamacariyā hoti? Idha, gahapatayo, ekacco pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭivirato hoti, nihitadaṇḍo nihitasattho lajjī dayāpanno sabbapāṇabhūtahitānukampī viharati. Adinnādānaṁ pahāya adinnādānā paṭivirato hoti. Yaṁ taṁ parassa paravittūpakaraṇaṁ, gāmagataṁ vā araññagataṁ vā, taṁ nādinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādātā hoti. Kāmesumicchācāraṁ pahāya kāmesumicchācārā paṭivirato hoti. Yā tā māturakkhitā piturakkhitā mātāpiturakkhitā bhāturakkhitā bhaginirakkhitā ñātirakkhitā gottarakkhitā dhammarakkhitā sassāmikā saparidaṇḍā antamaso mālāguḷaparikkhittāpi, tathārūpāsu na cārittaṁ āpajjitā hoti. Evaṁ kho, gahapatayo, tividhaṁ kāyena dhammacariyāsamacariyā hoti.
Này các Gia chủ, có ba loại thân hành đúng pháp, đúng chánh đạo, có bốn loại khẩu hành đúng pháp, đúng chánh đạo, có ba loại ý hành đúng pháp, đúng chánh đạo? Này các Gia chủ, thế nào là ba loại thân hành đúng pháp, đúng thánh đạo? Ở đây, này các Gia chủ, có người từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình; từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, bất cứ tài vật gì của người khác, hoặc tại thôn làng, hoặc tại rừng núi không cho người ấy, người ấy không lấy trộm tài vật ấy; từ bỏ sống theo tà hạnh đối với các dục, không giao cấu với các hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có mẹ cha che chở, có anh che chở, có chị che chở, có bà con che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa. Như vậy, này các Gia chủ, là ba loại thân hành đúng pháp, đúng chánh đạo.
Pāḷi: mn41:11.1–12.5 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn41/vi/minh_chau)5. Bốn khẩu nghiệp thiện: lời thật, lời hòa hợp, lời dịu dàng, lời đúng lúc
Ở đây phía thiện có nội dung riêng, không chỉ là đảo ngược: người từ bỏ hai lưỡi thì hòa giải kẻ ly gián, nâng đỡ kẻ hòa hợp, ưa thích, vui thích, hoan hỷ trong hòa hợp, nói lời đem lại hòa hợp. Lời thay cho ác khẩu được tả bằng bảy phẩm chất: nhu hòa (nelā), êm tai (kaṇṇasukhā), dễ thương (pemanīyā), thấm vào tim (hadayaṅgamā), tao nhã (porī), nhiều người ưa (bahujanakantā), nhiều người vui lòng (bahujanamanāpā). Lời thay cho phù phiếm là nói đúng thời, chân thật, có lợi ích, đúng pháp, đúng luật, đáng ghi nhớ, đúng lúc, có dẫn chứng, có giới hạn, có ích lợi. Người làm chứng thì nói đúng: biết nói biết, không biết nói không biết, thấy nói thấy, không thấy nói không thấy.
Kathañca, gahapatayo, catubbidhaṁ vācāya dhammacariyāsamacariyā hoti? Idha, gahapatayo, ekacco musāvādaṁ pahāya musāvādā paṭivirato hoti. Sabhāgato vā parisāgato vā, ñātimajjhagato vā pūgamajjhagato vā rājakulamajjhagato vā, abhinīto sakkhipuṭṭho: ‘ehambho purisa, yaṁ jānāsi taṁ vadehī’ti, so ajānaṁ vā āha: ‘na jānāmī’ti, jānaṁ vā āha: ‘jānāmī’ti, apassaṁ vā āha: ‘na passāmī’ti, passaṁ vā āha: ‘passāmī’ti. Iti attahetu vā parahetu vā āmisakiñcikkhahetu vā na sampajānamusā bhāsitā hoti. Pisuṇaṁ vācaṁ pahāya pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti, ito sutvā na amutra akkhātā imesaṁ bhedāya, amutra vā sutvā na imesaṁ akkhātā amūsaṁ bhedāya. Iti bhinnānaṁ vā sandhātā, sahitānaṁ vā anuppadātā, samaggārāmo samaggarato samagganandī samaggakaraṇiṁ vācaṁ bhāsitā hoti. Pharusaṁ vācaṁ pahāya pharusāya vācāya paṭivirato hoti. Yā sā vācā nelā kaṇṇasukhā pemanīyā hadayaṅgamā porī bahujanakantā bahujanamanāpā—tathārūpiṁ vācaṁ bhāsitā hoti. Samphappalāpaṁ pahāya samphappalāpā paṭivirato hoti. Kālavādī bhūtavādī atthavādī dhammavādī vinayavādī nidhānavatiṁ vācaṁ bhāsitā hoti kālena sāpadesaṁ pariyantavatiṁ atthasaṁhitaṁ. Evaṁ kho, gahapatayo, catubbidhaṁ vācāya dhammacariyāsamacariyā hoti.
Và này các Gia chủ, thế nào là bốn loại khẩu hành đúng pháp, đúng chánh đạo? Ở đây, này các Gia chủ, có người từ bỏ vọng ngữ, tránh xa vọng ngữ, đến chỗ tập hội, hay đến chỗ chúng hội, hay đến giữa các thân tộc, hay đến giữa các tổ hợp, hay đến giữa vương tộc, khi được dẫn ra làm chứng và được hỏi: “Này người kia, hãy nói những gì Ông biết”, nếu biết, người ấy nói: “Tôi biết”; nếu không biết, người ấy nói: “Tôi không biết”; hay nếu không thấy, người ấy nói: “Tôi không thấy”; nếu thấy, người ấy nói: “Tôi thấy”. Như vậy, lời nói của người ấy không trở thành cố ý vọng ngữ, hoặc vì nguyên nhân tự kỷ, hoặc vì nguyên nhân tha nhân, hoặc vì nguyên nhân một vài quyền lợi gì. Từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đi đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia; như vậy, người ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, tăng trưởng những kẻ hòa hợp, ưa thích hòa hợp, vui thích hòa hợp, thích thú hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Từ bỏ lời nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác, những lời nói nhu hòa, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người, người ấy nói những lời như vậy. Từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, người ấy nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh pháp, nói những lời về Luật, nói những lời đáng được gìn giữ. Vì nói hợp thời, nên lời nói thuận lý, có mạch lạc, hệ thống, có ích lợi. Như vậy, này các Gia chủ, có bốn loại khẩu hành đúng pháp, đúng chánh đạo.
Pāḷi: mn41:13.1–13.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn41/vi/minh_chau)6. Ba ý nghiệp thiện — và con đường lên cõi lành
Không tham của người. Tâm không sân, thay vì mong chúng sinh bị giết thì mong: “các loài hữu tình này sống không thù hận, không oán thù, không nhiễu loạn, được an lạc, tự giữ mình” (averā abyābajjhā anīghā sukhī attānaṁ pariharantu). Chánh kiến, cái thấy không điên đảo, gồm mười điều “có” — đối xứng từng điều với mười điều “không có” của tà kiến. Câu kết cả mười việc thiện: do nhân ấy mà sinh vào thiện thú, cõi trời.
Kathañca, gahapatayo, tividhaṁ manasā dhammacariyāsamacariyā hoti? Idha, gahapatayo, ekacco anabhijjhālu hoti, yaṁ taṁ parassa paravittūpakaraṇaṁ taṁ nābhijjhātā hoti: ‘aho vata yaṁ parassa taṁ mamassā’ti. Abyāpannacitto kho pana hoti appaduṭṭhamanasaṅkappo: ‘ime sattā averā abyābajjhā anīghā sukhī attānaṁ pariharantū’ti. Sammādiṭṭhiko kho pana hoti aviparītadassano: ‘atthi dinnaṁ atthi yiṭṭhaṁ atthi hutaṁ, atthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, atthi ayaṁ loko atthi paro loko, atthi mātā atthi pitā, atthi sattā opapātikā, atthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammāpaṭipannā ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti. Evaṁ kho, gahapatayo, tividhaṁ manasā dhammacariyāsamacariyā hoti. Evaṁ dhammacariyāsamacariyāhetu kho, gahapatayo, evam’idhekacce sattā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjanti.
Và này các Gia chủ, thế nào là ba loại ý hành đúng pháp, đúng chánh đạo? Ở đây, này các Gia chủ, có người không có tham ái, không tham lam tài vật của kẻ khác, không nghĩ rằng: “Ôi, mong rằng mọi tài vật của người khác trở thành của mình!” Lại có người không có tâm sân, không có khởi lên hại ý, hại niệm, nhưng nghĩ rằng: “Mong rằng những loài hữu tình này sống không thù hận, không oán thù, không nhiễu loạn, được an lạc, lo nghĩ tự thân!” Người ấy có chánh kiến, không có tưởng điên đảo, nghĩ rằng: “Có bố thí, có kết quả của bố thí, có tế lễ, có cúng dường, các hành vi thiện ác có kết quả dị thục, có đời này, có đời sau, có mẹ, có cha, có các loại hóa sanh, trong đời, có các Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh hành trì, chân chánh thành tựu, sau khi tự tri, tự chứng lại tuyên bố cho đời này và cho đời sau”. Như vậy, này các Gia chủ, có ba loại ý hành đúng pháp, đúng chánh đạo. Như vậy, do nhân hành đúng pháp, hành đúng chánh đạo, này các Gia chủ, ở đây, một số loài hữu tình sau khi thân hoại mạng chung được sanh vào thiện thú, Thiên giới, đời này.
Pāḷi: mn41:14.1–14.7 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn41/vi/minh_chau)(Bản Việt dịch attānaṁ pariharantu là “lo nghĩ tự thân”; nghĩa sát hơn là “tự giữ gìn mình” — Sujato gộp cả câu thành live… untroubled and happy.)
Bảng tổng hợp mười nghiệp đạo
| Nơi | # | Bất thiện (→ cõi dữ) | Thiện (→ cõi lành) |
|---|---|---|---|
| Thân | 1 | sát sanh, tay lấm máu | bỏ sát sanh, bỏ trượng kiếm, từ bi |
| Thân | 2 | lấy của không cho (ở làng hay ở rừng) | không lấy của không cho |
| Thân | 3 | tà hạnh với 11 hạng phụ nữ | không tà hạnh |
| Lời | 4 | vọng ngữ khi làm chứng (5 nơi, 4 câu đảo, 3 lý do) | nói đúng sự thật |
| Lời | 5 | hai lưỡi, chia rẽ | hòa giải, nói lời hòa hợp |
| Lời | 6 | ác khẩu, lời làm đau | lời dịu dàng (7 phẩm chất) |
| Lời | 7 | phù phiếm, lan man, phi thời | lời đúng lúc, chân thật, có ích |
| Ý | 8 | tham của người | không tham |
| Ý | 9 | sân, mong chúng sinh bị hại | tâm từ, mong chúng sinh an lạc |
| Ý | 10 | tà kiến (10 điều “không có”) | chánh kiến (10 điều “có”) |
Khuôn chung của các ước nguyện
Đến đây câu hỏi của dân Sālā đã được trả lời trọn. Nhưng Thế Tôn nói tiếp, mở rộng tầm nhìn của họ qua hai mươi tám ước nguyện: người hành đúng pháp, đúng chánh hạnh (dhammacārī samacārī) không chỉ “lên cõi trời” chung chung — nếu mong ước, họ có thể đạt đến bất cứ đâu trong một chuỗi dài, từ nhà giàu sang trong cõi người, qua mọi tầng trời, cho đến giải thoát. Mỗi ước nguyện đi theo cùng một khuôn bốn bước, trích một lần ở đây (lấy ước nguyện đầu tiên làm mẫu):
- Điều kiện: “Nếu một vị hành đúng pháp, đúng chánh đạo, mong ước” (ākaṅkheyya ce… dhammacārī samacārī).
- Lời ước: “Ôi, mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, tôi được sanh vào… / sanh thân hữu với…” (aho vatāhaṁ… sahabyataṁ upapajjeyyan).
- Khả năng: “Sự kiện này xảy ra” (ṭhānaṁ kho panetaṁ vijjati).
- Lý do: “Vì sao vậy? Vì vị ấy là vị hành đúng pháp, đúng chánh đạo” (taṁ kissa hetu? tathā hi so dhammacārī samacārī).
Ākaṅkheyya ce, gahapatayo, dhammacārī samacārī: ‘aho vatāhaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā khattiyamahāsālānaṁ sahabyataṁ upapajjeyyan’ti; ṭhānaṁ kho panetaṁ vijjati, yaṁ so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā khattiyamahāsālānaṁ sahabyataṁ upapajjeyya. Taṁ kissa hetu? Tathā hi so dhammacārī samacārī.
Này các Gia chủ, nếu một vị hành đúng pháp, đúng chánh đạo, mong ước: “Ôi, mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, tôi được sanh vào đại phú gia, vương tộc Sát-đế-lị!” Sự kiện này xảy ra, vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào đại phú gia, vương tộc Sát-đế-lị. Vì sao vậy? Vì vị ấy là vị hành đúng pháp, đúng chánh đạo.
Pāḷi: mn41:15.1–15.5 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn41/vi/minh_chau)(Lưu ý bản dịch: bản Việt viết “Sự kiện này xảy ra”, nghe như một lời bảo đảm. Pāḷi ṭhānaṁ kho panetaṁ vijjati, yaṁ so… upapajjeyya nghĩa là “có trường hợp ấy, rằng vị ấy có thể sinh vào…” — một khả năng có thật, không phải điều chắc chắn; Sujato dịch It’s possible that this might happen. Động từ upapajjeyya cũng ở thể khả năng.)
1. Ba hạng đại gia: Sát-đế-lị, Bà-la-môn, gia chủ
Bậc đầu là tái sinh trong cõi người, vào ba hạng “đại phú gia” (mahāsāla, nghĩa đen “có sảnh đường lớn”): đại gia Sát-đế-lị (khattiya, chính là khung trích ở trên), đại gia Bà-la-môn (brāhmaṇa), đại gia gia chủ (gahapati). Với người nghe là Bà-la-môn và gia chủ, đây là những hạng gia đình gần gũi nhất với chính họ.
Ākaṅkheyya ce, gahapatayo, dhammacārī samacārī: ‘aho vatāhaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā brāhmaṇamahāsālānaṁ …pe… gahapatimahāsālānaṁ sahabyataṁ upapajjeyyan’ti; ṭhānaṁ kho panetaṁ vijjati, yaṁ so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā gahapatimahāsālānaṁ sahabyataṁ upapajjeyya. Taṁ kissa hetu? Tathā hi so dhammacārī samacārī.
Này các Gia chủ, nếu một vị hành đúng pháp, đúng chánh đạo, mong ước: “Ôi, mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, tôi được sanh vào đại phú gia Bà-la-môn … đại phú gia gia chủ!” Sự kiện này xảy ra, vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào đại phú gia gia chủ. Vì sao vậy? Vì vị ấy là vị hành đúng pháp, đúng chánh đạo.
Pāḷi: mn41:16-17.1–16-17.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn41/vi/minh_chau)2. Sáu cõi trời Dục giới
Tiếp đến sáu tầng trời còn trong cõi dục: (1) Tứ Thiên vương (cātumahārājika), (2) Ba mươi ba (tāvatiṁsa), (3) Dạ-ma (yāma), (4) Đâu-suất (tusita — xem cõi Tusita), (5) Hóa lạc (nimmānarati), (6) Tha hóa tự tại (paranimmitavasavatti). Bản Pāḷi nói đủ khuôn cho cõi Tứ Thiên vương, các cõi sau chỉ nêu tên với dấu lược “…pe…”.
Ākaṅkheyya ce, gahapatayo, dhammacārī samacārī: ‘aho vatāhaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā cātumahārājikānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyyan’ti; ṭhānaṁ kho panetaṁ vijjati, yaṁ so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā cātumahārājikānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyya. Taṁ kissa hetu? Tathā hi so dhammacārī samacārī. Ākaṅkheyya ce, gahapatayo, dhammacārī samacārī: ‘aho vatāhaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā tāvatiṁsānaṁ devānaṁ …pe… yāmānaṁ devānaṁ … tusitānaṁ devānaṁ … nimmānaratīnaṁ devānaṁ … paranimmitavasavattīnaṁ devānaṁ …
Này các Gia chủ, nếu một vị hành đúng pháp, đúng chánh đạo, mong ước: “Ôi, mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, tôi được sanh thân hữu với chư thiên Tứ thiên vương … với chư thiên cõi trời Ba mươi ba … với chư thiên Dạ ma … với chư thiên Ðâu-suất-đà … với chư thiên Hóa lạc … với chư thiên Tha hóa tự tại …
Pāḷi: mn41:18-42.1–18-42.11 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn41/vi/minh_chau)3. Mười bốn cõi Sắc giới: từ Phạm chúng đến Sắc cứu kính
Bản Pāḷi (Mahāsaṅgīti) kê mười bốn cõi trời thuộc Sắc giới: (1) Phạm chúng (brahmakāyika), (2) Quang thiên (ābhā), (3) Thiểu quang (parittābha), (4) Vô lượng quang (appamāṇābha), (5) Quang âm (ābhassara), (6) Thiểu tịnh (parittasubha), (7) Vô lượng tịnh (appamāṇasubha), (8) Biến tịnh (subhakiṇha), (9) Quảng quả (vehapphala), rồi năm cõi Tịnh cư: (10) Vô phiền (aviha), (11) Vô nhiệt (atappa), (12) Thiện hiện (sudassa), (13) Thiện kiến (sudassī), (14) Sắc cứu kính (akaniṭṭha).
brahmakāyikānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyyan’ti; ṭhānaṁ kho panetaṁ vijjati, yaṁ so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā brahmakāyikānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyya. Taṁ kissa hetu? Tathā hi so dhammacārī samacārī. Ākaṅkheyya ce, gahapatayo, dhammacārī samacārī: ‘aho vatāhaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā ābhānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyyan’ti; ṭhānaṁ kho panetaṁ vijjati, yaṁ so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā ābhānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyya. Taṁ kissa hetu? Tathā hi so dhammacārī samacārī. Ākaṅkheyya ce, gahapatayo, dhammacārī samacārī: ‘aho vatāhaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā parittābhānaṁ devānaṁ …pe… appamāṇābhānaṁ devānaṁ … ābhassarānaṁ devānaṁ … parittasubhānaṁ devānaṁ … appamāṇasubhānaṁ devānaṁ … subhakiṇhānaṁ devānaṁ … vehapphalānaṁ devānaṁ … avihānaṁ devānaṁ … atappānaṁ devānaṁ … sudassānaṁ devānaṁ … sudassīnaṁ devānaṁ … akaniṭṭhānaṁ devānaṁ …
với chư thiên Phạm chúng … với chư thiên Quang thiên … với chư thiên Thiểu Quang thiên … với chư thiên Vô lượng quang thiên … với chư thiên Quang âm thiên … với chư thiên Tịnh thiên … với chư thiên Thiểu tịnh thiên … với chư thiên Vô lượng tịnh thiên … với chư thiên Biến tịnh thiên … với chư thiên Quảng quả thiên … với chư thiên Vô phiền thiên … với chư thiên Vô nhiệt thiên … với chư thiên Thiện hiện thiên … với chư thiên Thiện kiến thiên … với chư thiên Sắc cứu kính thiên …
Pāḷi: mn41:18-42.12–18-42.33 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn41/vi/minh_chau)(Lưu ý bản dịch: bản Việt kê mười lăm cõi ở đoạn này vì có thêm “Tịnh thiên” (subha) giữa Quang âm và Thiểu tịnh. Bản Pāḷi Mahāsaṅgīti — cũng như bản Miến và bản Thái — không có tên này; Anālayo dẫn MN41 theo ấn bản PTS (MN I 289) có nhóm subha và ghi rằng bản Miến, bản Thái không có tên này; ông cũng lưu ý cách kê “một tên chung rồi ba cõi con” — Quang thiên rồi ba cõi Quang; Tịnh thiên rồi ba cõi Tịnh — một kiểu kê cũng gặp ở MN120 và trong Mahāvastu (Anālayo, tr. 264–265, chú 7; thứ cấp). Chú giải (tr. 808) nói rõ “Quang thiên” không phải một cõi riêng mà là tên gọi chung của Thiểu quang, Vô lượng quang và Quang âm; Thiểu tịnh… cũng theo cách ấy. Như vậy, đếm theo tên được kê, bản Pāḷi có 24 tên cõi trời, bản Việt 25; còn theo Chú giải thì “Quang thiên” không phải một cõi riêng.)
4. Bốn cõi Vô sắc
Trên cùng của các cõi trời là bốn cõi Vô sắc: (1) Không vô biên xứ (ākāsānañcāyatana), (2) Thức vô biên xứ (viññāṇañcāyatana), (3) Vô sở hữu xứ (ākiñcaññāyatana), (4) Phi tưởng phi phi tưởng xứ (nevasaññānāsaññāyatana). Ở cõi cuối, khuôn được nói lại đủ bốn bước.
ākāsānañcāyatanūpagānaṁ devānaṁ … viññāṇañcāyatanūpagānaṁ devānaṁ … ākiñcaññāyatanūpagānaṁ devānaṁ … nevasaññānāsaññāyatanūpagānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyyan’ti; ṭhānaṁ kho panetaṁ vijjati, yaṁ so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā nevasaññānāsaññāyatanūpagānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyya. Taṁ kissa hetu? Tathā hi so dhammacārī samacārī.
với chư thiên Hư không vô biên xứ thiên … với chư thiên Thức Vô biên xứ thiên … với chư thiên Vô sở hữu xứ thiên … với chư thiên Phi tưởng Phi phi tưởng xứ thiên!” Sự kiện này xảy ra, vị ấy sau khi thân hoại mạng chung được sanh thân hữu với chư thiên Phi tưởng Phi phi tưởng xứ thiên. Vì sao vậy? Vì vị ấy là vị hành đúng pháp, đúng chánh đạo.
Pāḷi: mn41:18-42.34–18-42.40 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn41/vi/minh_chau)5. Lậu tận: tâm giải thoát, tuệ giải thoát ngay trong hiện tại
Ước nguyện cuối không còn là một nơi tái sinh: “với sự đoạn trừ các lậu hoặc (āsavānaṁ khayā), tự mình chứng ngộ bằng thắng trí, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại (diṭṭheva dhamme) tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu” — tức quả vị A-la-hán. Câu trả lời vẫn y như cũ: có thể được, vì vị ấy hành đúng pháp. Theo Chú giải (tr. 808), Thế Tôn “kết thúc bài pháp bằng đỉnh cao là quả A-la-hán” (arahattanikūṭena).
Ākaṅkheyya ce, gahapatayo, dhammacārī samacārī: ‘aho vatāhaṁ āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyyan’ti; ṭhānaṁ kho panetaṁ vijjati, yaṁ so āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyya. Taṁ kissa hetu? Tathā hi so dhammacārī samacārī”ti.
Này các Gia chủ, nếu một vị hành đúng pháp, đúng chánh đạo, mong ước: “Ôi, mong rằng, với sự đoạn trừ các lậu hoặc, với thắng trí, ta chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu!” Sự kiện này xảy ra, vị ấy với sự đoạn trừ các lậu hoặc, với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu. Vì sao vậy? Vì vị ấy là vị hành đúng pháp, đúng chánh đạo.
Pāḷi: mn41:43.1–43.5 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn41/vi/minh_chau)Bảng tổng hợp 28 ước nguyện
| Nhóm | Ước nguyện (bản Việt · Pāḷi) | Số |
|---|---|---|
| Cõi người | đại gia Sát-đế-lị khattiya · Bà-la-môn brāhmaṇa · gia chủ gahapati | 3 |
| Trời Dục giới | Tứ Thiên vương · Ba mươi ba · Dạ-ma · Đâu-suất · Hóa lạc · Tha hóa tự tại | 6 |
| Sắc giới — Phạm, Quang | Phạm chúng · Quang thiên ābhā · Thiểu quang · Vô lượng quang · Quang âm | 5 |
| Sắc giới — Tịnh, Quảng quả | Thiểu tịnh · Vô lượng tịnh · Biến tịnh · Quảng quả | 4 |
| Sắc giới — Tịnh cư | Vô phiền · Vô nhiệt · Thiện hiện · Thiện kiến · Sắc cứu kính | 5 |
| Vô sắc giới | Không vô biên xứ · Thức vô biên xứ · Vô sở hữu xứ · Phi tưởng phi phi tưởng xứ | 4 |
| Giải thoát | lậu tận: tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu ngay hiện tại | 1 |
| Cộng | (bản Việt thêm “Tịnh thiên” subha → 29) | 28 |
Kết kinh
Nghe xong, các Bà-la-môn và gia chủ Sālā tán thán bằng bốn ảnh dụ quen thuộc — như dựng đứng lại vật bị lật úp, như phơi bày vật bị che kín, như chỉ đường cho người lạc, như đem đèn vào bóng tối để người có mắt thấy được sắc — rồi cùng xin quy y Phật, Pháp, Tăng, xin được nhận làm cư sĩ (upāsaka) từ nay cho đến trọn đời. Kinh dừng ở lời quy y; bản Pāḷi còn dòng kết “Sāleyyakasuttaṁ niṭṭhitaṁ paṭhamaṁ” — “Kinh Sāleyyaka chấm dứt, là kinh thứ nhất” — mà bản Việt không dịch.
Evaṁ vutte, sāleyyakā brāhmaṇagahapatikā bhagavantaṁ etadavocuṁ: “abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama. Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito. Ete mayaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāma dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsake no bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupete saraṇaṁ gate”ti. Sāleyyakasuttaṁ niṭṭhitaṁ paṭhamaṁ.
Khi nghe nói vậy, các gia chủ Bà-la-môn ở Sa-la bạch Thế Tôn
—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama ! Thật vị diệu thay, Tôn giả Gotama ! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện để trình bày. Và nay chúng con xin quy y Tôn giả Gotama , quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng, mong Tôn giả Gotama nhận chúng con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, chúng con trọn đời quy ngưỡng!
Pāḷi: mn41:44.1–44.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn41/vi/minh_chau)“Kinh thứ nhất” ở đây là kinh mở đầu phẩm thứ năm của Trung Bộ, phẩm Cūḷayamaka (Tiểu phẩm Song đôi, MN41–50): cuối MN50 ghi “Cūḷayamakavaggo niṭṭhito pañcamo”, và bài kệ tóm năm phẩm đầu gọi phẩm này bằng chính tên kinh — “sāleyyo ca ime pañca” (mn50:31.22, 33.4).
Giải thích
1. Một câu hỏi của người tại gia, một câu trả lời bằng đạo đức hằng ngày. Dân Sālā hỏi về nơi đến sau khi chết. Thế Tôn không trả lời bằng nghi lễ phải cử hành hay dòng dõi phải sinh ra, mà chỉ ra mười việc ai cũng làm được hay tránh được ngay trong đời sống: ba việc của thân, bốn của lời, ba của ý. (Lễ tế chỉ xuất hiện trong kinh như một nội dung của cái thấy: chánh kiến tin “có bố thí, có tế lễ, có cúng dường” — theo Chú giải, tức tin các việc ấy có quả.) Đây là danh sách mà về sau thường gọi là thập thiện nghiệp đạo (dasa kusalakammapatha). Đáng chú ý là bảy trong mười việc nằm ở lời nói và ý nghĩ — tức là “đạo đức” ở đây không chỉ là giữ tay chân, mà là giữ cả lời và tâm.
2. Mười việc kết thúc bằng chánh kiến. Nghiệp thứ mười không phải một hành vi mà là một cái thấy: tin có quả của bố thí, có quả thiện ác, có đời này đời sau, có mẹ có cha (tức việc đối xử với cha mẹ có quả), có chúng sinh hóa sanh, có bậc tu hành chân chánh tự chứng. Tà kiến được xếp ngang hàng với sát sanh và trộm cắp như một nhân đưa xuống cõi dữ — có thể hiểu là vì cái thấy sai làm nền cho các việc sai khác. Chú giải (tr. 807–808) giải từng điều: “không có bố thí” là cho rằng bố thí không có quả; “không có đời sau” là cho rằng ai chết cũng đứt đoạn tại chỗ; “không có mẹ, không có cha” là cho rằng đối xử đúng hay sai với cha mẹ đều không có quả.
3. Theo Chú giải: đúng pháp đủ để lên trời Dục giới; tầng cao hơn cần thêm thiền. Kinh nói người hành đúng pháp “có thể” sinh vào mọi cõi, kể cả cõi Vô sắc và cả lậu tận. Chú giải (tr. 809–810) giải thích hai mức: sinh vào sáu cõi trời Dục giới là do chính quả dị thục của ba thiện hạnh (thân, khẩu, ý); còn với các cõi cao hơn, mười nghiệp đạo được nói theo nghĩa cận y duyên — chỗ dựa mạnh. Mười nghiệp đạo là giới; người có giới thì việc tu biến xứ (kasiṇa) mới thành tựu; nương giới tu thiền thì sinh vào các cõi thiền Sắc giới; lấy thiền làm nền tu minh sát, chứng quả Bất lai thì sinh vào năm cõi Tịnh cư; chứng các thiền Vô sắc thì sinh vào bốn cõi Vô sắc; lấy thiền làm nền tu minh sát thì chứng A-la-hán. Cũng tại đây, Chú giải (tr. 808–809) gom các cõi trời thành “hai mươi sáu” (6 cõi Dục + 20 cõi Phạm thiên, tính cả cõi Vô tưởng) và nói sự sinh vào các cõi ấy đều được Thế Tôn chỉ ra qua mười nghiệp đạo thiện; riêng cõi Vô tưởng (asañña) không được nêu trong kinh vì đó là chỗ đến quen thuộc của các đạo sĩ, du sĩ ngoại đạo. Các bản Hán tương đương mà Anālayo dẫn cũng cho thấy cõi càng cao thì điều kiện càng nhiều, dù không trùng hẳn với Chú giải: ngay với cõi trời Dục giới, bản Hán đã thêm điều kiện “giữ giới thanh tịnh”; để sinh cõi Phạm thiên, thêm “tâm lìa ái dục” (xem Đối chiếu).
4. “Có thể”, không phải “chắc chắn”. Vì khuôn ước nguyện dùng ṭhānaṁ vijjati — “có trường hợp ấy” — nên kinh không hứa rằng cứ giữ mười điều thiện là tự động lên cõi Phi tưởng hay thành A-la-hán. Kinh chỉ nói: không có cánh cửa nào đóng lại với người sống đúng pháp; từ nền đạo đức ấy, con đường mở lên đến tận cùng. Ước nguyện thứ hai mươi tám — lậu tận — lại không phải một nơi chốn mà là sự chấm dứt mọi tái sinh; bài pháp bắt đầu bằng câu hỏi “chết rồi đi đâu” và kết thúc ở chỗ không còn phải đi đâu nữa.
5. Cách trình bày theo trình độ người nghe. Chú giải (tr. 801) nêu hai điểm sư phạm: đáp vắn tắt trước để người tự cho là trí giả thấy mình chưa hiểu mà khởi lòng cầu học; và trả lời đúng loại câu hỏi của người tại gia. Thêm vào đó, các mô tả đều gắn với đời sống làng xã: bị gọi ra làm chứng trước hội đồng, phường hội hay triều đình; của cải “ở trong làng hay trong rừng”; người con gái đã được trao vòng hoa. Có thể dùng mười điều như một bảng tự soát cuối ngày — đặc biệt bốn điều về lời nói và ba điều về ý nghĩ, những chỗ dễ sai mà ít khi tự thấy.
Đối chiếu các tạng
Theo danh mục tương đương của SuttaCentral (/api/parallels/mn41, tra ngày 20/10/2026), MN41 có các bản: MN42 Verañjaka Sutta (Pāḷi, đầy đủ); SĀ 1042 và SĀ 1043 (Tạp A-hàm, T99, T ii 272c18 và 273a28; tên tạm 鞞聞摩, đầy đủ); và AN 2.1–10 (phẩm Kammakaraṇa của Tăng Chi, được xếp loại “tương tự” — resembling). MN41 không có bản tương đương trong Trung A-hàm, nên site không có bài song tạng Hán cho kinh này. Hai bản Tạp A-hàm nằm ngoài kho nguồn của site: bài này chưa đối chiếu nguyên văn Hán; các điểm so sánh dưới đây lấy theo nghiên cứu của Anālayo (A Comparative Study of the Majjhima-nikāya, tập 1, tr. 263–268; thứ cấp). AN 2.1–10 chưa đối chiếu.
MN42 gần như trùng từng chữ với MN41: Thế Tôn ở Kỳ-đà-lâm (Jetavana) tại Sāvatthī, người nghe là các Bà-la-môn và gia chủ người Verañjā đang ở Sāvatthī vì có việc (mn42:1.2, 2.1) — trong khi MN41 và hai bản Tạp A-hàm đều xảy ra ở Kosala; MN42 không nói đến số Tỷ-kheo đi cùng; và ở phần giảng rộng, MN42 nói adhammacārī visamacārī (“người hành phi pháp”) thay vì adhammacariyā visamacariyā (“sự hành phi pháp”). Anālayo đặt câu hỏi hai kinh có phải là một bài bị chép đôi hay không, và nghiêng về khả năng đây là hai lần giảng riêng, vì Tạp A-hàm cũng giữ hai bản thành một cặp liền nhau (tr. 266–268).
| Điểm | MN41 (Pāḷi) | SĀ 1042 / 1043 (Hán, theo Anālayo) |
|---|---|---|
| Nơi chốn | làng Sālā, nước Kosala | nước Kosala (cả hai bản) |
| Mở đầu | kể đủ tiếng đồn về Thế Tôn; năm cách chào, có người im lặng | chỉ nói các Bà-la-môn nghe tin rồi đến; không có năm cách chào |
| Câu hỏi | một câu hỏi gồm hai vế: cõi dữ và cõi lành | hỏi về địa ngục trước, được đáp xong mới hỏi về cõi trời |
| Thỉnh giảng rộng | tự nhận không hiểu lời vắn tắt | chỉ xin giảng hai loại hành |
| Mười nghiệp đạo | chia ba thân – bốn khẩu – ba ý, mô tả chi tiết từng việc | kể tóm tắt mười việc, không chia ba nhóm |
| Điều kiện sinh thiên | chỉ “hành đúng pháp” cho mọi cõi | cõi Dục: thêm giữ giới thanh tịnh; cõi Phạm thiên: thêm tâm lìa ái dục |
| Các cõi Sắc giới | kê đủ từng cõi | phần này bị lược, không so được |
| Sau các cõi trời | thẳng tới lậu tận | thêm bốn thiền, bốn vô lượng tâm, bốn định vô sắc, ba quả thánh thấp, năm thần thông, rồi lậu tận |
| Kết | tán thán bốn ảnh dụ, quy y làm cư sĩ trọn đời | hoan hỷ, không ghi việc quy y |
Như vậy phần giáo lý — mười nghiệp bất thiện đưa xuống cõi dữ, mười nghiệp thiện mở đường đến các cõi trời và giải thoát — chung cho cả bốn bản; khác nhau ở mức chi tiết (bản Pāḷi mô tả từng nghiệp kỹ hơn nhiều) và ở chặng giữa từ cõi trời đến giải thoát (bản Hán thêm cả lộ trình thiền định, thần thông). Anālayo cũng ghi nhận việc kê “tên chung rồi các cõi con” ở phần Sắc giới của MN41 và việc subha vắng trong bản Miến, bản Thái (đã nói ở mục 3 phần ước nguyện).
Tra cứu trong bài
- Nhân vật: Đức Phật
- Địa danh: Kosala · Sālā (làng Bà-la-môn ở Kosala) (chưa có trang tra cứu riêng)
- Thuật ngữ: Mười nghiệp đạo (thập thiện) · Nghiệp (kamma) · Chánh kiến (sammādiṭṭhi) · Cõi Tusita (Đâu-suất) · Thiền (jhāna) · A-la-hán · Tam Bảo
- Dịch giả: HT. Thích Minh Châu
- Bài liên quan: MN60 - Kinh Không Gì Chuyển Hướng (cùng dân làng Sālā) · MN135 - Tiểu Kinh Nghiệp Phân Biệt
Nguồn tham khảo
- Nguyên văn Pāḷi: MN 41 — SuttaCentral (Mahāsaṅgīti)
- Bản Việt: HT. Thích Minh Châu dịch, Bình Anson hiệu đính — SuttaCentral
- Bản Anh: Bhikkhu Sujato, The People of Sālā — SuttaCentral
- Chú giải: Chú Giải Trung Bộ Kinh, bản Việt (vietheravada.net) — Giải Thích Kinh Sāleyyaka (Sāleyyakasuttavaṇṇanā), tr. 797–810 (số trang theo mốc trang của tệp trong kho nguồn). Bản Việt Chú giải có nhiều câu dịch tối nghĩa; bài này diễn ý có đối chiếu đoạn Pāḷi Chú giải đi kèm.
- Danh mục kinh tương đương: SuttaCentral — MN 41 (API parallels, tra ngày 20/10/2026)
- Bản Pāḷi tương đương: MN 42 — Verañjaka Sutta (SuttaCentral)
- Bản Hán (ngoài kho, chưa đối chiếu nguyên văn): SĀ 1042 · SĀ 1043 — SuttaCentral
- Anālayo, A Comparative Study of the Majjhima-nikāya, tập 1, Dharma Drum, 2011, tr. 263–268 (chương MN 41 & MN 42) — thứ cấp.
- Phẩm và kệ tóm: MN 50 — dòng kết phẩm Cūḷayamaka (SuttaCentral)
📖 Nguồn / bản quyền: SuttaCentral — MN 41 (Sāleyyaka Sutta), Pāḷi Mahāsaṅgīti + bản Việt HT. Thích Minh Châu