MN142 - Kinh Phân Biệt Cúng Dường (Dakkhiṇāvibhaṅga Sutta)

Bà Mahāpajāpatī Gotamī quỳ dâng cặp y mới lên Đức Phật dưới gốc đa, Tôn giả Ānanda đứng hầu — Kinh Phân Biệt Cúng Dường, MN142

Tóm tắt nhanh: Tại Kapilavatthu, bà Mahāpajāpatī Gotamī — người dì đã nuôi Đức Phật bằng sữa mình — đem đến một cặp y mới tự tay kéo sợi, tự tay dệt, xin Ngài nhận; ba lần Ngài đều bảo: hãy dâng cho Tăng, như vậy cả Ta lẫn Tăng đều được cúng dường. Tôn giả Ānanda xin Ngài nhận vì ơn dưỡng dục của bà, và nhắc rằng bà cũng nhờ Phật mà quy y, giữ năm giới, có tịnh tín bất động và hết nghi về Bốn Thánh đế. Thế Tôn xác nhận: ơn đưa người khác đến những điều ấy thì không dễ gì đền bằng lễ bái hay bốn món vật dụng. Rồi Ngài giảng về cúng dường (dakkhiṇā): mười bốn hạng người nhận cúng dường riêng, từ Như Lai xuống tới loài bàng sanh, kèm thang phước từ trăm lần đến vô lượng; bảy cách cúng dường hướng về Tăng — Ngài nói không có cúng dường riêng cho một người nào quả lớn hơn, và cúng dường nhân danh Tăng vẫn vô lượng kể cả ở đời sau, khi người nhận là những kẻ “cổ quấn y vàng” mà ác giới; và bốn trường hợp về sự thanh tịnh của một món quà — thanh tịnh bởi người cho, bởi người nhận, không bởi bên nào, hoặc bởi cả hai. Kinh khép lại bằng năm bài kệ, bài cuối nói: người ly tham đem của đúng pháp cho người ly tham là tài thí tối thượng.

🔗 Song tạng: Bản Hán tạng tương đương — MA180 - Kinh Cù-đàm-di (瞿曇彌經), Trung A-hàm 180. Khác lớn nhất: bản Hán nói bảy cách cúng Tăng trước mười bốn hạng người, và đo sự thanh tịnh của người cho, người nhận bằng “tinh tấn” cùng niềm tin có đời sau, có quả báo — thay cho chữ “giữ giới” của bản Pāḷi.

Bối cảnh

Kinh xảy ra ở quê nhà của Đức Phật: xứ của dòng họ Sakya (Thích-ca), thành Kapilavatthu, tại tinh xá trong vườn cây đa Nigrodhārāma (Ni-câu-luật). Nhân vật chính là bà Mahāpajāpatī Gotamī, em gái của hoàng hậu Māyā, người đã nuôi thái tử Siddhattha sau khi mẹ ruột mất. Trong kinh, Đức Phật gọi bà bằng tên dòng họ Gotamī (dạng nữ của Gotama); bà xưng “con” và gọi Ngài là bhante — “Bạch Thế Tôn”.

Mở đầu - MN142 1

Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme.

Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn trú giữa dòng họ Sakka (Thích-Ca), ở Kapilavatthu (Ca-ty-la-vệ), tại tinh xá Nigrodha (Ni-câu-luật Thọ Viên).

Pāḷi: mn142:1.1–1.2 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn142/vi/minh_chau)

Theo Chú giải (Papañcasūdanī, Ps V 66–67 bản PTS), tên Mahāpajāpatī — “người có đại hội chúng” — do các Bà-la-môn đặt trong lễ đặt tên, vì đoán rằng con của bà, trai hay gái, đều sẽ thành bậc lớn. Cũng theo Chú giải, ý muốn dâng y khởi lên khi Thế Tôn sau khi thành đạo lần đầu trở về Kapilavatthu: thấy dung sắc của “con mình”, bà nghĩ: suốt hai mươi chín năm con mình sống trong cung, đến quả chuối nhỏ cũng do tay bà đưa; nay sẽ dâng một tấm y — mà phải là thứ do chính tay mình làm. Bà cho mang bông từ chợ về, tự tay chải, tự kéo thành sợi mịn, dựng xưởng trong cung cho thợ dệt, thỉnh thoảng tự cầm thoi; xong thì ướp hương trong tráp, đội tráp lên đầu đi trên con đường vua cho rải hoa từ cung đến tinh xá. Đây là lời Chú giải, không có trong chánh văn.

Bà Mahāpajāpatī dâng y — ba lần thỉnh, ba lần được bảo dâng Tăng

Lời thỉnh của bà có ba điểm: y còn mới (navaṁ dussayugaṁ, “một cặp vải mới”), do bà tự tay kéo sợi, tự tay dệt (sāmaṁ kantaṁ sāmaṁ vāyitaṁ), và dành riêng cho Thế Tôn (bhagavantaṁ uddissa). Câu đáp của Thế Tôn cũng gọn: saṅghe, gotami, dehi — “hãy cho Tăng, Gotamī”; dâng Tăng thì “Ta sẽ được cúng dường, và cả Tăng chúng cũng vậy”.

Lần thỉnh thứ nhất - MN142 2.1–2.6

Atha kho mahāpajāpati gotamī navaṁ dussayugaṁ ādāya yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnā kho mahāpajāpati gotamī bhagavantaṁ etadavoca: “idaṁ me, bhante, navaṁ dussayugaṁ bhagavantaṁ uddissa sāmaṁ kantaṁ sāmaṁ vāyitaṁ. Taṁ me, bhante, bhagavā paṭiggaṇhātu anukampaṁ upādāyā”ti. Evaṁ vutte, bhagavā mahāpajāpatiṁ gotamiṁ etadavoca: “saṅghe, gotami, dehi. Saṅghe te dinne ahañceva pūjito bhavissāmi saṅgho cā”ti.

Rồi Mahāpajāpati Gotama (Củ đàm Nữ Ma-ha-ba-xà-bà-đề), đem theo một cặp y mới, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Mahāpajāpati Gotama bạch Thế Tôn

—Bạch Thế Tôn, cặp y mới này do con cắt và dệt đặc biệt cho Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy nhận lấy cho con.

Khi được nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Mahāpajāpati Gotama

—Này Gotama , hãy cúng dường Tăng chúng. Bà cúng dường Tăng chúng, thời Ta sẽ được cung kính, và cả Tăng chúng cũng vậy.

Pāḷi: mn142:2.1–2.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn142/vi/minh_chau)

Lưu ý bản dịch Việt: (1) bản Việt ghi “Mahāpajāpati Gotama”, “Này Gotama” — Pāḷi là gotamī / gotami, dạng nữ của tên dòng họ; (2) “do con cắt và dệt” — Pāḷi sāmaṁ kantaṁ là “tự kéo sợi” (động từ kantati vừa có nghĩa “kéo sợi” vừa có nghĩa “cắt”; bản Anh của Sujato: spun and woven; Chú giải cũng kể bà tự kéo sợi mịn — sukhumasuttaṁ kantitvā).

Bà thỉnh lần thứ hai, lần thứ ba bằng đúng những lời ấy; lần nào Thế Tôn cũng đáp đúng một câu. Bản Việt rút gọn hai lần sau (lần thứ ba có dấu ”…”).

Lần thứ hai, lần thứ ba - MN142 2.7–2.18

Dutiyampi kho mahāpajāpati gotamī bhagavantaṁ etadavoca: “idaṁ me, bhante, navaṁ dussayugaṁ bhagavantaṁ uddissa sāmaṁ kantaṁ sāmaṁ vāyitaṁ. Taṁ me, bhante, bhagavā paṭiggaṇhātu anukampaṁ upādāyā”ti. Dutiyampi kho bhagavā mahāpajāpatiṁ gotamiṁ etadavoca: “saṅghe, gotami, dehi. Saṅghe te dinne ahañceva pūjito bhavissāmi saṅgho cā”ti. Tatiyampi kho mahāpajāpati gotamī bhagavantaṁ etadavoca: “idaṁ me, bhante, navaṁ dussayugaṁ bhagavantaṁ uddissa sāmaṁ kantaṁ sāmaṁ vāyitaṁ. Taṁ me, bhante, bhagavā paṭiggaṇhātu anukampaṁ upādāyā”ti. Tatiyampi kho bhagavā mahāpajāpatiṁ gotamiṁ etadavoca: “saṅghe, gotami, dehi. Saṅghe te dinne ahañceva pūjito bhavissāmi saṅgho cā”ti.

Lần thứ hai, Mahāpajāpati Gotama bạch Thế Tôn

—Bạch Thế Tôn, cặp y mới này do con cắt và dệt. Hãy nhận lấy cho con.

Lần thứ hai, Thế Tôn nói với Mahāpajāpati Gotama

—Này Gotama , hãy cúng dường Tăng chúng. Và cả Tăng chúng cũng vậy.

Lần thứ ba, Mahāpajāpati Gotama bạch Thế Tôn

—Bạch Thế Tôn, cặp y mới này do con cắt và dệt … hãy nhận lấy cho con.

Lần thứ ba, Thế Tôn nói với Mahāpajāpati Gotama :

—Này Gotama , hãy cúng dường Tăng chúng … và cả tăng chúng cũng vậy.

Pāḷi: mn142:2.7–2.18 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn142/vi/minh_chau)
Minh hoạ: bà Mahāpajāpatī Gotamī quỳ hai tay nâng xấp y mới dâng Đức Phật đang ngồi dưới gốc đa trong vườn Nigrodha, Tôn giả Ānanda đứng hầu phía sau, các vị tỳ-kheo ngồi một bên

Kinh không nói vì sao Thế Tôn từ chối. Chú giải (Ps V 67) kể thêm: sau lời đáp đầu, bà thưa rằng bà đủ sức lấy vải trong kho để may y cho trăm, nghìn, trăm nghìn vị tỳ-kheo, còn cặp này là do chính tay bà làm để dâng Thế Tôn — và Thế Tôn vẫn khước từ đến lần thứ ba. Lý do theo Chú giải được bàn ở mục Giải thích.

Tôn giả Ānanda xin Thế Tôn nhận y

Đến đây Tôn giả Ānanda lên tiếng. Lời xin của Ānanda có hai vế: ơn của bà đối với Thế Tôn và ơn của Thế Tôn đối với bà.

Ānanda thưa - MN142 3

Evaṁ vutte, āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca: “paṭiggaṇhātu, bhante, bhagavā mahāpajāpatiyā gotamiyā navaṁ dussayugaṁ. Bahūpakārā, bhante, mahāpajāpati gotamī bhagavato mātucchā āpādikā posikā khīrassa dāyikā; bhagavantaṁ janettiyā kālaṅkatāya thaññaṁ pāyesi. Bhagavāpi, bhante, bahūpakāro mahāpajāpatiyā gotamiyā. Bhagavantaṁ, bhante, āgamma mahāpajāpati gotamī buddhaṁ saraṇaṁ gatā, dhammaṁ saraṇaṁ gatā, saṅghaṁ saraṇaṁ gatā. Bhagavantaṁ, bhante, āgamma mahāpajāpati gotamī pāṇātipātā paṭiviratā adinnādānā paṭiviratā kāmesumicchācārā paṭiviratā musāvādā paṭiviratā surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭiviratā. Bhagavantaṁ, bhante, āgamma mahāpajāpati gotamī buddhe aveccappasādena samannāgatā, dhamme aveccappasādena samannāgatā, saṅghe aveccappasādena samannāgatā ariyakantehi sīlehi samannāgatā. Bhagavantaṁ, bhante, āgamma mahāpajāpati gotamī dukkhe nikkaṅkhā, dukkhasamudaye nikkaṅkhā, dukkhanirodhe nikkaṅkhā, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya nikkaṅkhā. Bhagavāpi, bhante, bahūpakāro mahāpajāpatiyā gotamiyā”ti.

Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn

—Thế Tôn hãy nhận cặp y mới cho Mahāpajāpati Gotama ! Bạch Thế Tôn, Mahāpajāpati Gotama đã giúp ích nhiều cho Thế Tôn, là thúc mẫu, là dưỡng mẫu, đã nuôi dưỡng Thế Tôn, đã cho Thế Tôn bú sữa, vì rằng sau khi sanh, thân mẫu của Thế Tôn mệnh chung, chính bà đã cho Thế Tôn bú sữa. Bạch Thế Tôn, và Thế Tôn cũng giúp ích nhiều cho Mahāpajāpati Gotama . Bạch Thế Tôn, chính nhờ Thế Tôn, Mahāpajāpati Gotama đã quy y Phật, quy Pháp, quy y Tăng. Bạch Thế Tôn, chính nhờ Thế Tôn, Mahāpajāpati từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say các loại rượu đem lại. Bạch Thế Tôn, chính nhờ Thế Tôn, Mahāpajāpati Gotama có đầy đủ lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật, đầy đủ lòng tịnh tín bất động đối với Pháp, đầy đủ lòng tịnh tín bất động đối với chúng Tăng, đầy đủ các giới luật làm bậc Thánh hoan hỷ. Bạch Thế Tôn, chính nhờ Thế Tôn, Mahāpajāpati Gotama không còn nghi ngờ đối với Khổ, không còn nghi ngờ đối với Khổ tập, không còn nghi ngờ đối với Khổ diệt, không còn nghi ngờ đối với Con Ðường đưa đến khổ diệt. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn cũng đã giúp ích nhiều cho Mahāpajāpati Gotama .

Pāḷi: mn142:3.1–3.10 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn142/vi/minh_chau)
  • Bốn ơn của bà: là dì của Thế Tôn (mātucchā), người nuôi lớn (āpādikā), người dưỡng dục (posikā), người cho bú sữa (khīrassa dāyikā) — khi mẹ ruột của Thế Tôn mất, chính bà cho Ngài bú (thaññaṁ pāyesi). Chú giải (Ps V 69) thêm: hoàng tử Nanda, con bà, chỉ nhỏ hơn Bồ-tát vài ngày; bà giao con mình cho vú nuôi để tự mình cho Bồ-tát bú.
  • Bốn điều bà nhận được nhờ Thế Tôn: (1) quy y Phật, Pháp, Tăng; (2) từ bỏ năm điều: sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, các chất say rượu men rượu nấu; (3) đầy đủ tịnh tín bất động (aveccappasāda) đối với Phật, Pháp, Tăng và đầy đủ các giới mà bậc Thánh ưa thích (ariyakanta sīla); (4) không còn nghi đối với Khổ, Khổ tập, Khổ diệt, Con đường đưa đến khổ diệt.

Lưu ý bản dịch Việt ghi bà là “thúc mẫu” — Pāḷi mātucchā là em/chị của mẹ, tức dì (bản Anh: aunt). Điều (3) — tịnh tín bất động với Phật, Pháp, Tăng cùng các giới bậc Thánh ưa — chính là bốn chi phần của bậc Dự lưu (sotāpattiyaṅga); Anālayo nhận xét danh sách lợi ích này hàm ý bà đã chứng Dự lưu (tr. 813). Kinh không gọi thẳng tên quả vị.

Thế Tôn xác nhận: có những ơn không dễ đền

Thế Tôn đồng ý với Ānanda (evametaṁ, ānanda — “đúng vậy, Ānanda”; bản Việt lặp hai lần “Thật là như vậy”), rồi nâng chuyện riêng thành một nguyên tắc chung với bốn trường hợp đúng theo bốn điều Ānanda vừa kể. Ai nhờ một người mà được một trong bốn điều ấy thì Ta nói không dễ đền ơn người kia (na suppatikāraṁ vadāmi) bằng tám việc: đảnh lễ (abhivādana), đứng dậy đón (paccuṭṭhāna), chắp tay (añjalikamma), làm việc hợp lẽ (sāmīcikamma), và dâng y (cīvara), đồ ăn khất thực (piṇḍapāta), sàng tọa (senāsana), thuốc men trị bệnh (gilānappaccayabhesajja).

Bốn ơn không dễ đền - MN142 4

“Evametaṁ, ānanda. Yaṁ hānanda, puggalo puggalaṁ āgamma buddhaṁ saraṇaṁ gato hoti, dhammaṁ saraṇaṁ gato hoti, saṅghaṁ saraṇaṁ gato hoti, imassānanda, puggalassa iminā puggalena na suppatikāraṁ vadāmi, yadidaṁ— abhivādanapaccuṭṭhānaañjalikammasāmīcikammacīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānuppadānena. Yaṁ hānanda, puggalo puggalaṁ āgamma pāṇātipātā paṭivirato hoti, adinnādānā paṭivirato hoti, kāmesumicchācārā paṭivirato hoti, musāvādā paṭivirato hoti, surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭivirato hoti, imassānanda, puggalassa iminā puggalena na suppatikāraṁ vadāmi, yadidaṁ— abhivādanapaccuṭṭhānaañjalikammasāmīcikammacīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānuppadānena. Yaṁ hānanda, puggalo puggalaṁ āgamma buddhe aveccappasādena samannāgato hoti, dhamme … saṅghe … ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti, imassānanda, puggalassa iminā puggalena na suppatikāraṁ vadāmi, yadidaṁ— abhivādanapaccuṭṭhānaañjalikammasāmīcikammacīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānuppadānena. Yaṁ hānanda, puggalo puggalaṁ āgamma dukkhe nikkaṅkho hoti, dukkhasamudaye nikkaṅkho hoti, dukkhanirodhe nikkaṅkho hoti, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya nikkaṅkho hoti, imassānanda, puggalassa iminā puggalena na suppatikāraṁ vadāmi, yadidaṁ— abhivādanapaccuṭṭhānaañjalikammasāmīcikammacīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānuppadānena.

—Thật là như vậy, này Ānanda ! Thật là như vậy, này Ānanda ! Này Ānanda , nếu do nhờ một người, mà một người khác được quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, thời này Ānanda , Ta nói rằng người này không có một đền ơn nào xứng đáng đối với người kia về đảnh lễ, đứng đậy, chấp tay, về làm những việc thích hợp và về dâng cúng các sự cúng dường như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.

Nếu do nhờ một người mà một người khác từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say các loại rượu men, rượu nấu, thời này Ānanda , Ta nói rằng người này không có một đền ơn nào xứng đáng đối với người kia … dược phẩm trị bệnh.

Này Ānanda , nếu do nhờ một người mà một người khác đầy đủ tịnh tín bất động đối với Phật, đối với Pháp, đối với Tăng, đầy đủ các giới luật, thời này Ānanda , Ta nói rằng người này không có một đền ơn nào xứng đáng đối với người kia … dược phẩm trị bệnh.

Này Ānanda , nếu do nhờ một người mà một người khác không có nghi ngờ đối với Khổ, không có nghi ngờ đối với Khổ tập, không có nghi ngờ đối với Khổ diệt, không có khi ngờ đối với Con Ðường đưa đến khổ diệt, thời này Ānanda , Ta nói rằng người này không có một đền ơn nào xứng đáng đối với người kia … dược phẩm trị bệnh.

Pāḷi: mn142:4.1–4.9 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn142/vi/minh_chau)
#Nhờ người kia mà mình được…Không dễ đền bằng
1quy y Phật, Pháp, Tăngđảnh lễ, đứng dậy đón, chắp tay, việc hợp lẽ; y, đồ ăn, sàng tọa, thuốc men
2từ bỏ năm điều (năm giới)như trên
3tịnh tín bất động với Tam Bảo + giới bậc Thánh ưanhư trên
4hết nghi về Khổ, Tập, Diệt, Đạonhư trên

Bản Việt dịch na suppatikāraṁ là “không có một đền ơn nào xứng đáng”; nghĩa sát chữ là “không dễ đền đáp”. Chú giải (Ps V 70) giải thích bằng hình ảnh: dù chất bốn món vật dụng hảo hạng đầy cả thế giới, cao tới núi Tu-di để dâng, cũng chưa làm trọn việc đền ơn người thầy. Kinh không nói Thế Tôn có nhận y hay không; câu chuyện dừng ở đây và bài giảng chuyển sang cúng dường.

Mười bốn hạng người nhận cúng dường riêng

Thế Tôn kể mười bốn “cúng dường theo từng người” (pāṭipuggalikā dakkhiṇā), xếp từ cao xuống thấp. Theo Chú giải (Ps V 70), bài này mở ra vì Ānanda vừa thỉnh một cúng dường cho riêng một người (Thế Tôn), nên Ngài chỉ rõ mười bốn trường hợp được gọi là cúng dường riêng.

Mười bốn cúng dường theo từng người - MN142 5

Cuddasa kho panimānanda, pāṭipuggalikā dakkhiṇā. Katamā cuddasa? Tathāgate arahante sammāsambuddhe dānaṁ deti— ayaṁ paṭhamā pāṭipuggalikā dakkhiṇā. Paccekasambuddhe dānaṁ deti— ayaṁ dutiyā pāṭipuggalikā dakkhiṇā. Tathāgatasāvake arahante dānaṁ deti— ayaṁ tatiyā pāṭipuggalikā dakkhiṇā. Arahattaphalasacchikiriyāya paṭipanne dānaṁ deti— ayaṁ catutthī pāṭipuggalikā dakkhiṇā. Anāgāmissa dānaṁ deti— ayaṁ pañcamī pāṭipuggalikā dakkhiṇā. Anāgāmiphalasacchikiriyāya paṭipanne dānaṁ deti— ayaṁ chaṭṭhī pāṭipuggalikā dakkhiṇā. Sakadāgāmissa dānaṁ deti— ayaṁ sattamī pāṭipuggalikā dakkhiṇā. Sakadāgāmiphalasacchikiriyāya paṭipanne dānaṁ deti— ayaṁ aṭṭhamī pāṭipuggalikā dakkhiṇā. Sotāpanne dānaṁ deti— ayaṁ navamī pāṭipuggalikā dakkhiṇā. Sotāpattiphalasacchikiriyāya paṭipanne dānaṁ deti— ayaṁ dasamī pāṭipuggalikā dakkhiṇā. Bāhirake kāmesu vītarāge dānaṁ deti— ayaṁ ekādasamī pāṭipuggalikā dakkhiṇā. Puthujjanasīlavante dānaṁ deti— ayaṁ dvādasamī pāṭipuggalikā dakkhiṇā. Puthujjanadussīle dānaṁ deti— ayaṁ terasamī pāṭipuggalikā dakkhiṇā. Tiracchānagate dānaṁ deti— ayaṁ cuddasamī pāṭipuggalikā dakkhiṇāti.

Này Ānanda , có mười bốn loại cúng dường phân loại theo hạng người. Bố thí các đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, là cúng dường thứ nhất, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị Ðộc Giác Phật, là cúng dường thứ hai, phân loại theo hạng người. Bố thí các bậc A-la-hán, đệ tử Như Lai, là cúng dường thứ ba, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị trên con đường chứng quả A-la-hán là cúng dường thứ tư, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị chứng quả Bất lai, là cúng dường thứ năm, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị trên con đường chứng quả Bất lai là cúng dường thứ sáu, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị chứng quả Nhất lai là cúng dường thứ bảy, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị trên con đường chứng quả Nhất lai là cúng dường thứ tám, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị chứng quả Dự lưu là cúng dường thứ chín, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị trên con đường chứng quả Dự lưu là cúng dường thứ mười, phân loại theo hạng người. Bố thí những vị ngoại học (bahiraka) đã ly tham trong các dục vọng là cúng dường thứ mười một, phân loại theo hạng người. Bố thí những phàm phu gìn giữ giới luật là cúng dường thứ mười hai, phân loại theo hạng người. Bố thí những phàm phu theo ác giới là cúng dường thứ mười ba, phân loại theo hạng người. Bố thí các loại bàng sanh là cúng dường thứ mười bốn, phân loại theo hạng người.

Pāḷi: mn142:5.1–5.30 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn142/vi/minh_chau)
Sơ đồ mười bốn hạng người nhận cúng dường trong MN142, từ Như Lai, Độc Giác Phật, tám bậc Thánh (hướng và quả), người ngoại đạo ly dục, phàm phu giữ giới, phàm phu ác giới đến bàng sanh, kèm mức phước trăm lần, nghìn lần, trăm nghìn lần, trăm nghìn koṭi lần và vô lượng
#Người nhận (Pāḷi)Bản Việt
1Tathāgata arahant sammāsambuddhađức Như Lai, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác
2PaccekasambuddhaĐộc Giác Phật
3Tathāgatasāvaka arahantA-la-hán đệ tử Như Lai
4arahattaphalasacchikiriyāya paṭipannavị trên con đường chứng quả A-la-hán
5anāgāmīvị chứng quả Bất lai
6anāgāmiphala… paṭipannavị trên con đường chứng quả Bất lai
7sakadāgāmīvị chứng quả Nhất lai
8sakadāgāmiphala… paṭipannavị trên con đường chứng quả Nhất lai
9sotāpannavị chứng quả Dự lưu
10sotāpattiphala… paṭipannavị trên con đường chứng quả Dự lưu
11bāhiraka kāmesu vītarāgangười ngoại học đã ly tham các dục
12puthujjana sīlavantphàm phu giữ giới
13puthujjana dussīlaphàm phu ác giới
14tiracchānagataloài bàng sanh

Chú giải (Ps V 71) giải ba hạng dưới: “người ngoài đã ly tham” là người theo thuyết nghiệp, thuyết hành, đắc năm thắng trí thế gian; “phàm phu giữ giới” là người hiền, không gian trá, sống bằng nghề nông hay buôn bán đúng pháp, không hại ai; “phàm phu ác giới” là những người như dân chài, kẻ đánh cá — sống bằng cách làm hại kẻ khác.

Thang phước: từ trăm lần đến vô lượng

Ngay sau đó Thế Tôn nói quả của từng mức, nhưng đi theo chiều ngược lại — từ thấp lên cao — và chỉ ghi con số cho bốn mức dưới cùng; đến mức thứ năm — vị trên con đường chứng Dự lưu — là “vô số, vô lượng”, rồi chín lần “còn nói gì đến…” cho tới Như Lai.

Thang phước - MN142 6

Tatrānanda, tiracchānagate dānaṁ datvā sataguṇā dakkhiṇā pāṭikaṅkhitabbā, puthujjanadussīle dānaṁ datvā sahassaguṇā dakkhiṇā pāṭikaṅkhitabbā, puthujjanasīlavante dānaṁ datvā satasahassaguṇā dakkhiṇā pāṭikaṅkhitabbā, bāhirake kāmesu vītarāge dānaṁ datvā koṭisatasahassaguṇā dakkhiṇā pāṭikaṅkhitabbā, sotāpattiphalasacchikiriyāya paṭipanne dānaṁ datvā asaṅkheyyā appameyyā dakkhiṇā pāṭikaṅkhitabbā, ko pana vādo sotāpanne, ko pana vādo sakadāgāmiphalasacchikiriyāya paṭipanne, ko pana vādo sakadāgāmissa, ko pana vādo anāgāmiphalasacchikiriyāya paṭipanne, ko pana vādo anāgāmissa, ko pana vādo arahattaphalasacchikiriyāya paṭipanne, ko pana vādo arahante, ko pana vādo paccekasambuddhe, ko pana vādo tathāgate arahante sammāsambuddhe.

Tại đây, này Ānanda , sau khi bố thí cho các loại bàng sanh, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm phần công đức. Sau khi bố thí cho những phàm phu theo ác giới, cúng dường này có hy vọng đem lại ngàn phần công đức. Sau khi bố thí cho các phàm phu gìn giữ giới luật, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm ngàn lần công đức. Sau khi bố thí cho các người ngoại học đã ly tham trong các dục vọng, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm ngàn ức lần công đức. Sau khi bố thí cho các vị trên con đường chứng quả Dự lưu, cúng dường này có hy vọng đem lại vô số vô lượng công đức. Còn nói gì đến những vị đã chứng quả Dự lưu? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả Nhất lai? Còn nói gì đến những vị đã chứng quả Nhất lai? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả Bất lai? Còn nói gì đến những vị đã chứng quả Bất lai? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả A-la-hán? Còn nói gì đến những vị đã chứng quả A-la-hán, đệ tử Như Lai? Còn nói gì đến những vị Ðộc Giác Phật? Còn nói gì đến các Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác?

Pāḷi: mn142:6.1 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn142/vi/minh_chau)
Người nhậnQuả có thể mong đợi (Pāḷi)Bản Việt
bàng sanhsataguṇātrăm phần công đức
phàm phu ác giớisahassaguṇāngàn phần
phàm phu giữ giớisatasahassaguṇātrăm ngàn lần
người ngoại học ly tham các dụckoṭisatasahassaguṇātrăm ngàn ức lần (Pāḷi: trăm nghìn koṭi)
vị trên con đường chứng Dự lưuasaṅkheyyā appameyyāvô số vô lượng
chín bậc còn lại, đến Như Laiko pana vādo — “còn nói gì đến”“Còn nói gì đến…”

Chú giải (Ps V 71–73) nói thêm ba điều: (1) cho bàng sanh ở đây là cho con vật nào đến — chó, heo, gà, quạ — ăn no với tâm mong quả, chứ không tính việc nuôi vì thương hay vì có ích; “trăm phần” là trăm đời được năm điều: tuổi thọ, sắc đẹp, an lạc, sức mạnh, biện tài; (2) “vị trên con đường chứng Dự lưu” hiểu ở mức thấp nhất gồm cả cư sĩ đã quy y, rồi người giữ năm giới, mười giới, sa-di, tỳ-kheo… cao dần, và ở mức cao nhất là người đang ở sát-na Đạo; (3) sự “vô lượng” của mức này như nước trong một vũng nhỏ, còn của các bậc trên như nước sông lớn, biển lớn.

Bảy cách cúng dường hướng về Tăng

Rồi Thế Tôn chuyển sang loại cúng dường thứ hai: bảy “cúng dường đi đến Tăng” (saṅghagatā dakkhiṇā). Khác mười bốn hạng ở trên, ở đây người cho không chọn một người nhận, mà hướng tâm về đoàn thể.

Bảy cúng dường Tăng - MN142 7

Satta kho panimānanda, saṅghagatā dakkhiṇā. Katamā satta? Buddhappamukhe ubhatosaṅghe dānaṁ deti— ayaṁ paṭhamā saṅghagatā dakkhiṇā. Tathāgate parinibbute ubhatosaṅghe dānaṁ deti— ayaṁ dutiyā saṅghagatā dakkhiṇā. Bhikkhusaṅghe dānaṁ deti— ayaṁ tatiyā saṅghagatā dakkhiṇā. Bhikkhunisaṅghe dānaṁ deti— ayaṁ catutthī saṅghagatā dakkhiṇā. ‘Ettakā me bhikkhū ca bhikkhuniyo ca saṅghato uddissathā’ti dānaṁ deti— ayaṁ pañcamī saṅghagatā dakkhiṇā. ‘Ettakā me bhikkhū saṅghato uddissathā’ti dānaṁ deti— ayaṁ chaṭṭhī saṅghagatā dakkhiṇā. ‘Ettakā me bhikkhuniyo saṅghato uddissathā’ti dānaṁ deti— ayaṁ sattamī saṅghagatā dakkhiṇā.

Này Ānanda , có bảy loại cúng dường cho Tăng chúng. Bố thí cho cả hai Tăng chúng với đức Phật là vị cầm đầu là cúng dường Tăng chúng thứ nhất. Bố thí cho cả hai Tăng chúng, sau khi đức Phật đã nhập diệt là cúng dường Tăng chúng thứ hai. Bố thí cho chúng Tỷ-kheo Tăng là cúng dường Tăng chúng thứ ba. Bố thí cho chúng Tỷ-kheo ni là cúng dường Tăng chúng thứ tư. Bố thí và nói rằng: “Mong Tăng chúng chỉ định cho tôi một số Tỷ-kheo và Tỷ-kheo ni như vậy”, là cúng dường Tăng chúng thứ năm. Bố thí và nói rằng: “Mong rằng Tăng chúng chỉ định cho tôi một số Tỷ-kheo như vậy”, là cúng dường Tăng chúng thứ sáu. Bố thí và nói rằng: “Mong rằng Tăng chúng chỉ định cho một số Tỷ-kheo ni như vậy”, là cúng dường Tăng chúng thứ bảy.

Pāḷi: mn142:7.1–7.16 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn142/vi/minh_chau)
Sơ đồ bảy cách cúng dường hướng về Tăng trong MN142: hai bộ Tăng có Phật đứng đầu, hai bộ Tăng sau khi Phật nhập diệt, Tỳ-kheo Tăng, Tỳ-kheo-ni Tăng, và ba cách xin Tăng cử một số vị
#PāḷiNghĩa
1buddhappamukhe ubhatosaṅghecho cả hai bộ Tăng (Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni) có Đức Phật đứng đầu
2tathāgate parinibbute ubhatosaṅghecho cả hai bộ Tăng sau khi Như Lai nhập diệt
3bhikkhusaṅghecho Tỳ-kheo Tăng
4bhikkhunisaṅghecho Tỳ-kheo-ni Tăng
5‘ettakā me bhikkhū ca bhikkhuniyo ca saṅghato uddissathā’tixin Tăng cử cho mình chừng ấy Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni
6‘ettakā me bhikkhū saṅghato uddissathā’tixin Tăng cử chừng ấy Tỳ-kheo
7‘ettakā me bhikkhuniyo saṅghato uddissathā’tixin Tăng cử chừng ấy Tỳ-kheo-ni

Chú giải (Ps V 73–74) giải cách thứ nhất: Tỳ-kheo Tăng một bên, Tỳ-kheo-ni Tăng một bên, Bậc Đạo Sư ngồi giữa; và nói cách ấy vẫn làm được sau khi Phật nhập diệt — đặt một tượng có xá-lợi trên tòa trước hai bộ Tăng, dâng mọi thứ lên Bậc Đạo Sư trước rồi mới dâng Tăng; phần dâng Phật thì trao cho vị tỳ-kheo lo việc thờ phụng, dầu bơ dùng thắp đèn, vải làm phướn. “Tỳ-kheo Tăng” ở cách thứ ba là đại chúng không giới hạn số vị.

Lời tiên báo về những kẻ “cổ quấn y vàng”

Đoạn kế là đoạn gây bàn luận nhiều nhất của kinh. Thế Tôn nói: đời sau sẽ có những kẻ gotrabhuno — “chỉ còn mang dòng họ” — cổ quấn mảnh y vàng (kāsāvakaṇṭhā), ác giới, ác pháp; người ta sẽ cúng dường cho những kẻ ác giới ấy nhân danh Tăng (saṅghaṁ uddissa). Ngay cả khi ấy, Ta vẫn nói cúng dường hướng về Tăng là vô số, vô lượng; và không có cách nào Ta nói cúng dường riêng một người lại có quả lớn hơn cúng dường hướng về Tăng.

Cúng Tăng ở đời sau - MN142 8

Bhavissanti kho panānanda, anāgatamaddhānaṁ gotrabhuno kāsāvakaṇṭhā dussīlā pāpadhammā. Tesu dussīlesu saṅghaṁ uddissa dānaṁ dassanti. Tadāpāhaṁ, ānanda, saṅghagataṁ dakkhiṇaṁ asaṅkheyyaṁ appameyyaṁ vadāmi. Na tvevāhaṁ, ānanda, kenaci pariyāyena saṅghagatāya dakkhiṇāya pāṭipuggalikaṁ dānaṁ mahapphalataraṁ vadāmi.

Nhưng này Ānanda , trong thời gian tương lai sẽ có những hạng chuyển tánh (gotrabhuno), với những áo cà-sa vàng xung quanh cổ, theo ác giới, ác pháp, và cuộc bố thí đối với chúng Tăng theo ác giới. Nhưng này Ānanda , khi Ta nói rằng cúng dường cho Tăng chúng là vô số và vô lượng, thời này Ānanda , Ta không có muốn nói rằng bất cứ phương tiện gì, một sự bố thí phân loại theo cá nhân lại có kết quả to lớn hơn đối với cúng dường cho Tăng chúng.

Pāḷi: mn142:8.1–8.4 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn142/vi/minh_chau)

Lưu ý bản dịch Việt đoạn này khó theo dõi: (1) “và cuộc bố thí đối với chúng Tăng theo ác giới” — Pāḷi tesu dussīlesu saṅghaṁ uddissa dānaṁ dassanti là “người ta sẽ bố thí cho những kẻ ác giới ấy, nhân danh Tăng”; (2) “khi Ta nói rằng cúng dường cho Tăng chúng là vô số và vô lượng” — Pāḷi tadāpāhaṁ… asaṅkheyyaṁ appameyyaṁ vadāmi là “ngay cả khi ấy, Ta vẫn nói… vô số vô lượng”, tức một khẳng định, không phải mệnh đề phụ. Câu cuối (na tvevāhaṁ… kenaci pariyāyena…) là một câu riêng: “không có cách nào Ta nói cúng dường riêng một người có quả lớn hơn cúng dường hướng về Tăng”.

Theo Chú giải (Ps V 74), gotrabhuno là “Sa-môn chỉ có tên”; họ buộc một mảnh vải vàng ở tay hay ở cổ, còn vợ con, ruộng vườn, buôn bán thì như người đời. Chú giải nhấn mạnh kinh không nói “Tăng ác giới” — vì không có Tăng nào ác giới; chỉ có người cho nhắm đến Tăng mà người nhận là kẻ ác giới. Chú giải (Ps V 75) kể chuyện một gia chủ xin Tăng cử một vị, được một tỳ-kheo ác giới, vẫn trải tòa, căng màn, rửa chân, cúng dường cung kính như trước Đức Phật; sau bữa ăn vị ấy đến cửa đòi mượn cái cuốc, ông vẫn ngồi yên, lấy chân hất cái cuốc ra cho; người chung quanh hỏi sao buổi sáng cung kính hết mực mà giờ không còn chút lễ độ, ông đáp: sự cung kính ấy là dành cho Tăng, không phải cho vị này. Theo Chú giải, cúng dường như vậy được làm cho thanh tịnh nhờ tám mươi vị đại trưởng lão như Xá-lợi-phất (Sāriputta), Mục-kiền-liên và các bậc lậu tận còn trong Tăng. Học giả Anālayo xem đoạn này có thể được thêm vào về sau — xem Đối chiếu.

Khuôn chung của bốn sự thanh tịnh

Phần cuối bài giảng đổi góc nhìn: không hỏi “cho ai” mà hỏi món quà được làm sạch từ đâu. Kinh nêu bốn “sự thanh tịnh của cúng dường” (dakkhiṇā visuddhiyo). Cả bốn vế đi theo cùng một khuôn ba bước:

  1. Câu hỏi: “Thế nào là loại cúng dường được thanh tịnh bởi… ?”
  2. Điều kiện: “Ở đây, người cho (dāyaka) giữ giới / ác giới…, còn những người nhận (paṭiggāhakā) giữ giới / ác giới…”
  3. Kết vế: “Như vậy là loại cúng dường được thanh tịnh bởi…”

Khuôn trích một lần dưới đây, cùng câu nêu danh sách bốn vế; vế thứ nhất dùng làm mẫu.

Bốn sự thanh tịnh và vế mẫu - MN142 9–10

Catasso kho imā, ānanda, dakkhiṇā visuddhiyo. Katamā catasso? Atthānanda, dakkhiṇā dāyakato visujjhati no paṭiggāhakato. Atthānanda, dakkhiṇā paṭiggāhakato visujjhati no dāyakato. Atthānanda, dakkhiṇā neva dāyakato visujjhati no paṭiggāhakato. Atthānanda, dakkhiṇā dāyakato ceva visujjhati paṭiggāhakato ca. Kathañcānanda, dakkhiṇā dāyakato visujjhati no paṭiggāhakato? Idhānanda, dāyako hoti sīlavā kalyāṇadhammo, paṭiggāhakā honti dussīlā pāpadhammā— evaṁ kho, ānanda, dakkhiṇā dāyakato visujjhati no paṭiggāhakato.

Này Ānanda , có bốn sự thanh tịnh của các loại cúng dường. Thế nào là bốn? Này Ānanda , có loại cúng dường được thanh tịnh bởi người cho, nhưng không bởi người nhận. Này Ānanda , có loại cúng dường được thanh tịnh bởi người nhận, nhưng không bởi người cho. Này Ānanda , có loại cúng dường không được thanh tịnh bởi người cho và cũng bởi người nhận. Này Ānanda , có loại cúng dường được thanh tịnh bởi người cho và cũng bởi người nhận.

Và này Ānanda , thế nào là loại cúng dường được thanh tịnh bởi người cho, nhưng không bởi người nhận? Ở đây, này Ānanda , người cho giữ giới, theo thiện pháp, còn những người nhận theo ác giới, theo ác pháp. Như vậy, này Ānanda , là loại cúng dường được thanh tịnh bởi người cho, nhưng không bởi người nhận.

Pāḷi: mn142:9.1–10.3 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn142/vi/minh_chau)

Chữ “thanh tịnh” (visujjhati) ở đây, theo Chú giải (Ps V 76), có nghĩa là “trở thành có quả lớn” (mahapphalā hotī); “thiện pháp” (kalyāṇadhamma) là pháp trong sạch, không phải pháp ác.

Sơ đồ bốn sự thanh tịnh của cúng dường trong MN142: bảng hai chiều người cho giữ giới hay ác giới với người nhận giữ giới hay ác giới, mỗi ô ghi món quà được làm sạch bởi ai

1. Thanh tịnh bởi người cho, không bởi người nhận

Người cho giữ giới, theo thiện pháp (sīlavā kalyāṇadhammo); người nhận ác giới, ác pháp (dussīlā pāpadhammā). (Khung trích ở trên.) Chú giải (Ps V 76–77) lấy ví dụ vua Vessantara đem hai con cho Bà-la-môn Jūjaka mà quả đất rung chuyển, và ví như người nông dân giỏi gặp ruộng xấu nhưng cày đúng thời, gieo giống tốt, canh giữ ngày đêm, vẫn được nhiều lúa hơn người khác trên ruộng tốt.

2. Thanh tịnh bởi người nhận, không bởi người cho

Đảo lại: người cho ác giới, người nhận giữ giới. Chú giải (Ps V 76) kể người dân chài ở cửa sông Kalyāṇī ba lần dâng thức ăn cho Trưởng lão Dīghasoma; lúc nằm trên giường chết, ông nói phần vật thực ấy đang nâng đỡ ông.

Thanh tịnh bởi người nhận - MN142 11

Kathañcānanda, dakkhiṇā paṭiggāhakato visujjhati no dāyakato? Idhānanda, dāyako hoti dussīlo pāpadhammo, paṭiggāhakā honti sīlavanto kalyāṇadhammā— evaṁ kho, ānanda, dakkhiṇā paṭiggāhakato visujjhati no dāyakato.

Và này Ānanda , thế nào là loại cúng dường được thanh tịnh bởi người nhận, nhưng không bởi người cho? Ở đây, này Ānanda , người cho theo ác giới, theo ác pháp, còn những người nhận giữ giới, theo thiện pháp. Như vậy, này Ānanda , là loại cúng dường được thanh tịnh bởi người nhận, nhưng không bởi người cho.

Pāḷi: mn142:11.1–11.3 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn142/vi/minh_chau)

3. Không thanh tịnh bởi người cho, cũng không bởi người nhận

Cả hai đều ác giới, ác pháp. Chú giải (Ps V 76) kể người thợ săn ở Vaḍḍhamāna làm phước hồi hướng cho một ngạ quỷ, ba lần dâng cho một vị ác giới; lần thứ ba ngạ quỷ kêu lên “kẻ ác giới cướp của tôi”; đến khi dâng cho một tỳ-kheo giữ giới thì phần phước mới đến được.

Không thanh tịnh bởi ai - MN142 12

Kathañcānanda, dakkhiṇā neva dāyakato visujjhati no paṭiggāhakato? Idhānanda, dāyako ca hoti dussīlo pāpadhammo, paṭiggāhakā ca honti dussīlā pāpadhammā— evaṁ kho, ānanda, dakkhiṇā neva dāyakato visujjhati no paṭiggāhakato.

Và này Ānanda , thế nào là loại cúng dường không được thanh tịnh bởi người cho và cũng bởi người nhận? Ở đây, này Ānanda , người cho theo ác giới, theo ác pháp, và người nhận cũng theo ác giới, theo ác pháp. Như vậy, này Ānanda , là sự cúng dường không được thanh tịnh bởi người cho và cũng bởi người nhận.

Pāḷi: mn142:12.1–12.3 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn142/vi/minh_chau)

4. Thanh tịnh bởi cả người cho lẫn người nhận

Cả hai đều giữ giới, theo thiện pháp. Thế Tôn kết: “đó là bốn sự thanh tịnh của cúng dường”. Chú giải (Ps V 76) chỉ dẫn tên cuộc “đại thí vô song” (asadisadāna) làm ví dụ, không kể lại.

Thanh tịnh bởi cả hai - MN142 13

Kathañcānanda, dakkhiṇā dāyakato ceva visujjhati paṭiggāhakato ca? Idhānanda, dāyako ca hoti sīlavā kalyāṇadhammo, paṭiggāhakā ca honti sīlavanto kalyāṇadhammā— evaṁ kho, ānanda, dakkhiṇā dāyakato ceva visujjhati paṭiggāhakato ca. Imā kho, ānanda, catasso dakkhiṇā visuddhiyo”ti.

Và này Ānanda , thế nào là loại cúng dường được thanh tịnh bởi người cho và cũng bởi người nhận? Ở đây, này Ānanda , người cho giữ giới, theo thiện pháp; và người nhận cũng giữ giới, theo thiện pháp. Như vậy, này Ānanda , là sự cúng dường được thanh tịnh bởi người cho và cũng bởi người nhận.

Này Ānanda , như vậy là bốn sự thanh tịnh của các loại cúng dường.

Pāḷi: mn142:13.1–13.4 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn142/vi/minh_chau)

Bảng tổng hợp bốn sự thanh tịnh

#Người choNgười nhậnMón quà được làm sạch bởi
1giữ giới, thiện phápác giới, ác phápngười cho (không bởi người nhận)
2ác giới, ác phápgiữ giới, thiện phápngười nhận (không bởi người cho)
3ác giới, ác phápác giới, ác phápkhông bên nào (không thanh tịnh)
4giữ giới, thiện phápgiữ giới, thiện phápcả hai

Bốn bài kệ ứng với bốn sự thanh tịnh

“Thế Tôn thuyết giảng như vậy” — rồi Bậc Thiện Thệ, Bậc Đạo Sư nói thêm bằng kệ. Bốn bài đầu đi đúng bốn vế ở trên, nhưng mỗi bài thêm ba yếu tố mà phần văn xuôi không nói: của đem cho có được đúng pháp hay không (dhammena / adhammena laddhaṁ), tâm người cho tịnh tín hay không (supasannacitto / appasannacitto), và người cho có tin quả lớn của nghiệp hay không (abhisaddahaṁ / anabhisaddahaṁ kammaphalaṁ uḷāraṁ).

Bốn bài kệ - MN142 14.1–14.18

Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā: “Yo sīlavā dussīlesu dadāti dānaṁ, Dhammena laddhaṁ supasannacitto; Abhisaddahaṁ kammaphalaṁ uḷāraṁ, Sā dakkhiṇā dāyakato visujjhati. Yo dussīlo sīlavantesu dadāti dānaṁ, Adhammena laddhaṁ appasannacitto; Anabhisaddahaṁ kammaphalaṁ uḷāraṁ, Sā dakkhiṇā paṭiggāhakato visujjhati. Yo dussīlo dussīlesu dadāti dānaṁ, Adhammena laddhaṁ appasannacitto; Anabhisaddahaṁ kammaphalaṁ uḷāraṁ, Na taṁ dānaṁ vipulapphalanti brūmi. Yo sīlavā sīlavantesu dadāti dānaṁ, Dhammena laddhaṁ supasannacitto; Abhisaddahaṁ kammaphalaṁ uḷāraṁ, Taṁ ve dānaṁ vipulapphalanti brūmi.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Bậc Thiện Thệ sau khi nói như vậy, bậc Ðạo sư lại nói thêm:

Ai đầy đủ giới luật,
Bố thí cho ác giới;
Vật thí được đúng pháp,
Với tâm khéo hoan hỷ,
Với lòng tin vững vàng
Vào quả lớn của nghiệp,
Sự cúng dường như vậy,
Thanh tịnh bởi người cho.

Ai không giữ giới luật,
Bố thí cho thiện giới;
Vật thí không đúng pháp,
Với tâm không hoan hỷ,
Không lòng tin vững vàng,
Vào quả lớn của nghiệp,
Sự cúng dường như vậy,
Thanh tịnh bởi người nhận.

Ai không giữ giới luật,
Bố thí cho ác giới;
Vật thí không đúng pháp,
Với tâm không hoan hỷ,
Không lòng tin vững vàng,
Vào quả lớn của nghiệp,
Sự cúng dường như vậy
Cả hai không thanh tịnh.

Ai đầy đủ giới luật,
Bố thí cho thiện giới;
Vật thí được đúng pháp,
Với tâm khéo hoan hỷ,
Với lòng tin vững vàng,
Vào quả lớn của nghiệp,
Ta nói bố thí ấy
Chắc chắn có quả lớn.

Pāḷi: mn142:14.1–14.18 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn142/vi/minh_chau)
KệNgười cho → người nhậnCủa choTâm · niềm tinKết của kệ (Pāḷi)
1giữ giới → ác giớiđúng pháptịnh tín · tin quả nghiệpthanh tịnh bởi người cho
2ác giới → giữ giớiphi phápkhông tịnh tín · không tinthanh tịnh bởi người nhận
3ác giới → ác giớiphi phápkhông tịnh tín · không tin“Ta nói bố thí ấy không có quả lớn”
4giữ giới → giữ giớiđúng pháptịnh tín · tin quả nghiệp“Ta nói bố thí ấy thật có quả lớn”

Lưu ý bản dịch Việt kệ thứ ba kết bằng “Cả hai không thanh tịnh” (đúng ý phần văn xuôi §12); còn câu kệ Pāḷi là na taṁ dānaṁ vipulapphalanti brūmi — “Ta nói bố thí ấy không có quả lớn”. Chữ “tâm khéo hoan hỷ” trong bản Việt dịch supasannacitto, nghĩa sát là “tâm khéo tịnh tín, trong sáng”.

Kết kinh: kệ thứ năm và lời kết phẩm Phân Biệt

Bài kệ thứ năm vượt lên trên bốn vế: người ly tham (vītarāgo) đem của có được đúng pháp, với tâm tịnh tín và niềm tin nơi quả nghiệp, cho những người ly tham (vītarāgesu) — bố thí ấy là đứng đầu trong các tài thí (āmisadānānamaggaṁ). Sau đó là dòng ghi của người kết tập: hết kinh thứ mười hai, hết phẩm Phân Biệt thứ tư, và bài kệ tóm lục (uddāna) điểm tên mười hai kinh của phẩm.

Kết kinh - MN142 14.19–15

Yo vītarāgo vītarāgesu dadāti dānaṁ, Dhammena laddhaṁ supasannacitto; Abhisaddahaṁ kammaphalaṁ uḷāraṁ, Taṁ ve dānaṁ āmisadānānamaggan”ti. Dakkhiṇāvibhaṅgasuttaṁ niṭṭhitaṁ dvādasamaṁ. Vibhaṅgavaggo niṭṭhito catuttho. Tassuddānaṁ Bhaddekānandakaccāna, Lomasakaṅgiyāsubho; Mahākammasaḷāyatanavibhaṅgā, Uddesaaraṇā dhātu saccaṁ. Dakkhiṇāvibhaṅgasuttanti.

Ai xuất ly tham ái
Bố thí không tham ái,
Vật thí được đúng pháp.
Với tâm khéo hoan hỷ,
Với lòng tin vững vàng,
Vào quả lớn của nghiệp,
Ta nói bố thí ấy
Là quảng đại tài thí.

Pāḷi: mn142:14.19–15.5 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn142/vi/minh_chau)

Lưu ý bản dịch Việt: câu “Bố thí không tham ái” dễ hiểu thành “bố thí mà không tham” — Pāḷi vītarāgesu dadāti là “cho những người đã ly tham”; câu “Là quảng đại tài thí” dịch āmisadānānamaggaṁ, nghĩa sát là “là tối thượng trong các tài thí”. Bản Việt không dịch dòng kết phẩm và bài tóm lục. Chú giải (Ps V 77) giải “người ly tham” là bậc Bất lai, còn bậc A-la-hán là người ly tham hoàn toàn; vì thế A-la-hán cho A-la-hán là tối thượng, vì không còn mong cầu đời sau.

Bài tóm lục kể đủ mười hai kinh của phẩm Phân Biệt (MN131–142): Bhaddeka(ratta), Ānanda(bhaddekaratta), (Mahā)kaccāna(bhaddekaratta), Lomasakaṅgiya(bhaddekaratta), Subha (tức Tiểu Kinh Nghiệp Phân Biệt, MN135), Mahākamma(vibhaṅga) (MN136), Saḷāyatanavibhaṅga, Uddesa(vibhaṅga), Araṇa(vibhaṅga), Dhātu(vibhaṅga), Sacca(vibhaṅga) và Dakkhiṇāvibhaṅga — chính kinh này.

Giải thích

1. Vì sao Phật không nhận tấm y của mẹ nuôi? Chánh văn chỉ có một câu: dâng Tăng thì “Ta được cúng dường, và Tăng cũng vậy”. Chú giải (Ps V 67–69) nêu hai lý do: vì thương mẹ — ba tác ý của bà (trước khi cho, lúc cho, sau khi cho) đã khởi lên hướng về Phật; nếu khởi thêm hướng về Tăng thì “sáu tác ý” hợp lại sẽ đem lợi ích lâu dài cho bà; và để người đời sau kính Tăng: thấy Phật đem vật dâng mình cho Tăng, họ sẽ coi Tăng là phước điền, lo bốn món vật dụng cho Tăng, nhờ đó giáo pháp còn lâu. Chú giải cũng bác hai cách hiểu sai: (a) cho rằng câu này chứng minh cúng Tăng có quả lớn hơn cúng Phật — không đúng, vì không có bậc đáng cúng dường nào hơn Phật, và chính Ānanda vì biết điều đó mới xin Phật nhận; (b) cho rằng Phật “thuộc trong Tăng” — không đúng, nếu vậy thì chỉ còn hai ngôi Tam Bảo. SuttaCentral còn ghi hai chỗ nhắc đến kinh: Luận Sự (Kv 17.9) và Milindapañha (Mil 6.1.2) — theo tên mục trên SuttaCentral, cả hai bàn quả của cúng dường Tăng (Mil: vì sao nên dâng Tăng thay vì dâng Phật); bài này chưa đối chiếu nội dung hai văn bản ấy.

2. Ơn dưỡng dục và ơn Pháp. Ānanda đặt hai món ơn cạnh nhau: bà nuôi thân Phật; Phật đưa bà đến quy y, giới, tịnh tín và hết nghi. Thế Tôn đáp “đúng vậy” nhưng chỉ triển khai vế thứ hai: ơn đưa người khác đến quy y, giới, tịnh tín và hết nghi thì không dễ đền bằng lễ bái hay vật dụng. Theo Chú giải (Ps V 70), Ngài nói vậy để tán thán món ơn cao hơn trong hai món ơn Ānanda vừa kể. Đặt cạnh việc Ngài vừa bảo dâng Tăng, người viết hiểu (kinh không nói thẳng): tấm y không phải là cách “trả” món ơn nào; điều Ngài nhắm đến, theo Chú giải, là lợi ích lâu dài cho chính bà.

3. Hai thước đo: người nhận và cách hướng tâm. Mười bốn hạng cho thấy quả của món quà tăng theo phẩm chất người nhận — từ con vật, đến người giữ giới, đến bậc Thánh. Nhưng bảy cách cúng Tăng đặt thêm một thước đo khác: khi người cho không chọn người mà hướng tâm về cả Tăng đoàn, Thế Tôn nói không có cúng dường riêng nào quả lớn hơn. Chú giải (Ps V 74–75) nói rõ điều kiện: người cho phải giữ được lòng kính Tăng, không thất vọng khi được cử một sa-di, cũng không mừng riêng khi gặp một đại trưởng lão — hễ tâm dính vào cá nhân thì không còn là cúng Tăng.

4. Một món quà sạch từ hai đầu. Bốn sự thanh tịnh cho thấy quả không chỉ do người nhận: người cho giữ giới có thể “làm sạch” món quà dù người nhận không xứng; ngược lại, người cho ác giới vẫn được nhờ khi người nhận giữ giới. Bài kệ thêm ba điều thuộc phía người cho mà ai cũng tự làm được: của cải có được đúng pháp, tâm tịnh tín, và tin nghiệp có quả. Kệ thứ năm cho thấy đỉnh cao không nằm ở số lượng của cải, mà ở chỗ người cho và người nhận đều đã ly tham.

5. Một chỗ căng trong kinh. Đoạn “cổ quấn y vàng” (§8) nói cúng Tăng qua kẻ ác giới vẫn vô lượng, còn bốn sự thanh tịnh (§9–13) và kệ thứ ba nói cho kẻ ác giới mà người cho cũng ác giới thì không có quả lớn. Chú giải (Ps V 75–76) hoà hai chỗ bằng cách tách: lời “cho người giữ giới có quả lớn, cho kẻ ác giới thì không như vậy” thuộc nhóm bốn này, còn cúng Tăng là một cách tính riêng, được làm sạch nhờ các bậc Thánh trong Tăng. Anālayo thì cho rằng đoạn §8 có thể là phần thêm vào về sau (xem Đối chiếu). Bài này nêu cả hai cách nhìn, không kết luận thay người đọc.

6. Ứng dụng. Khi cúng dường: giữ giới của chính mình; của đem cho phải có được đúng pháp; tâm trong sáng, tin nhân quả; và khi cúng Tăng thì kính Tăng, không kén người nhận. Đó là những phần thuộc về người cho — phần duy nhất mình tự quyết được.

Đối chiếu các tạng

Theo danh mục tương đương của SuttaCentral (API parallels, tra ngày 18/10/2026), MN142 có các bản song song “đầy đủ”: Hán tạng MA180 (瞿曇彌經, Kinh Cù-đàm-di); kinh lẻ Hán dịch T84 (佛說分別布施經, do Thí Hộ dịch, theo Anālayo); hai truyện trong T202.52 và T203.50; phần Tỳ-kheo-ni kiền-độ trong Luật Hán dịch (mã SC lzh-mi-kd17); mảnh Tocharian Maitrisimit (tf1) và một mảnh Uighur (uf20); mảnh Gāndhārī Bajaur Kharoṣṭhī 1 (gf30); hai mảnh Sanskrit (SC ghi sht-sutta86, sht-sutta31). SuttaCentral còn ghi các chỗ nhắc đến kinh: Kv 17.9, Mil 6.1.2, T1509.22, T1545.178, T212.14 và up4.103 (SuttaCentral không ghi tên; Anālayo kể một bản Tây Tạng trong chú giải Abhidharmakośabhāṣya của Śamathadeva là bản song song — chưa rõ có phải cùng văn bản này không). Bài này chỉ đối chiếu chi tiết với MA180; các bản còn lại chưa đối chiếu bản gốc — những gì nêu về chúng dưới đây là theo Anālayo (thứ cấp).

MA180 là tương đương đầy đủ: cùng nơi chốn, cùng chuyện dâng y ba lần, cùng ba phần giảng (bảy cách cúng Tăng, mười bốn hạng người, bốn loại thanh tịnh) và bài kệ cuối. Không có bản trùng tên nào cần loại.

Sơ đồ so sánh MN142 và MA180: tấm y, ai kể ơn của Phật, thứ tự hai danh sách, tiêu chuẩn người nhận, cách cúng Tăng thứ nhất, đoạn tỳ-kheo đời sau, tiêu chuẩn thanh tịnh, số bài kệ và phần kết
ĐiểmMN142 (Pāḷi)MA180 (Hán)
Nơi chốnxứ Sakya, Kapilavatthu, vườn NigrodhaThích-ki-sấu, Gia-tì-la-vệ, vườn Ni-câu-loại — cùng nơi
Tấm ymột cặp vải mới, bà tự kéo sợi, tự dệty mới sắc vàng, dệt kim tuyến (新金縷黃色衣), “tôi tự cắt may”
Lời Phậtdâng Tăng thì “Ta được cúng dường và Tăng cũng vậy”dâng Chúng Tỳ-kheo thì “đã cúng dường Ta, cũng như đã cúng dường Đại chúng”
Ānandathưa xin Phật nhậnđứng sau Phật cầm quạt hầu, thưa xin
Ai kể ơn Phật đối với bàĀnanda kểThế Tôn tự nói; thêm năm điều bà thành tựu: tín, giới, đa văn, bố thí, trí tuệ
Cách đền ơn không đủ4 lễ nghi + 4 vật dụngcúng dường suốt đời: ăn uống, áo chăn, giường chõng, thuốc thang
Thứ tự hai danh sách14 hạng người trước, 7 cách cúng Tăng sau7 cách cúng Tăng trước, 14 hạng sau
Mười bốn hạng — hai hạng phàm phugiữ giới / ác giớitinh tấn / không tinh tấn (施精進人,施不精進人)
Thang phước100 · 1.000 · 100.000 · 100.000 koṭi · vô lượngtrăm lần · ngàn lần · trăm ngàn lần · ức trăm ngàn lần · vô lượng — cùng khung
Bảy cách cúng Tăngkể đủ 7, cách 1 là hai bộ Tăng có Phật đứng đầucách 1 là Phật và Chúng Tỳ-kheo; bản Hán hiện còn chỉ đánh số cách 1, 5, 7
Tỳ-kheo đời saugotrabhū, cổ quấn y vàng, ác giới, ác pháp; cúng Tăng vẫn vô lượng; cúng riêng không bao giờ hơn名姓種, khoác cà-sa mà không tinh tấn; cúng vẫn vô lượng, “huống nữa” cho tỳ-kheo có nhiều thành tựu — tính là cách thứ bảy
Bốn loại thanh tịnhtheo giới: sīlavā kalyāṇadhammo / dussīlā pāpadhammātheo tinh tấn, hành diệu pháp và chánh kiến: thấy có đời sau, có quả báo, “có bố thí, có quả bố thí”; nói rõ “bốn loại, chỉ ba được thanh tịnh” (四種布施,三淨施)
Kệ5 bài6 bài: thêm bài khen kẻ nô tỳ, người bần cùng hoan hỷ bố thí
Kếtdòng kết kinh và tóm lục phẩm; không có câu hoan hỷ“Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo… hoan hỷ phụng hành”

Vài điểm thêm theo Anālayo, A Comparative Study of the Majjhima-nikāya, vol. 2, tr. 810–819 (thứ cấp, chưa đối chiếu bản gốc ngoài MA180):

  • Ai kể ơn Phật. Anālayo ghi MA180, bản Tây Tạng, các bộ Luật và các mảnh Gāndhārī, Sanskrit, Tocharian, Uighur đều để Thế Tôn nói việc Ngài đã giúp bà; chỉ MN142 đặt lời ấy vào miệng Ānanda. Ông nhận xét cách của các bản song song “hợp với mạch chuyện hơn” (tr. 813, chú thích 276).
  • Bà là cư sĩ hay ni? Kinh nhắc bà giữ năm giới, nhưng cả ba bản (MN142, MA180, T84) đều kể Tỳ-kheo-ni Tăng trong danh sách cúng dường, và T84 gọi bà là tỳ-kheo-ni. Anālayo cho rằng việc “giữ năm giới” có thể chỉ thuộc công thức mô tả lúc bà mới thành cư sĩ (tr. 814–815).
  • Đoạn “cổ quấn y vàng”. Anālayo nhận thấy T84 và mảnh Gāndhārī không có đoạn này, MA180 chỉ nói tỳ-kheo “không tinh tấn”, và đoạn ấy khó dung hợp với bốn sự thanh tịnh ngay sau; ông viết: “it seems quite possible that this particular passage in the Dakkhiṇāvibhaṅga-sutta is a later addition to the discourse” — “rất có thể chính đoạn này trong kinh Dakkhiṇāvibhaṅga là phần được thêm vào về sau” (tr. 818). Đây là ý kiến học giả, không phải lời kinh.
  • Kết của các bản khác. Theo Anālayo, T84 kết bằng việc bà đem y dâng Chúng Tỳ-kheo; T202 và T203 kể tiếp rằng không vị tỳ-kheo nào dám nhận cho đến khi tỳ-kheo Di-lặc nhận (tr. 811–812, 819).
  • Tên kinh. Chú giải Trung Bộ có chỗ gọi kinh này là Dakkhiṇāvisuddhi-sutta, lấy tên từ phần bốn sự thanh tịnh (Anālayo, tr. 810, chú thích 261).

Tóm lại, cốt lõi giáo lý trùng khớp giữa hai bản: chuyện dâng y, mười bốn hạng người, bảy cách cúng Tăng, bốn loại thanh tịnh. Khác nhau ở thứ tự, ở người kể ơn, ở tiêu chuẩn “giới” (Pāḷi) với “tinh tấn và chánh kiến” (Hán), ở đoạn tỳ-kheo đời sau, và ở bài kệ thứ sáu của bản Hán. Theo cước chú của HT. Tuệ Sỹ (Trung A-hàm, tập III, tr. 561, chú thích 6), 比丘名姓種 là tỳ-kheo chỉ có danh tự mà không có thực chất, tương đương gotrabhuno của bản Pāḷi.

Tra cứu trong bài

Nguồn tham khảo

  • Pāḷi (Mahāsaṅgīti): MN 142 — SuttaCentral
  • Việt — HT. Thích Minh Châu dịch (Bình Anson hiệu đính): mn142/vi/minh_chau — SuttaCentral
  • English — Bhikkhu Sujato, The Analysis of Religious Donations: mn142/en/sujato — SuttaCentral
  • Danh mục kinh tương đương: MN 142 — SuttaCentral (API parallels, tra ngày 18/10/2026)
  • Hán tạng tương đương — Trung A-hàm 180, T26, tr. 721c–723a: ma180/lzh/taisho — SuttaCentral · bản Việt HT. Tuệ Sỹ: ma180/vi/tue_sy — SuttaCentral · bài trên site: MA180 - Kinh Cù-đàm-di (đăng cùng đợt)
  • Chú giải: Papañcasūdanī (Majjhimanikāya-aṭṭhakathā), Dakkhiṇāvibhaṅgasuttavaṇṇanā — số trang “Ps V …” theo bản PTS (mốc trang ghi trong bản Pāḷi VRI Chaṭṭha Saṅgāyana); bản Việt: Chú giải Trung Bộ Kinh (bản Thái–Việt), mục “Giải Thích Kinh Phân Biệt Cúng Dường” — sudhamma.net. Chú Giải Trung Bộ Kinh, bản Việt MN1–50: Chú Giải Trung Bộ Kinh (vietheravada.net) (bộ này chưa có MN142).
  • Tuệ Sỹ (dịch, chú), Kinh Trung A-hàm, tập III, tr. 559–565, cước chú kinh 180 (chú thích 6 dẫn ở mục Đối chiếu).
  • Anālayo, A Comparative Study of the Majjhima-nikāya, vol. 2, tr. 810–821 (Dharma Drum, 2011) — thứ cấp.

📖 Nguồn / bản quyền: SuttaCentral — MN 142 (Dakkhiṇāvibhaṅga Sutta), Pāḷi Mahāsaṅgīti + bản Việt HT. Thích Minh Châu