MA193 - Kinh Mâu-lê-phá-quần-na (Trung A-hàm 193, tương đương MN21)

Người thợ vẽ giơ cọ, bên cạnh các bát màu, muốn vẽ hình lên khoảng trời trống — Kinh Mâu-lê-phá-quần-na, Trung A-hàm 193

Tóm tắt nhanh: 牟犁破群那經 (Kinh Mâu-lê-phá-quần-na) là bài Trung A-hàm 193 của Hán tạng, tương đương MN21 - Kinh Ví Dụ Cái Cưa của Pāḷi. Tại Xá-vệ, Tỳ-kheo Mâu-lê-phá-quần-na thường tụ tập với các Tỳ-kheo-ni, ai nói xấu bên này thì bên kia sân hận đến cãi vã; Đức Phật gọi ông đến, dạy đoạn trừ dục và niệm dựa vào thế tục, rồi dạy y như vậy cho tất cả chư Tỳ-kheo. Ngài nhắc các Tỳ-kheo thuở trước vâng lời học nhất tọa thực (ảnh dụ cỗ xe và rừng sa-la), nói rằng thiện ngữ cung thuận thật phải vì viễn ly chứ không vì y bát, và kể chuyện nữ gia chủ Tì-đà-đề nổi tiếng hiền bị nữ tỳ Hắc thử ba lần dậy trễ, đến lần thứ ba thì cầm gậy đánh vỡ đầu nàng. Kinh nêu năm con đường ngôn ngữ người khác có thể dùng, dạy giữ tâm không biến đổi, khởi lòng từ mẫn với chính người ấy và rải từ, bi, hỷ, xả khắp thế gian; rồi minh hoạ bằng bốn ảnh dụ — tâm hành như đất lớn, sông Hằng, hư không, túi da mèo — và ảnh dụ lưỡi cưa bén. Cuối kinh Thế Tôn bốn lần khen “Lành thay”, hứa rằng ai thường nhớ thí dụ lưỡi cưa chắc được một trong hai quả: cứu cánh trí ngay đời này hoặc A-na-hàm.

🔗 Song tạng: Bản Pāḷi tương đương — MN21 - Kinh Ví Dụ Cái Cưa (Kakacūpama Sutta). Khác lớn nhất: bản Pāḷi dạy riêng Phagguna giữ tâm trong bốn trường hợp (các ni hay chính mình bị chê, bị đánh) và chỉ nói tâm từ; bản Hán không có bốn trường hợp ấy, nhưng rải đủ bốn tâm vô lượng, đổi chỗ hai ảnh dụ sông Hằng và hư không, và kết bằng lời hứa một trong hai quả.

Bối cảnh

Kinh là bài thứ hai của quyển 50 (牟犁破群那經第二竟), thuộc Đại phẩm (大品) của Trung A-hàm; cuối kinh ghi kinh dài 3.358 chữ (三千三百五十八字), và đây cũng là bài cuối của quyển 50 (中阿含經卷第五十; Tuệ Sỹ, chú 13: “Bản Hán, hết quyển 50”). Bản Hán do Cù-đàm Tăng-già-đề-bà (Gautama Saṅghadeva) dịch đời Đông Tấn (397–398). Bản Việt dùng ở đây là của HT. Tuệ Sỹ (Kinh Trung A-hàm, tập III, có 13 cước chú).

Nơi thuyết là nước Xá-vệ (舍衛國, Sāvatthī), rừng Thắng lâm (勝林, tức Kỳ-đà-lâm, Jetavana), vườn Cấp cô độc. Nhân vật mở đầu là Tỳ-kheo Mâu-lê-phá-quần-na (牟犁破群那) — Tuệ Sỹ (chú 1) đối chiếu với Pāḷi Moliyaphagguna; trong kinh, Thế Tôn gọi ông gọn là “Phá-quần-na” (破群那, phần phiên âm của Phagguna). Học giả Anālayo ghi nhận bản Hán đặt tên kinh theo nhân vật này, và có cùng nơi thuyết với MN21 (A Comparative Study of the Majjhima-nikāya, vol. 1, tr. 145, chú 2 — thứ cấp).

Chuyện được kể theo hai chiều: ai đến trước mặt Phá-quần-na nói xấu (道說; Tuệ Sỹ, chú 2: Pāḷi avaṇṇanaṁ bhāsati, “nói điều không tốt”) các Tỳ-kheo-ni thì ông sân hận, hằn học, cho đến cãi vã (鬪諍); ai đến trước mặt các Tỳ-kheo-ni nói xấu ông thì các ni cũng sân hận, hằn học, cho đến cãi vã như thế.

Mở đầu - MA 193 ¶1–2

我聞如是:一時,佛遊舍衛國,在勝林給孤獨園。爾時,牟犁破群那與比丘尼數共集會。若有人向牟犁破群那比丘道說比丘尼者,彼聞已,便瞋恚憎嫉,乃至鬪諍。若有人向諸比丘尼道說牟犁破群那比丘者,諸比丘尼聞已,便瞋恚憎嫉,乃至鬪諍。眾多比丘聞已,便往詣佛,稽首佛足,却坐一面,白曰:

Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng lâm, vườn Cấp cô độc.

Bấy giờ Tỳ-kheo Mâu-lê-phá-quần-na thường tu tập với các Tỳ-kheo-ni. Nếu có vị nào trước mặt Mâu-lê-phá-quần-na mà nói xấu các Tỳ-kheo-ni, ông liền sân hận, hằn học cho đến cãi vã. Hoặc có vị nào trước mặt Tỳ-kheo-ni nói xấu Tỳ-kheo Mâu-lê-phá-quần-na các Tỳ-kheo-ni nghe vậy liền sân hận hằn học cho đến cãi vã. Một số đông các Tỳ-kheo nghe như vậy liền đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân, ngồi qua một bên thưa rằng:

MA 193 - T26 0744a06–a13 · Việt: Tuệ Sỹ (ma193/vi/tue_sy)

(Lưu ý bản Việt: câu đầu ghi Phá-quần-na “thường tu tập với các Tỳ-kheo-ni”; Hán là 數共集會 — “thường cùng tụ hội”, và ở đoạn ngay sau chính bản Việt dịch là “thường tụ tập”. Chữ “tu tập” ở đây có lẽ là lỗi in của “tụ tập”.)

Nhiều Tỳ-kheo trình lên Thế Tôn, Phá-quần-na được gọi đến

Người trình lên không phải một mà là số đông Tỳ-kheo (眾多比丘). Họ đến đảnh lễ, ngồi xuống một bên và thuật lại đúng sự việc ấy, cả hai chiều. Thế Tôn nghe xong bảo một Tỳ-kheo đi gọi: “Thế Tôn gọi thầy.” Vị ấy vâng lời, đảnh lễ, nhiễu quanh ba vòng (繞三匝) rồi đi; đến báo tin, Phá-quần-na liền đến đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.

Trình lên và cho gọi - MA 193 ¶3–7

世尊!牟犁破群那比丘與比丘尼數共集會。若有人向牟犁破群那比丘道說比丘尼者,彼聞已,便瞋恚憎嫉,乃至鬪諍。若有人向諸比丘尼道說牟犁破群那比丘者,諸比丘尼聞已,便瞋恚憎嫉,乃至鬪諍。」世尊聞已,告一比丘:「汝往牟犁破群那比丘所,而語之曰:『世尊呼汝。』」一比丘聞已:「唯然世尊!」即從坐起,稽首佛足,繞三匝而去。至牟犁破群那比丘所,而語之曰:「世尊呼汝!」牟犁破群那聞已,來詣佛所,為佛作禮,却坐一面。

“Bạch Đức Thế Tôn, Tỳ-kheo Mâu-lê-phá-quần-na thường tụ tập với các Tỳ-kheo-ni. Nếu có vị nào trước mặt Tỳ-kheo Mâu-lê-phá-quần-na nói xấu các Tỳ-kheo-ni, thầy ấy nghe vậy liền sân hận, hằn học cho đến cãi vã. Hoặc có vị nào trước mặt các Tỳ-kheo nói xấu Tỳ-kheo Mâu-lê-phá-quần-na, các Tỳ-kheo-ni nghe vậy liền sân hận, hằn học cho đến cãi vã.”

Đức Thế Tôn nghe rồi liền bảo một Tỳ-kheo: “Hãy đến chỗ Tỳ-kheo Mâu-lê-phá-quần-na mà nói rằng: Đức Thế Tôn gọi thầy.”

Một Tỳ-kheo nghe Phật dạy như vậy bèn thưa: “Kính vâng, bạch Thế Tôn”, rồi cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu quanh ba vòng rồi ra đi.

Vị Tỳ-kheo đó đến chỗ Tỳ-kheo Mâu-lê-phá-quần-na nói rằng: “Đức Thế Tôn gọi thầy.”

Tỳ-kheo Mâu-lê-phá-quần-na nghe vậy liền đến chỗ Phật đảnh lễ dưới chân ngồi qua một bên. Đức Thế Tôn nói:

MA 193 - T26 0744a13–a23 · Việt: Tuệ Sỹ (ma193/vi/tue_sy)

(Lưu ý bản Việt: ở vế thứ hai của lời trình, bản Việt ghi “có vị nào trước mặt các Tỳ-kheo nói xấu Tỳ-kheo Mâu-lê-phá-quần-na” — sót chữ “ni”; Hán là 向諸比丘尼道說牟犁破群那比丘, “trước mặt các Tỳ-kheo-ni”.)

Thế Tôn hỏi Phá-quần-na hai câu

Câu thứ nhất hỏi lại sự việc: “có thật như vậy không?” (汝實如是耶) — Phá-quần-na nhận: “Điều đó có thật.” Câu thứ hai không hỏi về các ni mà hỏi về chính ông: ông há chẳng phải vì chí tín mà bỏ nhà, sống không nhà, học đạo (至信、捨家、無家、學道) sao? Ông đáp: “Đúng như vậy.”

Hai câu hỏi - MA 193 ¶8–9

世尊告曰:「破群那!汝實與比丘尼數共集會。若有人向汝道說比丘尼者,汝聞已,便嗔恚憎嫉,乃至鬪諍。若有人向諸比丘尼道說汝者,諸比丘尼聞已,便嗔恚憎嫉,乃至鬪諍。破群那!汝實如是耶?」破群那答曰:「實爾。世尊!」世尊復問曰:「破群那!汝非至信、捨家、無家、學道耶?」破群那答曰:「唯然。世尊!」

“Phá-quần-na, có thật ngươi thường tụ hội cùng các Tỳ-kheo-ni? Và có vị nào trước mặt ngươi nói xấu các Tỳ-kheo-ni, ngươi nghe vậy liền sân hận, hằn học cho đến cãi vã. Hoặc có vị nào trước mặt các Tỳ-kheo-ni nói xấu ngươi, các Tỳ-kheo-ni ấy liền sân hận hằn học, cho đến cãi vã? Phá-quần-na, có thật vậy không?”

Phá-quần-na thưa rằng:

“Bạch Thế Tôn! Điều đó có thật.”

Thế Tôn liền hỏi:

“Phá-quần-na, ngươi há không phải là chí tín, lìa bỏ gia đình sống không gia đình mà học đạo?”

Phá-quần-na đáp:

“Đúng như vậy, bạch Thế Tôn!”

MA 193 - T26 0744a23–0744b01 · Việt: Tuệ Sỹ (ma193/vi/tue_sy)

Lời dạy cho Phá-quần-na và cho tất cả chư Tỳ-kheo

Từ câu trả lời thứ hai, Thế Tôn dạy cách học gồm hai mặt: dục và niệm nào dựa vào gia đình, thế tục (欲念依家) thì đoạn trừ; dục và niệm nào dựa vào vô dục (依於無欲) thì phải tập, phải tu, phải phát triển rộng lớn (是習是修,是廣布). Tuệ Sỹ (chú 3) đối chiếu 欲念依家 với Pāḷi ye gehasitā chandā ye gehasitā vitakkā — “những dục, những tầm liên hệ thế tục”. Rồi Thế Tôn quay sang tất cả chư Tỳ-kheo, hỏi đúng câu đã hỏi Phá-quần-na (“các ông có phải vì chí tín mà xuất gia học đạo?”), được đáp “Thưa phải”, và dạy y như vậy: lời răn một người thành lời dạy chung cho cả chúng.

Đoạn dục niệm y gia - MA 193 ¶10–12

世尊告曰:「破群那!是以汝至信、捨家、無家、學道者,應當學。若有欲有念依家,斷是。若有欲有念依於無欲,是習是修,是廣布也。破群那!汝當如是學。」爾時,世尊問諸比丘曰:「汝等非至信、捨家、無家、學道耶?」諸比丘答曰:「唯然。世尊!」世尊復告諸比丘曰:「是以汝等至信、捨家、無家、學道者,應當學。若有欲有念依家,斷是。若有欲有念依於無欲,是習是修,是廣布也,汝等當如是學。

Đức Phật hỏi:

“Phá-quần-na, như vậy, ngươi chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình mà học đạo, phải học như thế này, nếu có dục, có niệm nào y cứ trên thế tục, hãy đoạn trừ. Nếu có dục, có niệm nào y trên vô dục, hãy tập, hãy tu, hãy phát triển rộng lớn. Phá-quần-na, ngươi nên học như vậy.”

Rồi Thế Tôn hỏi các Tỳ-kheo:

“Các ông có phải chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình mà học đạo chăng?”

Các Tỳ-kheo đáp:

“Thưa phải, bạch Thế Tôn.”

Thế Tôn lại bảo:

“Các ông chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, mà học đạo, hãy học như thế này, nếu có dục, có niệm nào y trên thế tục, hãy đoạn trừ. Nếu có dục, có niệm nào y trên vô dục, hãy tập, hãy tu, hãy phát triển rộng lớn. Các ngươi hãy học như vậy.

MA 193 - T26 0744b01–b09 · Việt: Tuệ Sỹ (ma193/vi/tue_sy)

Các Tỳ-kheo thuở trước: nhất tọa thực và ảnh dụ cỗ xe

Thế Tôn nhắc lại một thời trước: Ngài đã dạy các Tỳ-kheo, dù vị được nhiều người biết đến (多所知識; Tuệ Sỹ, chú 4: chỉ người nổi tiếng) hay ít người biết đến, tất cả hãy học nhất tọa thực (一坐食; chú 5: ăn một ngày một lần, Pāḷi ekāsana-bhojana). Học xong thì được sáu điều: vô vi, vô cầu (無為無求), không bệnh tật, thân thể nhẹ nhàng, khí lực dồi dào, an ổn sảng khoái. Các vị ấy đều học theo và được như vậy; họ làm vừa lòng Ta (可於我心), và Ta cũng không phải khuyên dạy, quở trách nhiều (我亦不多教訶). Nhân đó các Tỳ-kheo “sanh khởi suy niệm pháp tùy pháp hành” (生念向法次法; chú 6 đối chiếu với Pāḷi MN21 satuppādakaraṇīyaṁ… bhikkhusu — “cần khơi dậy chánh niệm nơi các Tỳ-kheo”).

Nhất tọa thực - MA 193 ¶13

昔時我曾告諸比丘:『汝等!若有比丘多所知識,若有比丘少所知識,彼一切盡學一坐食,學一坐食已,無為無求,無有病痛,身體輕便,氣力康強,安隱快樂。』彼諸比丘多所知識及少知識,盡學一坐食,學一坐食已,無為無求,無有病痛,身體輕便,氣力康強,安隱快樂。彼諸比丘可於我心,我亦不多教訶。諸比丘因此生念向法次法,

“Một thời, Ta đã từng nói với các Tỳ-kheo rằng, ‘Này các Tỳ-kheo, hoặc có Tỳ-kheo được nhiều người biết đến, hoặc có Tỳ-kheo ít được biết đến, tất cả các vị ấy hãy học nhất tọa thực. Học nhất tọa thực rồi, vô vi, vô cầu, không bệnh tật, thân thể nhẹ nhàng, khí lực dồi dào, an ổn sảng khoái.’ Các Tỳ-kheo ấy, hoặc được nhiều người biết đến, hoặc ít được người biết đến, tất cả đều học theo điều nhất tọa thực. Sau khi học theo điều nhất tọa thực, vô vi, vô cầu, không tật bệnh, thân thể nhẹ nhàng, khí lực dồi dào, an ổn, sảng khoái. Những Tỳ-kheo ấy hài lòng Ta. và Ta cũng không phải khuyên giáo, khiển trách nhiều. Các Tỳ-kheo nhân đó mà sanh khởi suy niệm pháp tùy pháp hành.

MA 193 - T26 0744b09–b17 · Việt: Tuệ Sỹ (ma193/vi/tue_sy)

Ảnh dụ thứ nhất là cỗ xe ngựa: người đánh xe ngồi lên, tay trái cầm cương, tay phải cầm roi, cho xe đi theo tám đường (隨八道行), muốn đến chỗ nào tùy ý. Các Tỳ-kheo thuở ấy cũng vậy: vừa lòng Ta, Ta không phải khuyên dạy, quở trách nhiều. (Bản Hán không giải thích “tám đường” là gì.)

Ảnh dụ cỗ xe - MA 193 ¶14

猶如馬車,御者乘之,左手執轡,右手執策,隨八道行,在意所至。如是諸比丘可於我心,我亦不多教訶。諸比丘因此生念向法次法,

“Cũng như người điều khiển chiếc xe ngựa, tay trái cầm cương, tay phải cầm roi, nó theo tám con đường mà đi, muốn đến nơi nào cũng được. Các Tỳ-kheo như vậy rất hài lòng Ta, và Ta cũng không phải khuyên giáo, khiển trách nhiều. Các Tỳ-kheo nhân đó sanh khởi suy niệm pháp tùy pháp hành.

MA 193 - T26 0744b17–b20 · Việt: Tuệ Sỹ (ma193/vi/tue_sy)

Ảnh dụ rừng cây sa-la

Ảnh dụ thứ hai: trên một khoảng đất tốt có rừng cây sa-la (娑羅樹林), người coi rừng thông minh, sáng suốt, không biếng nhác. Kinh kể đủ các việc người ấy làm: (1) tùy lúc chăm sóc gốc rễ cây sa-la; (2) thường xới đất, vun bón (數數鋤糞; bản Việt: “cào bừa những rác rưới”); (3) tưới nước; (4) chỗ cao thì đào xuống, chỗ thấp thì lấp đầy; (5) cỏ dại mọc bên cạnh thì nhổ bỏ; (6) cây mọc chung mà cong queo, xấu, không thẳng thì nhổ cả gốc đem ra ngoài; (7) cành mọc đâm ngang, cong thì chặt tỉa; (8) cây non mới mọc gần bên mà ngay thẳng, đẹp thì tùy lúc chăm sóc, xới bón, tưới nước. Nhờ vậy rừng sa-la trên đất tốt ấy ngày càng sầm uất (轉轉茂盛). Bản Hán dùng ảnh dụ này cho cùng một ý như cỗ xe: các Tỳ-kheo như thế làm vừa lòng Ta, Ta không phải khuyên dạy, quở trách nhiều.

Rừng sa-la - MA 193 ¶15

猶如良地有娑羅樹林,彼治林者,聰明黠慧而不懈怠,彼隨時治娑羅樹根,數數鋤糞,以水溉灌,高者掘下,下者填滿。若邊生惡草,薅除棄之,若並生曲戾惡不直者,拔根著外,若枝生橫曲,則落治之,若近邊新生調直好者,便隨時治,數數鋤糞,以水溉灌,如是彼良地娑羅樹林轉轉茂盛。如是諸比丘可於我心,我亦不多教訶。

“Cũng như khoảng đất tốt có rừng cây sa-la. Người dọn rừng kia thông minh sáng suốt, không biếng nhác, tùy lúc mà dọn sửa gốc rễ cây sa-la, thường cào bừa những rác rưới và luôn luôn tưới nước, san bằng chỗ cao, lấp bằng chỗ thấp, hai bên nếu cỏ dại mọc đầy thì nhổ bỏ đi, nếu cây nào cong queo, xấu xí, không ngay thẳng, thì nhổ gốc bỏ ra ngoài, nếu có nhánh nào đâm ngang và cong, thì chắt xuống hoặc uốn lại, nếu gần biên vừa mới mọc thêm cây nào đều đặn ngay thẳng, thì tùy lúc mà sửa soạn, thường cào bừa đi những rác rưới và thường tưới nước. Như vậy, trên khu đất tốt kia rừng cây sa-la càng ngày càng sầm uất. Cũng vậy các Tỳ-kheo làm hài lòng Ta và Ta cũng khỏi phải khuyến giáo, khiển trách nhiều.

MA 193 - T26 0744b20–b28 · Việt: Tuệ Sỹ (ma193/vi/tue_sy)

Thiện ngữ cung thuận vì viễn ly

Thế Tôn định nghĩa lại chữ thiện ngữ cung thuận (善語恭順) — dễ nói, dễ vâng lời. Ngài không gọi là thiện ngữ cung thuận người chỉ cung thuận vì y bát, ăn uống, giường chõng, thuốc thang và các vật dụng sinh sống (衣鉢、飲食、床榻、湯藥、諸生活具), vì không được những thứ ấy thì người đó quay lại không thiện ngữ, không cung thuận. Người thật sự thiện ngữ cung thuận là người như vậy vì viễn ly, nương viễn ly, sống trong viễn ly (為遠離、依遠離、住遠離).

Rồi Ngài giải thích vì sao: có người trông như khéo giữ mình, khéo đi đứng (善護善逝行; Tuệ Sỹ, chú 7: bản Tống-Nguyên-Minh chép 善遊行) chỉ vì người khác không nói lời ác với mình (因他無惡語言). Khi không ai nói lời ác, người ấy không sân, không hằn học, không ưu sầu vương vấn, không giận dữ, không lộ vẻ hung ác, và các Tỳ-kheo thấy vậy nghĩ: “Hiền giả này nhẫn nhục, ôn hòa, chịu đựng giỏi, khéo tự chế, khéo định, khéo trầm tĩnh.” Nhưng khi bị nói lời ác thì người ấy liền sân hận, hằn học, ưu phiền, ôm hận, lộ vẻ hung ác, và các Tỳ-kheo lại nghĩ: “Hiền giả này tính ác, nóng nảy, thô lỗ, không định, không tự chế, không trầm tĩnh.” Câu “Vì sao vậy?” ở cuối đoạn mở sang câu chuyện bà Tì-đà-đề.

Thiện ngữ vì viễn ly - MA 193 ¶16–17

彼我不說彼善語恭順,謂因衣鉢、飲食、床榻、湯藥、諸生活具故。所以者何?彼比丘若不得是還不善語恭順,成就不善語恭順法。「若有比丘為遠離、依遠離、住遠離,善語恭順,成就善語恭順法者,我說彼善語恭順。所以者何?或有一善護善逝行者,謂因他無惡語言也。若他不惡語言者,便不瞋恚,亦不憎嫉,不憂纏住,不憎嗔恚,不發露惡。彼諸比丘見已,便作是念:『此賢者忍辱溫和堪耐,善制善定善息。』若他惡語言者,便嗔恚憎嫉,而憂纏住憎恚發惡。彼諸比丘見已,便作是念:『此賢者惡性急弊麤獷,不定不制不息。』所以者何?

“Ta không nói các Tỳ-kheo là thiện ngữ, cung thuận, do nguyên nhân các nhu dụng sinh sống, y bát, ẩm thực, giường chõng. Vì sao vậy? Tỳ-kheo ấy nếu không nhận được các thứ ấy thì trả lại bằng sự không thiện ngữ cung thuận, mà lại bẩm thụ đức tánh không thiện ngữ cung thuận.

“Nếu có Tỳ-kheo vì viễn ly, y trên viễn ly, sống nơi viễn ly, mà thiện ngữ cung thuận, bẩm thụ đức tánh thiện ngữ cung thuận, Ta nói vị ấy thật sự là thiện ngữ cung thuận. Vì sao vậy? Ở đây, một Tỳ-kheo khéo thủ hộ, khéo an trú chỉ vì người khác không nói cộc cằn. Nếu người khác ăn nói cộc cằn thì không phẫn nộ, cũng không thù nghịch, cũng không ưu sầu, oán hận, không hằn học giận dữ, không lộ vẻ hung bạo. Các Tỳ-kheo kia sau khi thấy vậy bèn nghĩ rằng ‘Hiền giả thật là người nhẫn nhục, ôn hòa, giỏi chịu đựng, giỏi tự chủ, khéo định, khéo trầm tĩnh.’ Nếu người khác ăn nói cộc cằn thì liền hằn học, thù nghịch, ưu phiền, ôm hận, lộ vẻ hung dữ. Các Tỳ-kheo kia thấy vậy bèn nói ‘Hiền giả này ngoan cố, nóng nảy, thô lỗ, không định, không tự chủ, không trầm tĩnh.’ Vì sao vậy?

MA 193 - T26 0744b28–0744c12 · Việt: Tuệ Sỹ (ma193/vi/tue_sy)

(Lưu ý bản Việt: (a) danh sách vật dụng của bản Việt — “y bát, ẩm thực, giường chõng” — sót thuốc thang (湯藥) có trong Hán. (b) Quan trọng hơn, câu “Nếu người khác ăn nói cộc cằn thì không phẫn nộ…” sót chữ “không” nên đảo nghĩa: Hán là 若他不惡語言者,便不瞋恚 — “nếu người khác không nói lời ác thì không sân”. Ở đoạn áp dụng sau câu chuyện (¶24), chính bản Việt dịch đúng: “Khi người khác không nói lời cộc cằn, vị ấy không phẫn nộ”.)

Chuyện nữ gia chủ Tì-đà-đề và nữ tỳ Hắc

Để trả lời câu “Vì sao vậy?”, Thế Tôn kể chuyện một nữ gia chủ thuở xưa. Câu chuyện đi qua ba lần thử, mỗi lần nữ tỳ dậy trễ hơn, và cơn giận của bà chủ chỉ bùng ra ở lần cuối.

Sơ đồ ba lần thử của nữ tỳ Hắc theo bản Hán: không dậy sớm → bà chủ chỉ hỏi; dậy rất muộn → chỉ hỏi; ngủ tới xế chiều → mắng, trán nổi ba đường gân, cầm gậy lớn đánh vỡ đầu; kết cục tiếng tốt thành tiếng xấu

Tiếng tốt và ý định thử chủ

Nữ gia chủ Tì-đà-đề (鞞陀提; Tuệ Sỹ, chú 8: Pāḷi Vedehikā gahapatānī) rất giàu: nhiều tiền của, súc vật và sản nghiệp không kể xiết, có phong hộ và thực ấp, lúa gạo đầy đủ, cùng đủ thứ vật dụng. Bà được tiếng khắp nơi là người có sáu đức: nhẫn nhục, nhu thuận (chịu đựng), ôn hòa, khéo tự chế, khéo định tĩnh, khéo trầm tịnh (忍辱堪耐溫和,善制善定善息). Bà có một nữ tỳ tên Hắc (黑, “đen”; chú 9: Pāḷi Kāḷī dāsī), vốn là người hầu cận, ăn nói dịu dàng, ít nhiều làm việc thiện. Hắc nghĩ: chủ ta nổi tiếng như vậy, nay ta thử xem bà thật có sân hay thật không sân.

Tiếng tốt và ý định thử - MA 193 ¶18–19

比丘!昔時有居士婦,名鞞陀提,極大富樂,多有錢財,畜牧產業不可稱計,封戶、食邑、米穀豐饒,及若干種諸生活具。爾時,居士婦鞞陀提如是大有名稱,流布諸方,居士婦鞞陀提忍辱堪耐溫和,善制善定善息。爾時,居士婦鞞陀提有婢名黑,本侍者,有妙善言,少多行善。彼黑婢作是念:『我大家居士婦鞞陀提如是有大名稱,流布諸方,居士婦鞞陀提忍辱堪耐溫和,善制善定善息,我今寧可試大家居士婦鞞陀提,為實嗔、為實不嗔耶?』

“Này các Tỳ-kheo, có một nữ gia chủ tên là Tì-đà-đề, rất giàu sang sung sướng, có nhiều tiền tài, sản nghiệp súc mục không thể kể xiết, phong hộ thực ấp, lúa gạo đầy đủ, và biết bao nhu dụng sinh sống khác. Bấy giờ nữ gia chủ Tì-đà-đề được vang danh khắp nơi với tiếng tốt như vầy: ‘Nữ gia chủ Tì-đà-đề là người nhẫn nhục, nhu thuận, ôn hòa, giỏi tự chế, khéo định tĩnh, khéo trầm tịnh.’

“Bấy giờ nữ gia chủ ấy có một nữ tỳ tên là Hắc hầu hạ. Nữ tỳ ăn nói dịu dàng, ít nhiều hành thiện. Hắc nữ tỳ ấy bèn nghĩ rằng ‘Chủ nhân ta, nữ gia chủ Tì-đà-đề được vang danh khắp nơi với tiếng tốt như vầy: Nữ gia chủ Tì-đà-đề là người nhu thuận, nhẫn nhục, ôn hòa, giỏi tự chế, khéo định tĩnh, khéo trầm tịnh. Nay ta hãy thử xem chủ nhân nữ gia chủ Tì-đà-đề thật sự có sân hay không sân.’

MA 193 - T26 0744c12–c22 · Việt: Tuệ Sỹ (ma193/vi/tue_sy)

Lần thử thứ nhất: không dậy sớm — bà chủ chỉ hỏi

Hắc nằm ngủ, không dậy sớm. Bà chủ gọi: “Hắc tỳ, sao không dậy sớm?” — chỉ có vậy. Thế nhưng Hắc đã kết luận: bà chủ thật có sân, chứ không phải không sân; chỉ vì ta khéo lo liệu việc nhà, khéo quán xuyến, khéo giữ gìn mà bà mới có tiếng tốt như thế. Nàng quyết định thử lớn hơn.

Lần thử thứ nhất - MA 193 ¶20

於是,黑婢臥不早起。夫人呼曰:『黑婢!何不早起耶?』黑婢聞已,便作是念:『我大家居士婦鞞陀提實瞋,非不瞋也。但因我善能料理家業、善經營、善持故,令我大家居士婦鞞陀提如是有極大名稱,流布諸方,居士婦鞞陀提忍辱堪耐溫和,善制善定善息。我今寧可復更大試大家居士婦鞞陀提,為實嗔、為實不嗔耶?』

“Rồi Hắc nô tỳ nằm ngủ không dậy sớm. Phu nhân gọi dậy, ‘Hắc tỳ, sao ngươi không dậy sớm?’ Hắc tỳ nghe vậy bèn nghĩ rằng ‘Chủ nhân ta, nữ gia chủ Tì-đà-đề, sự thật có sân chứ không phải không sân, nhưng vì ta giỏi lo liệu việc nhà, giỏi quán xuyến và chu tất, khiến cho chủ ta nữ gia chủ Tì-đà-đề được vang danh với tiếng tốt như vầy: ‘Nữ gia chủ Tì-đà-đề là người nhẫn nhục, nhu thuận, ôn hòa, giỏi tự chế, khéo định tĩnh, khéo trầm tịnh.’ Nay ta hãy thử thách hơn nữa xem chủ ta, nữ gia chủ Tì-đà-đề thật sự có sân hay không sân.’

MA 193 - T26 0744c22–c29 · Việt: Tuệ Sỹ (ma193/vi/tue_sy)

Lần thử thứ hai: dậy rất muộn — bà chủ vẫn chỉ hỏi

Hắc nằm đến rất muộn không dậy (臥極晚不起). Bà chủ lại chỉ hỏi: “Sao dậy quá trễ vậy?” Hắc lại nghĩ y như lần trước, và quyết định thử thật lớn.

Lần thử thứ hai - MA 193 ¶21–22

於是,黑婢臥極晚不起。夫人呼曰:『黑婢!何以極晚不起耶?』黑婢聞已,作是念:『我大家居士婦鞞陀提實瞋,非不瞋也。但因我善能料理家業、善經營、善持故,令我大家居士婦鞞陀提如是有極大名稱,流布諸方,居士婦鞞陀提忍辱堪耐溫和,善制善定善息耳。我今寧可復更極大試大家居士婦鞞陀提,為實瞋、為實不瞋耶?』

“Rồi Hắc nữ tỳ ngủ không dậy sớm. Phu nhân gọi dậy, ‘Hắc tỳ, sao ngươi dậy quá trễ vậy?’

“Hắc nữ tỳ nghe vậy bèn suy nghĩ, ‘Chủ ta, nữ gia chủ Tì-đà-đề thật sự có sân chớ không phải không sân. Nhưng vì ta khéo lo liệu việc nhà, giỏi quán xuyến và chu tất, nên chủ ta nữ gia chủ Tì-đà-đề mới có được vang danh với tiếng tốt như vầy: ‘Nữ gia chủ Tì-đà-đề là người nhẫn nhục, nhu thuận, ôn hòa, giỏi tự chế, khéo định tĩnh, khéo trầm tịnh.’ Nay ta lại thử thách thật lớn, xem chủ ta, nữ gia chủ Tì-đà-đề thật sự có sân hay không sân.

MA 193 - T26 0744c29–0745a08 · Việt: Tuệ Sỹ (ma193/vi/tue_sy)

(Lưu ý bản Việt: câu đầu lần hai bản Việt lặp lại “ngủ không dậy sớm” như lần một; Hán là 臥極晚不起 — “nằm đến rất muộn không dậy”, tức trễ hơn lần trước, đúng như câu hỏi của bà chủ.)

Lần thử thứ ba: ngủ tới xế chiều — gậy lớn và cái đầu vỡ

Hắc ngủ tới xế chiều (晡時, giờ bô, buổi chiều; bản Việt: “xế trưa”) mới dậy. Bà chủ mắng bốn câu: sao ngủ tới giờ này; đã không tự làm lại không bảo người khác làm; con Hắc này không nghe ta dạy; con Hắc này khinh mạn ta. Rồi bà nổi giận lớn, sinh lòng hằn học, trán nổi ba đường gân (額三脉起), mặt nhăn lại, tự đi tới, 閉戶下關 (bản Việt hiểu là “đến cánh cửa đang đóng, rút then cửa”; chữ Hán cũng có thể đọc là “đóng cửa, cài then”), tay cầm gậy lớn (大杖) đánh vào đầu nàng, vỡ đầu chảy máu. Hắc mang cái đầu chảy máu chạy sang hàng xóm, lớn tiếng phân bua, kể lại nguyên lời mắng và việc bị đánh: “Các ngài hãy xem, người nhẫn nhục, chịu đựng, ôn hòa, khéo tự chế, khéo định, khéo trầm tịnh làm như vậy đấy!”

Lần thử thứ ba - MA 193 ¶23

於是,黑婢臥至晡時乃起。夫人呼曰:『黑婢!何以乃至晡時起,既不自作,亦不教作,此黑婢不隨我教,此黑婢輕慢於我。』便大瞋恚而生憎嫉,額三脉起,皺面自往,閉戶下關,手執大杖以打其頭,頭破血流。於是,黑婢頭破血流,便出語比隣,訟聲紛紜,多所道說:『尊等!見是忍辱行人堪耐溫和,善制善定善息行耶?罵我曰:「黑婢!何以乃至晡時起,既不自作,亦不教作,此黑婢不隨我教,此黑婢輕慢於我。」便大瞋恚而生憎嫉,額三脉起,皺面自來,閉戶下關,手執大杖以打我頭,頭破血流。』

“Rồi Hắc nữ tỳ ngủ đến xế trưa mới dậy. Phu nhân gọi: ‘Hắc tỳ, sao ngươi ngủ đến xế trưa mới dậy? Ngươi đã không chịu làm việc, cũng không bảo người khác làm. Con Hắc tỳ này không nghe ta dạy. Con Hắc tỳ này khinh mạn ta.’ Bèn thịnh nộ, hằn học, trán nổi ba đường gân, mặt mày nhăn nhó, tự mình đến cánh cửa đang đóng, rút then cửa, tay cầm gậy đánh vào đầu nữ tỳ. Nó vỡ đầu chảy máu. Với cái đầu máu chảy, Hắc nữ tỳ chạy qua nói với hàng xóm, lớn tiếng phân bua, nói xấu đủ điều rằng: ‘Này các ngài, hãy xem việc làm của người nhẫn nhục, nhu thuận, ôn hòa, giỏi tự chế, khéo định tĩnh, khéo trầm tịnh là như vậy chăng? Người ấy mắng chửi tôi: ‘Con Hắc tỳ này không nghe lời ta dạy, con Hắc tỳ này khinh mạn ta.’ Rồi thịnh nộ, trán nổi ba đường gân, mặt mày nhăn nhó, tự mình đi đến cánh cửa đang đóng, rút then cửa, tay cầm gậy, đánh vào đầu tôi, vỡ đầu chảy máu.’

MA 193 - T26 0745a08–a19 · Việt: Tuệ Sỹ (ma193/vi/tue_sy)
Minh hoạ: trong sân nhà giàu lúc chiều muộn, bà chủ Tì-đà-đề cau mày giận dữ, giơ cây gậy lớn trước cánh cửa đóng then; nữ tỳ Hắc vừa ngủ dậy quỳ đưa tay che đầu

Tiếng xấu thay tiếng tốt

Từ đó, nữ gia chủ Tì-đà-đề bị đồn xa với tiếng xấu: hung dữ, nóng nảy, thô lỗ, không tự chế, không định tĩnh, không trầm tịnh (惡性急弊麤獷,不定不制不息) — đúng sáu chữ ngược với sáu đức của tiếng tốt trước kia.

Tiếng xấu - MA 193 ¶23

爾時,居士婦鞞陀提如是便有極大惡名,流布諸方,居士婦鞞陀提惡性急弊麤獷,不定不制不息。

Bấy giờ, nữ gia chủ Tì-đà-đề được đồn xa với tiếng xấu như vầy: ‘Nữ gia chủ Tì-đà-đề hung dữ, nóng nảy, thô lỗ, không tự chế, không định tĩnh, không trầm tịnh.’

MA 193 - T26 0745a19–a21 · Việt: Tuệ Sỹ (ma193/vi/tue_sy)

Người khéo giữ chỉ vì không ai nói lời ác

Thế Tôn áp chuyện ấy vào người tu, nhắc lại gần như nguyên văn đoạn đã nói trước câu chuyện: có người khéo giữ mình, khéo đi, khéo đến chỉ vì người khác không nói lời cộc cằn. Khi không ai nói lời cộc cằn thì không phẫn nộ, không hằn học, và được các Tỳ-kheo khen là nhẫn nhục, ôn hòa, chịu đựng giỏi, khéo tự chế, khéo định tĩnh, khéo tịch tịnh; khi có người nói lời cộc cằn thì phẫn nộ, hằn học, và bị xem là hung dữ, nóng nảy, thô lỗ, không định tĩnh, không tự chế, không tịch tịnh. Hai lần nói ấy đóng khung câu chuyện bà Tì-đà-đề ở giữa.

Áp dụng câu chuyện - MA 193 ¶24

如是。或有一善護善逝行者,謂因他無惡語言也。若他不惡語言者,便不瞋恚,亦不憎嫉,不憂纏住,不增瞋恚,不發露惡。彼諸比丘見已,便作是念:『此賢者忍辱溫和堪耐,善制善定善息。』若他惡語言者,便瞋恚憎嫉而憂纏住,憎恚發惡。彼諸比丘見已,便作是念:『此賢者惡性急弊麤獷,不定不制不息。』

“Cũng vậy, ở đây, một người khéo thủ hộ, khéo đi, khéo đến, là do người khác không nói lời cộc cằn. Khi người khác không nói lời cộc cằn, vị ấy không phẫn nộ, không hằn học, không ưu phiền oán hận, không giận dữ thù nghịch, không lộ vẻ hung dữ. Các Tỳ-kheo kia thấy vậy, bèn nghĩ: ‘Hiền giả này là người nhẫn nhục, ôn hòa, giỏi chịu đựng, khéo tự chế, khéo định tĩnh, khéo tịch tịnh.’ Nếu khi có người khác nói lời cộc cằn bèn phẫn nộ, hằn học, ưu phiền oán hận, giận dữ, thù nghịch, lộ vẻ hung dữ, các Tỳ-kheo khác thấy vậy bèn nghĩ rằng: ‘Hiền giả này hung dữ, nóng nảy, thô lỗ, không định tĩnh, không tự chế, không tịch tịnh.’

MA 193 - T26 0745a21–a28 · Việt: Tuệ Sỹ (ma193/vi/tue_sy)

Năm con đường ngôn ngữ và bốn tâm vô lượng

Đây là đoạn then chốt. Thế Tôn nêu năm con đường ngôn ngữ mà người khác có thể dùng khi nói (若他說者):

#Người khác có thể nói……hoặc
1đúng thời (時)không đúng thời (非時)
2chân thật (真)không chân thật (非真)
3dịu dàng (軟)cứng cỏi (堅)
4từ hòa (慈)sân nhuế (恚)
5có nghĩa (有義)không có nghĩa (無義)

Chữ trong bản Hán Taishō ở đây là 互言道; Tuệ Sỹ (chú 10) đọc là 五言道 “năm con đường ngôn ngữ”, dẫn Tập dị môn túc luận (五語路) và Pāḷi MN21 pañca vacanapathā. Cặp thứ năm, theo chú 11, tương ứng Pāḷi atthasaṁhita / anatthasaṁhita — liên hệ hay không liên hệ mục đích.

Dù người ta nói theo cách nào, nếu tâm biến đổi hoặc miệng nói lời ác thì “Ta nói các ngươi do đó chắc chắn suy thoái” (我說汝等因此必衰). Cách học là: tâm không biến đổi, miệng không nói lời ác, hướng về chính người oán thù (向怨家人), duyên nơi người ấy mà khởi lòng từ mẫn; rồi tâm câu hữu với từ trải khắp một phương, hai, ba, bốn phương, bốn hướng phụ, trên, dưới — mười phương, bao trùm tất cả — không kết, không oán, không nhuế, không tranh, rộng lớn, vô lượng, khéo tu, biến mãn cả thế gian; và cũng vậy với bi, hỷ, xả.

Năm con đường ngôn ngữ - MA 193 ¶25–27

復次,有互言道,若他說者,或時或非時,或真或非真,或軟或堅,或慈或恚,或有義或無義。汝等!此互言道,若他說時,或心變易者,或口惡言者,我說汝等因此必衰,汝等當學此互言道。若他說時,心不變易,口無惡言,向怨家人緣彼起慈愍心,心與慈俱,遍滿一方成就遊。如是二三四方、四維上下,普周一切,心與慈俱,無結無怨,無恚無諍,極廣甚大,無量善修,遍滿一切世間成就遊。如是悲、喜心與捨俱,無結無怨,無恚無諍,極廣甚大,無量善修,遍滿一切世間成就遊,汝等當學如是。

“Lại nữa, có năm con đường của ngôn ngữ, hoặc nói đúng thời hay không đúng thời, hoặc nói chân thật hay không chân thật, hoặc nói dịu dàng hay cứng ngắt, hoặc nói từ hòa hay sân nhuế, hoặc nói có có nghĩa hay không có nghĩa.

Với năm con đường ngôn ngữ này, các ngươi nếu khi người khác nói mà với tâm bị biến đổi, có thể miệng phát ra lời nói cộc cằn, Ta nói các ngươi do đó mà bị suy thoái.

“Các người hãy học, với năm con đường ngôn ngữ này, khi người khác nói mà tâm không bị biến đổi, miệng không phát ra lời nói cộc cằn, hãy hướng đến kẻ thù nghịch, hãy duyên nơi kẻ thù nghịch mà khởi tâm từ mẫn, tâm tương ưng với từ biến mãn một phương, thành tựu và an trụ. Cũng vậy, hai, ba, bốn phương tứ duy, trên dưới, bao trùm tất cả, tâm tương ưng với từ, không kết, không oán, không nhuế, không tranh, rộng lớn, vô lượng, vô biên, khéo tu tập, biến mãn khắp cả thế gian, thành tựu an trụ. Cũng vậy, bi và hỷ. Tâm tương ưng với xả, không kết, không oán, không nhuế, không tranh, rộng lớn, vô lượng, vô biên khéo tu tập, biến mãn khắp cả thế gian, thành tựu an trụ. Các ngươi hãy học như vậy.

MA 193 - T26 0745a29–0745b11 · Việt: Tuệ Sỹ (ma193/vi/tue_sy)

(Lưu ý bản Việt: ở mục 5 bản Việt in “nói có có nghĩa”, lặp chữ “có”. Bản Pāḷi MN21 kê năm cặp theo thứ tự khác — cặp “lợi ích” đứng thứ tư, cặp “tâm từ/sân” đứng thứ năm.)

Khuôn chung của bốn ảnh dụ

Tiếp theo là bốn ảnh dụ (¶28–39), cùng một khuôn bốn bước. Khuôn được trích một lần dưới đây (lấy ảnh dụ đất lớn làm mẫu); ở từng ảnh dụ bên dưới chỉ trích phần riêng.

  1. Ảnh dụ: “Cũng như có người…” cầm [dụng cụ] đến, tuyên bố sẽ làm một việc không thể làm.
  2. Câu hỏi: “Ý các ngươi nghĩ sao (於意云何)? Người ấy bằng phương tiện ấy có làm được không?”
  3. Lời đáp của chư Tỳ-kheo: “Không thể, bạch Thế Tôn” — vì [đặc tính của đối tượng]; “người ấy chỉ tự gây phiền nhọc vô ích mà thôi” (但使彼人唐自疲勞也).
  4. Áp dụng (“Cũng vậy”, 如是): với năm con đường ngôn ngữ, tâm biến đổi hay miệng nói ác thì chắc chắn suy thoái; hãy học: tâm không biến đổi, miệng không nói ác, hướng về người đang nói (向言說者), duyên nơi người ấy khởi lòng từ mẫn, tâm hành như [đối tượng ấy] (心行如…), không kết, không oán, không nhuế, không tranh, rộng lớn, vô lượng, biến mãn khắp thế gian.
Sơ đồ bốn ảnh dụ và ảnh dụ lưỡi cưa trong MA193 theo thứ tự bản Hán: đất lớn, sông Hằng, hư không, túi da mèo — mỗi ảnh dụ có dụng cụ, việc muốn làm, lý do không làm được và tâm hành như đối tượng ấy; cuối cùng là lưỡi cưa bén với bốn tâm vô lượng
Khuôn mẫu một ảnh dụ - MA 193 ¶29–30

諸比丘答曰:「不也。世尊!所以者何?此大地甚深極廣而不可量,是故彼人以此方便,不能令此大地使作非地。世尊!但使彼人唐自疲勞也。」「如是,此互言道,若他說者,或時或非時,或真或不真,或軟或堅,或慈或恚,或有義或無義。汝等!此互言道,若他說時,或心變易者,或口惡言者,我說汝等因此必衰,汝等當學此互言道。若他說時,心不變易,口無惡言,向言說者,緣彼起慈愍心,心行如地,無結無怨,無恚無諍,極廣甚大,無量善修,遍滿一切世間成就遊,汝等當學如是。

Các Tỳ-kheo trả lời rằng:

“Không thể được bạch Thế Tôn! Vì sao vậy? Vì cõi đất này rất sâu rất rộng, không thể lường được. Cho nên người kia với phương tiện ấy không thể nào làm cho cõi đất này trở thành không phải đất. Bạch Thế Tôn, người ấy chỉ tự gây phiền nhọc vô ích mà thôi.”

“Cũng vậy, với năm con đường ngôn ngữ này mà khi người khác nói, đúng thời hay không đúng thời, chân thật hay không chân thật, dịu dàng hay cứng ngắt, từ hòa hay sân nhuế, nói có nghĩa hay không có nghĩa. Các ngươi đối với năm con đường ngôn ngữ này, khi người khác nói mà tâm biến đổi, hay miệng phát ra lời nói thô ác, Ta nói các ngươi do đó mà tất phải suy thoái. Các ngươi hãy học, với năm con đường của ngôn ngữ này. Khi người khác nói mà tâm không biến đổi, miệng không phát ra lời nói thô ác, hướng đến người nói ấy, duyên nơi người nói ấy mà khởi tâm từ mẫn, như mặt đất tâm hành không kết, không oán, không nhuế, không tranh, rộng lớn, vô lượng, vô biên, khéo tu tập, biến mãn khắp cả thế gian, thành tựu an trú. Các ngươi hãy học như vậy.

MA 193 - T26 0745b15–b26 · Việt: Tuệ Sỹ (ma193/vi/tue_sy)

Lưu ý: ở cả bốn ảnh dụ, phần áp dụng không nhắc lại mười phương và bi, hỷ, xả như lần dạy đầu (¶27) — chỉ nói “tâm hành như” đất, sông Hằng, hư không, túi da mèo. Đối tượng của lòng từ cũng đổi tên theo từng chỗ: lần dạy đầu là “người oán thù” (怨家人), ba ảnh dụ đầu là “người đang nói” (言說者), túi da mèo là “người đánh đập” (捶打人), lưỡi cưa là “người cắt xẻ” (割截人).

1. Đất lớn — người cầm cuốc lớn

Một người cầm cái cuốc lớn (大鏵鍬) đến, nói: “Tôi có thể làm cho đất lớn này thành không phải đất.” Người ấy làm ba việc: đào chỗ này chỗ kia (處處掘復掘), nhổ nước miếng, tiểu tiện làm dơ (唾溺污之), và nói lời ác (說惡語言): “Đất lớn hãy thành không phải đất!” Lý do không làm được: đất lớn rất sâu, rất rộng, không thể lường (甚深極廣而不可量). Áp dụng: tâm hành như đất (心行如地) — khung ở trên.

Đất lớn - MA 193 ¶28

猶如有人持大鏵鍬來,而作是語:『我能令此大地,使作非地。』彼便處處掘復掘,唾溺污之,說惡語言,作如是說:『令大地非地。』於意云何?彼人以此方便,能令此大地作非地耶?」

“Cũng như một người cầm cái cuốc rất lớn đến và nói rằng: ‘Tôi có thể làm cho cả mặt đất nay trở thành không phải đất.’ Người ấy bèn đào chỗ này, chỗ kia, rồi nhổ nước miếng, nước tiểu để làm dơ bẩn. Khi người nói lời thô ác nói như vầy: ‘Mong cả mặt đất này không phải là đất.’ Ý ngươi nghĩ sao? Người ấy do phương tiện ấy có thể làm cho mặt đất trở thành không phải mặt đất được chăng?”

MA 193 - T26 0745b11–b15 · Việt: Tuệ Sỹ (ma193/vi/tue_sy)

2. Sông Hằng — người cầm đuốc cỏ

Một người cầm cây đuốc cỏ rất lớn (大草炬), nói: “Tôi dùng đuốc cỏ này đun nóng sông Hằng cho sôi sục lên.” Lý do không làm được: sông Hằng rất sâu, rất rộng, không thể đo lường (甚深極廣,不可度量). Áp dụng: tâm hành như sông Hằng (心行如恒伽水).

Sông Hằng - MA 193 ¶31–32

猶如有人持大草炬,作如是語:『我以此草炬,用熱恒伽水,令作沸湯。』於意云何?彼人以此方便,能令恒伽水熱作沸湯耶?」諸比丘答曰:「不也。世尊!所以者何?世尊!彼恒伽水甚深極廣,不可度量。是故彼人以此方便,不能令恒伽水熱使作沸湯。世尊!但使彼人唐自疲勞也。」

“Cũng như một người cầm cây đuốc bằng cỏ rất lớn mà nói như vầy: ‘Tôi với cây đuốc bằng cỏ này đun nóng sông Hằng cho sôi sục lên.’ Các ngươi nghĩ sao? Người ấy bằng phương tiện ấy có thể làm cho sông Hằng nóng và sôi lên chăng?”

Các Tỳ-kheo trả lời rằng:

“Không thể được, bạch Thế Tôn! Vì sao vậy? Vì sông Hằng kia rất sâu, rất rộng không thể do lường được. Cho nên người ấy với phương tiện ấy không thể làm cho sông Hằng nóng và sôi sục lên được. Bạch Thế Tôn, người ấy chỉ tự gây phiền nhọc vô ích mà thôi.”

MA 193 - T26 0745b26–0745c03 · Việt: Tuệ Sỹ (ma193/vi/tue_sy)
Tâm hành như sông Hằng - MA 193 ¶33

汝等當學此互言道,若他說時,心不變易,口無惡言,向言說者,緣彼起慈愍心,心行如恒伽水,無結無怨,無恚無諍,極廣甚大,無量善修,遍滿一切世間成就遊,汝等當學如是。

Các ngươi hãy học năm con đường ngôn ngữ này, nếu khi người khác nói mà tâm không biến đổi, miệng không phát ra lời thô ác, hướng đến người ấy, duyên nơi người ấy, khởi tâm từ mẫn, tâm hành như sông Hằng, không kết, không oán, không nhuế, không tranh, rộng lớn, vô lượng vô biên, khéo tu tập, biến mãn khắp cả thế gian, thành tựu an trụ. Các người hãy học như vậy.

MA 193 - T26 0745c07–c11 · Việt: Tuệ Sỹ (ma193/vi/tue_sy)

(Lưu ý: trong phần áp dụng của ảnh dụ sông Hằng, bản Hán Taishō chép cặp thứ hai là 或嗔或不瞋 — “hoặc sân hoặc không sân” — thay vì “chân thật hay không chân thật” (或真或不真) như mọi lần khác; có thể là lỗi chép do hai chữ 嗔/真 gần nhau. Bản Việt vẫn dịch “chân thật hay không chân thật”.)

3. Hư không — thợ vẽ và học trò

Một thợ vẽ hay học trò của thợ vẽ (畫師、畫師弟子) cầm đủ các loại màu (種種彩), nói: “Tôi sẽ vẽ hình tượng lên hư không này, rồi tô màu.” Lý do không làm được: hư không có ba đặc tính — không phải sắc, không thể thấy, không có đối ngại (非色,不可見無對). Áp dụng: tâm hành như hư không (心行如虛空).

Hư không - MA 193 ¶34–35

猶如畫師、畫師弟子,持種種彩來,彼作是說:『我於此虛空畫作形像,以彩莊染。』於意云何?彼畫師、畫師弟子以此方便,寧能於虛空畫作形像,以彩莊染耶?」諸比丘答曰:「不也。世尊!所以者何?世尊!此虛空非色,不可見無對。是故彼畫師、畫師弟子以此方便,不能於虛空畫作形像,以彩莊染。世尊!但使彼畫師、畫師弟子唐自疲勞也。」

“Cũng như thợ vẽ hay đệ tử của thợ vẽ, tay cầm đủ các loại màu và nói như thế này: ‘Ở nơi hư không này, tôi vẽ lên các hình tượng.’ Rồi y tô lên các loại màu. Các ngươi nghĩ sao? Thợ vẽ hay đệ tử của thợ vẽ ấy, bằng phương tiện ấy, có thể vẽ lên hư không các hình tượng, rồi tô lên các loại màu này chăng?”

Các Tỳ-kheo đáp:

“Không thể, bạch Thế Tôn! Vì sao vậy? Hư không này không phải là vật sắc, không thể thấy, không có đối ngại. Do đó, thợ vẽ hay đệ tử của thợ vẽ, bằng phương tiện ấy không thể vẽ lên hư không các hình tượng rồi tô lên các loại màu. Thợ vẽ và đệ tử của thợ vẽ chỉ tự gây phiền nhọc vô ích mà thôi.”

MA 193 - T26 0745c11–c19 · Việt: Tuệ Sỹ (ma193/vi/tue_sy)
Minh hoạ: người thợ vẽ và học trò đứng trên đồi cỏ, cầm cọ và các bát màu, giơ cọ lên muốn vẽ hình vào khoảng trời trống không
Tâm hành như hư không - MA 193 ¶36

如是,此互言道,若他說者,或時或非時,或真或不真,或軟或堅,或慈或恚,或有義或無義。汝等!此互言道,若他說時,或心變易者,或口惡言者,我說汝等因此必衰。汝等當學此互言道,若他說時,心不變易,口無惡言,向言說者,緣彼起慈愍心,心行如虛空,無結無怨,無恚無諍,極廣甚大,無量善修,遍滿一切世間成就遊,汝等當學如是。

“Cũng vậy, bằng năm con đường ngôn ngữ này mà người khác nói, hoặc đúng thời hay không đúng thời, hoặc chân thật hay không chân thật, hoặc dịu dàng hay thô lỗ, hoặc từ hòa hay sân nhuế, hoặc có nghĩa hay không có nghĩa, các ngươi đối với năm con đường ngôn ngữ này mà khi người khác nói, tâm không biến đổi. Miệng không phát ra lời thô ác, hướng đến người khác nói, duyên nơi người khác nói, mà khởi tâm từ mẫn, tâm hành hư không, không kết, không oán, không nhuế, không tranh, rộng lớn, vô lượng, vô biên, khéo tu tập, biến mãn khắp cả thế gian, thành tựu an trụ. Các ngươi hãy học như vậy.

MA 193 - T26 0745c19–c27 · Việt: Tuệ Sỹ (ma193/vi/tue_sy)

(Lưu ý bản Việt: ở phần áp dụng này, bản Việt sót cả vế răn — “khi người khác nói mà tâm biến đổi, hay miệng nói lời ác, Ta nói các ngươi do đó chắc chắn suy thoái” — và nối thẳng sang vế “tâm không biến đổi”. Hán có đủ: 或心變易者,或口惡言者,我說汝等因此必衰.)

4. Túi da mèo — khi bị đánh

Một túi bằng da mèo đã được thuộc mềm, rất mềm, hết tiếng kêu, không còn tiếng kêu (chữ Hán chỉ tiếng kêu là một chữ hiếm, bản CBETA ghi bằng cách ghép [車/瓦]; bản Việt dịch “tiếng xì xộp”). Có người đến làm năm việc: nắm tay đấm, ném đá, đánh gậy, chém dao, đập xuống đất (以手拳扠,石擲杖打,或以刀斫,或撲著地). Nó có còn kêu nữa không? Không, vì nó đã được thuộc mềm. Điểm riêng của ảnh dụ này trong bản Hán: phần áp dụng không nói về năm con đường ngôn ngữ mà nói về bị người khác đánh: khi bị đấm, ném đá, đánh gậy, chém dao (拳扠石擲,杖打刀斫) mà tâm biến đổi hay miệng nói ác thì chắc chắn suy thoái; hãy hướng về người đánh đập khởi lòng từ mẫn, tâm hành như túi da mèo (心行如猫皮囊).

Túi da mèo - MA 193 ¶37–38

猶如猫皮囊柔治極軟,除[車/瓦][車/瓦]聲,無[車/瓦][車/瓦]聲。彼或有人以手拳扠,石擲杖打,或以刀斫,或撲著地,於意云何?彼猫皮囊柔治極軟,除[車/瓦][車/瓦]聲,無[車/瓦][車/瓦]聲,彼寧復有[車/瓦][車/瓦]聲耶?」諸比丘答曰:「不也。世尊!所以者何?世尊!彼猫皮囊柔治極軟,除[車/瓦][車/瓦]聲,無[車/瓦][車/瓦]聲。是故無復有[車/瓦][車/瓦]聲。」

“Cũng như một cái túi bằng da mèo đã được thuộc mềm, rất mềm nhũn, hết tiếng xì xộp, không còn tiếng xì xộp, và có một người hoặc nắm hoặc đấm, hoặc lấy đá chọi, hoặc dùng gậy đánh, hoặc lấy dao chém, hoặc đập xuống đất. Các ngươi nghĩ sao? Cái túi da mèo đã được thuộc mềm, rất mềm nhũn, làm hết tiếng xì xộp, không còn tiếng xì xộp, bấy giờ lại phát ra tiếng kêu xì xộp nữa chăng?”

Các Tỳ-kheo đáp:

“Không thể được, bạch Thế Tôn! Vì sao vậy? Vì cái túi ấy bằng da mèo đã được thuộc mềm, rất mềm nhũn, làm hết tiếng xì xộp, không còn tiếng xì xộp nữa, cho nên nó không còn phát ra tiếng xì xộp nữa.”

MA 193 - T26 0745c27–0746a05 · Việt: Tuệ Sỹ (ma193/vi/tue_sy)
Khi bị đánh - MA 193 ¶39

如是。諸比丘!若有他人拳扠石擲,杖打刀斫,汝等若為他人拳扠石擲,杖打刀斫時,或心變易者,或口惡言者,我說汝等因此必衰。汝等當學,若為他人拳扠石擲,杖打刀斫時,心不變易,口不惡言,向捶打人緣彼起慈愍心,心行如猫皮囊,無結無怨,無恚無諍,極廣甚大,無量善修,遍滿一切世間成就遊,汝等當學如是。

“Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, nếu có người khác, nắm tay đấm các ngươi, hoặc vác đá chọi, hoặc xách gậy đánh, hoặc lấy dao chém các ngươi, nếu khi bị người khác nắm tay đấm, vác đá chọi, dùng gậy đánh, lấy dao chém, mà tâm biến đổi, hoặc miệng phát ra lời thô ác, Ta nói các ngươi nhân đó tất bị suy thoái. Các ngươi hãy học như vậy. Nếu bị người khác nắm tay đấm, vác đá chọi dùng gậy đánh, lấy dao chém, tâm không biến đổi, miệng không phát ra lời thô ác, hướng đến người đánh đập, duyên nơi người đánh đập mà khởi tâm từ mẫn, tâm hành như cái túi da mèo, không kết, không oán, không nhuế, không tranh, rộng rãi, vô lượng, vô biên, khéo tu tập, biến mãn khắp cả thế gian, thành tựu an trụ. Các ngươi hãy học như vậy.

MA 193 - T26 0746a05–a12 · Việt: Tuệ Sỹ (ma193/vi/tue_sy)

Bảng tổng hợp bốn ảnh dụ

#Người kia mangMuốn làmVì sao không đượcÁp dụng choTâm hành như
1cuốc lớnlàm đất lớn thành không-đất (đào, nhổ, tiểu, nói ác)đất rất sâu, rất rộng, không lườngnăm con đường ngôn ngữđất (如地)
2đuốc cỏ lớnđun sông Hằng sôi lênsông rất sâu, rất rộng, không lườngnăm con đường ngôn ngữsông Hằng (如恒伽水)
3đủ loại màu (thợ vẽ, học trò)vẽ hình tượng lên hư khônghư không phi sắc, không thể thấy, không đối ngạinăm con đường ngôn ngữhư không (如虛空)
4(túi bị) đấm, ném đá, gậy, dao, đập đấtlàm túi da mèo kêu lạitúi đã thuộc mềm, hết tiếngbị đấm, ném đá, gậy, daotúi da mèo (如猫皮囊)

Cả bốn lần chư Tỳ-kheo đều đáp “Không thể, bạch Thế Tôn”, ba lần đầu đều kết bằng cùng một câu: người ấy chỉ tự gây phiền nhọc vô ích.

Ảnh dụ lưỡi cưa bén

Ảnh dụ cuối không theo khuôn hỏi–đáp. Thế Tôn nói thẳng: nếu giặc cướp đến, dùng lưỡi cưa bén cắt xẻ từng đốt thân thể (以利鋸刀節節解截), mà tâm biến đổi hay miệng nói ác, thì chắc chắn suy thoái. Hãy học: tâm không biến đổi, miệng không nói ác, hướng về người cắt xẻ khởi lòng từ mẫn, rồi tâm câu hữu với từ trải khắp mười phương, và cũng vậy với bi, hỷ, xả — đúng như lần dạy đầu ở ¶27. Tuệ Sỹ (chú 12) ghi tên thí dụ là 利鋸刀喻 “lợi cứ đao dụ”, Pāḷi kakacūpama — ẩn dụ lưỡi cưa, cũng là tên bản Pāḷi.

Lưỡi cưa bén - MA 193 ¶40

若有賊來,以利鋸刀節節解截,汝等若有賊來,以利鋸刀節節解截時,或心變易者,或口惡言者,我說汝等因此必衰。汝等當學,若有賊來,以利鋸刀,節節解截,心不變易,口無惡言向割截人,緣彼起慈愍心,心與慈俱,遍滿一方成就遊。如是二三四方、四維上下,普周一切,心與慈俱,無結無怨,無恚無諍,極廣甚大,無量善修,遍滿一切世間成就遊。如是悲、喜心與捨俱,無結無怨,無恚無諍,極廣甚大,無量善修,遍滿一切世間成就遊,汝等當學如是。」

“Nếu có giặc cướp đến, bằng lưỡi cưa bén, cắt xẻ tay chân chi tiết. Này các ngươi, nếu có giặc cướp đến, dùng lưỡi cưa bén mà xẻ tay chân chi tiết các ngươi mà các ngươi hoặc tâm biến đổi, hoặc miệng phát ra lời thô ác, Ta nói các ngươi nhân đó tất bị suy thoái. Các ngươi hãy học như vậy: nếu có giặc cướp đến, dùng lưỡi cưa bén cưa xẻ tay chân các ngươi chi tiết, mà tâm không biến đổi, miệng không phát ra lời thô ác, hướng đến người cắt xả ấy, duyên nơi người cắt xả ấy mà khởi tâm từ mẫn, tâm tương ưng với từ, biến mãn một phương, thành tựu an trụ. Cũng vậy, hai, ba, bốn phương, tứ duy trên dưới, bao trùm tất cả tâm tương ưng với từ, không kết, không oán, không nhuế, không tránh, rộng lớn, vô lượng, vô biên, khéo tu tập, biến mãn khắp cả thế gian, thành tựu an trụ. Cũng vậy, bi và hỷ. Tâm tương ưng với xả, không kết, không oán, không nhuế, không tránh, rộng lớn, vô lượng, vô biên, khéo tu tập, biến mãn khắp cả thế gian, thành tựu an trụ. Các ngươi hãy học như vậy.”

MA 193 - T26 0746a12–a23 · Việt: Tuệ Sỹ (ma193/vi/tue_sy)

Ba lời tán thán đầu: không lời nào không chịu nổi

Thế Tôn khen chư Tỳ-kheo “Lành thay! Lành thay!” và dạy hãy thường xuyên nghĩ đến thí dụ lưỡi cưa bén như lời giáo huấn của Sa-môn (數數念利鋸刀喻沙門教). Ba lời khen đầu nói ba lợi ích:

  1. Các ngươi có còn thấy lời nói ác, không đáng ưa nào người khác nói với mình mà nghe rồi không chịu nổi không? — Chư Tỳ-kheo đáp: “Không có, bạch Thế Tôn.”
  2. Đi về phương Đông chắc được an lạc, không có các khổ hoạn; đi về phương Nam, phương Tây, phương Bắc cũng vậy.
  3. Ta còn không nói các thiện pháp của các ngươi chỉ dừng lại (我尚不說汝諸善法住), huống là nói đến suy thoái; chỉ có thiện pháp tăng trưởng ngày đêm, không suy thoái.
Ba lời tán thán - MA 193 ¶41–44

於是,世尊歎諸比丘曰:「善哉!善哉!汝等當數數念利鋸刀喻沙門教,汝等數數念利鋸刀喻沙門教已,汝等頗見他不愛惡語言向我,我聞已,不堪耐耶?」諸比丘答曰:「不也。世尊!」世尊復歎諸比丘曰:「善哉!善哉!汝等當數數念利鋸刀喻沙門教,汝等數數念利鋸刀喻沙門教已,若汝遊東方,必得安樂,無眾苦患;若遊南方、西方、北方者,必得安樂,無眾苦患。善哉!善哉!汝等當數數念利鋸刀喻沙門教,汝等數數念利鋸刀喻沙門教已,我尚不說汝諸善法住,況說衰退?但當晝夜增長善法而不衰退。

Rồi bấy giờ Đức Thế Tôn tán thán các Tỳ-kheo:

“Lành thay! Lành thay! Các Tỳ-kheo luôn luôn suy niệm thí về lưỡi cưa bén cho giáo huấn của Sa-môn. Các ngươi sau khi luôn luôn suy niệm về thí dụ lưỡi cưa bén cho giáo huấn của Sa-môn rồi, các ngươi há còn thấy rằng: Người kia nói lời thô ác không khả ái đối với ta, sau khi ta nghe không thể chịu đựng nổi chăng?”

Các Tỳ-kheo đáp:

“Không có, bạch Thế Tôn!”

Đức Thế Tôn lại tán thán các Tỳ-kheo:

“Lành thay! Lành thay! Các ngươi hãy luôn luôn suy niệm về thí dụ lưỡi cưa bén cho giáo huấn Sa-môn. Sau khi luôn luôn suy niệm về thí dụ lưỡi cưa bén cho giáo huấn Sa-môn, các ngươi nếu sống ở phương Đông, chắc chắn được an lạc, không có các khổ nạn. Nếu sống ở phương Nam, phương Tây và phương Bắc, cũng chắc chắn được an lạc, không có các khổ hoạn.

“Lành thay! Lành thay! Các ngươi luôn luôn suy niệm về thí dụ lưỡi cưa bén cho giáo huấn Sa-môn. Các ngươi sau khi suy niệm về thí dụ lưỡi cưa bén cho giáo huấn Sa-môn, đối với các thiện pháp các ngươi đã an trụ, Ta còn không nói, huống nữa là nói đến sự suy thoái. Chỉ còn sự tăng trưởng thiện pháp ngày đêm, chứ không còn sự suy thoái nữa.

MA 193 - T26 0746a23–0746b05 · Việt: Tuệ Sỹ (ma193/vi/tue_sy)

(Lưu ý bản Việt: câu thứ ba bản Việt dịch “đối với các thiện pháp các ngươi đã an trụ, Ta còn không nói, huống nữa là nói đến sự suy thoái”; câu Hán 我尚不說汝諸善法住,況說衰退 có thể hiểu sát hơn là “Ta còn không nói các thiện pháp của các ngươi [chỉ] dừng lại, huống là nói suy thoái” — nghĩa này khớp với câu tiếp theo: thiện pháp chỉ tăng trưởng ngày đêm.)

Kết kinh

Lời khen thứ tư là lời hứa về quả chứng: ai thường nghĩ đến thí dụ lưỡi cưa bén thì trong hai quả chắc được một (於二果中必得其一) — hoặc ngay đời hiện tại chứng cứu cánh trí (究竟智), hoặc nếu còn dư sót thì chứng A-na-hàm (阿那含, bất hoàn). Phật nói như vậy; các Tỳ-kheo nghe xong hoan hỷ phụng hành.

Kết kinh - MA 193 ¶45–46

善哉!善哉!汝等當數數念利鋸刀喻沙門教,汝等數數念利鋸刀喻沙門教已,於二果中必得其一,或於現世得究竟智,或復有餘得阿那含。」佛說如是。彼諸比丘聞佛所說,歡喜奉行。

“Lành thay! Lành thay! Các ngươi hãy luôn luôn suy niệm về thí dụ lưỡi cưa bén cho giáo huấn Sa-môn; các ngươi sau khi luôn luôn suy niệm về thí dụ lưỡi cưa bén cho giáo huấn Sa-môn rồi, trong hai quả chắc chắn được một. Hoặc ngay trong đời hiện tại mà chứng đắc Cứu cánh trí, hoặc chứng A-na-hàm nếu còn hữu dư y.”

Đức Phật thuyết như vậy, các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật dạy xong, hoan hỷ phụng hành.

MA 193 - T26 0746b05–b10 · Việt: Tuệ Sỹ (ma193/vi/tue_sy)

Giải thích

1. Gốc là dục và niệm dựa vào đời sống gia đình. Chuyện mở đầu là chuyện riêng — một vị Tỳ-kheo thân với các ni, ai chê là nổi nóng — nhưng Thế Tôn không phân xử ai đúng ai sai. Ngài chỉ ra gốc: những dục và niệm còn dựa vào “nhà” (依家), và đặt bên cạnh một mặt tích cực mà bản Hán nói rõ: dục và niệm dựa vào vô dục thì phải tập, phải tu, phải làm cho rộng lớn. Rồi Ngài hỏi lại cả chúng đúng câu đã hỏi Phá-quần-na: lời răn một người thành bài học cho mọi người đã xuất gia vì chí tín.

2. Hai hình mẫu của người dễ dạy. Trước khi nói về người dễ nổi giận, kinh dựng hai hình ảnh của người vâng lời mà không cần bị quở: cỗ xe trong tay người đánh xe giỏi, và rừng sa-la được chăm đúng cách nên ngày càng sầm uất. Rồi kinh định nghĩa: “thiện ngữ cung thuận” vì được y bát, cơm ăn thì không phải thật; thật là khi người ta cung thuận vì viễn ly.

3. Hiền vì chưa ai chọc. Câu chuyện bà Tì-đà-đề được đặt giữa hai lần nói cùng một ý: có người trông như khéo giữ mình chỉ vì không ai nói lời ác với họ. Trong bản Hán, hai lần đầu bà chủ chỉ hỏi, chưa hề lộ giận — vậy mà nữ tỳ đã đoán đúng: tiếng hiền của bà có được là nhờ việc nhà có người lo chu đáo. Lần thứ ba, khi mọi việc đều trái ý, sáu đức của tiếng tốt đổi thành sáu chữ của tiếng xấu chỉ trong một buổi chiều.

4. Không đòi lời người khác phải đúng. Năm con đường ngôn ngữ kê đủ cả hai phía: người ta có thể nói đúng lúc hay sai lúc, thật hay không thật, dịu hay cứng, với lòng từ hay với sân, có nghĩa hay vô nghĩa. Cách học không đổi theo các cặp ấy: dù người kia nói thế nào, việc của mình là giữ tâm không biến đổi và hướng lòng từ về chính người ấy — kinh gọi người ấy lần lượt là “người oán thù”, “người đang nói”, “người đánh đập”, “người cắt xẻ”. Điều kinh răn không nằm ở lời người kia đúng hay sai, mà ở tâm và miệng của người nghe: tâm có biến đổi không, miệng có nói lời ác không.

5. Bốn ảnh dụ, bốn phẩm chất của tâm. Đất thì quá sâu rộng để bị đào cho hết hay làm dơ cho thành không-đất; sông Hằng thì quá lớn để một bó đuốc làm sôi; hư không thì không có chỗ cho màu bám; túi da mèo đã thuộc mềm thì đánh cách nào cũng không còn kêu. Có thể đọc bốn hình ảnh ấy như bốn phẩm chất của một tâm không bị lời nói hay đòn roi làm biến đổi: rộng lớn, không bị đốt nóng, không chỗ bám, mềm đến mức không còn phản ứng. Riêng túi da mèo, bản Hán chuyển hẳn từ lời nói sang đòn đánh, mở đường cho ảnh dụ lưỡi cưa ngay sau.

6. Từ nhẫn nhục đến quả chứng. Ở hai đầu của chuỗi ảnh dụ — lần dạy đầu về năm con đường ngôn ngữ và ảnh dụ lưỡi cưa — bản Hán trải đủ bốn tâm vô lượng ra mười phương. Và kinh không dừng ở lợi ích an lạc: lời khen cuối nói thẳng rằng thường nghĩ đến thí dụ lưỡi cưa thì chắc được cứu cánh trí hoặc A-na-hàm. Nhẫn nhục ở đây không phải chỉ là đức tính xã giao, mà là một con đường tu dẫn đến giải thoát.

Đối chiếu các tạng

Theo danh mục tương đương của SuttaCentral (API parallels, tra ngày 20/10/2026), MA193 có hai bản tương đương: MN21 Kakacūpama Sutta (Kinh Ví Dụ Cái Cưa) và EA 50.8 (Tăng nhất A-hàm). Bài này đối chiếu chi tiết với MN21 (Pāḷi + bản Việt HT. Thích Minh Châu; xem bài song tạng MN21 - Kinh Ví Dụ Cái Cưa). EA 50.8 chưa đối chiếu vì kho của site chưa có bản này. SuttaCentral ghi EA 50.8 là tương đương đầy đủ, nhưng theo Anālayo, EA 50.8 chỉ có phần đầu giống (chuyện Phagguna thân cận các ni); sau đó Phagguna tuyên bố dục không phải là chướng ngại, và phần còn lại giống MN22 (ảnh dụ con rắn) — tức chỉ là bản tương đương một phần (A Comparative Study of the Majjhima-nikāya, vol. 1, tr. 145, chú 2 — thứ cấp). Anālayo cũng ghi (dẫn Anesaki): Đại trí độ luận (T1509) nhắc đến kinh này với tên 破群那經 (sđd., tr. 145, chú 2), và ảnh dụ lưỡi cưa còn được nhắc lại ở MN28 cùng bản Hán MA30 (sđd., tr. 146, chú 10) — chưa đối chiếu các chỗ ấy.

Sơ đồ đối chiếu MA193 và MN21: người trình lên, lời dạy Phagguna, chỗ đặt đoạn dễ dạy, ba lần thử, thứ tự bốn ảnh dụ, túi da mèo, cách rải tâm và phần kết
ĐiểmMA193 (Hán)MN21 (Pāḷi)
Tên kinhTheo tên nhân vật: 牟犁破群那經; trong kinh gọi thí dụ là 利鋸刀喻Kakacūpama — Ví dụ cái cưa
Nơi chốn舍衛國,在勝林給孤獨園Sāvatthī, Jetavana, vườn Anāthapiṇḍika
Người trình lênsố đông Tỳ-kheo (眾多比丘)một Tỳ-kheo (aññataro bhikkhu)
Người đi gọimột Tỳ-kheo, đảnh lễ, nhiễu ba vòng rồi đimột Tỳ-kheo, nhân danh Thế Tôn (“bậc Đạo Sư gọi Hiền giả”)
Lời dạy Phá-quần-nađoạn dục, niệm dựa vào gia đình; tập, tu dục, niệm dựa vào vô dục; rồi hỏi và dạy tất cả chư Tỳ-kheo y như vậybỏ dục, tư duy dựa vào gia đình; giữ tâm trong bốn trường hợp: ni bị chê, ni bị đánh, mình bị chê, mình bị đánh
Nhất tọa thựcdạy cả vị nhiều hay ít người biết; sáu điều lợi (vô vi, vô cầu…)“Ta ăn một bữa”, năm điều lợi
Cỗ xetay trái cương, tay phải roi, theo tám đườngđất bằng, ngã tư, roi đặt sẵn; đi tới, đi lui
Rừng sa-ladùng cho ý “vừa lòng Ta”; tả tám việc chăm rừngdùng cho lời khuyên bỏ bất thiện; chặt cây cong, dọn rừng, chăm cây thẳng
Đoạn “dễ dạy”trước chuyện bà chủ; thiện ngữ cung thuận vì viễn lysau chuyện bà chủ; dễ dạy vì kính Pháp
Bà chủ鞞陀提 Tì-đà-đề, rất giàu; sáu đứcVedehikā; ba đức: hiền thục, nhu thuận, ôn hòa
Nữ tỳ黑 Hắc: người hầu, ăn nói dịu dàng, ít nhiều làm thiệnKāḷī: khéo, siêng, việc chu toàn
Ba lần thửkhông dậy sớm → chỉ hỏi; dậy rất muộn → chỉ hỏi; ngủ tới xế chiều → mắng, trán nổi ba gân, cầm gậy lớn đánh vỡ đầudậy trễ → cau mày; trễ hơn → lời giận; trễ hơn nữa → cầm then cửa đánh bể đầu
Năm cách nóithời, chân, mềm/cứng, từ/nhuế, có nghĩathời, thật, dịu/thô, lợi ích, tâm từ/sân
Rải tâmlần dạy đầu và lưỡi cưa: từ ra mười phương, cùng bi, hỷ, xả; bốn ảnh dụ: “tâm hành như” đất…đến người ấy rồi khắp thế gian, chỉ tâm từ; bốn ảnh dụ: tâm “như” đất…
Thứ tự ảnh dụđất · sông Hằng · hư không · túi da mèođất · hư không · sông Hằng · túi da mèo
Đất lớncuốc lớn; đào, nhổ, tiểu, nói ácxẻng và thúng; đào, rải đất, nhổ, tiểu
Hư khôngthợ vẽ và học trò, đủ loại màu; phi sắc, không thấy, không đối ngạimột người, bốn màu; vô sắc, không thể thấy
Túi da mèotúi bị đấm, ném đá, gậy, dao, đập đất; áp dụng khi bị đánhngười cầm gậy hay mảnh sành; áp dụng cho năm cách nói
Lưỡi cưagiặc dùng lưỡi cưa bén cắt từng đốt; tâm đổi thì “chắc chắn suy thoái”cưa có cán hai đầu; khởi ý ác thì “không phải người làm theo lời Ta dạy”
Kếtbốn lần “Lành thay”: không lời nào không chịu nổi; an lạc bốn phương; thiện pháp tăng trưởng; một trong hai quả (cứu cánh trí hoặc A-na-hàm)không lời nào không nhẫn được; lợi ích, an lạc lâu dài

Hai bản khớp nhau ở khung chính: chuyện Phá-quần-na (Phagguna) thân cận các ni, các Tỳ-kheo thuở trước với hai ảnh dụ cỗ xe và rừng sa-la, chuyện bà chủ nổi tiếng hiền bị nữ tỳ thử ba lần, đoạn định nghĩa người dễ dạy, năm cặp cách nói, bốn ảnh dụ và ảnh dụ lưỡi cưa. Khác nhau ở chi tiết và nhấn mạnh: bản Pāḷi có bốn trường hợp bị chê, bị đánh trong lời dạy riêng cho Phagguna (Anālayo nhận đây là điểm chỉ bản Pāḷi có), còn bản Hán đưa việc bị đánh vào ảnh dụ túi da mèo; bản Hán đổi chỗ hai ảnh dụ giữa (Anālayo, sđd., tr. 146, bảng 3.1), rải đủ bốn tâm vô lượng theo công thức mười phương (sđd., chú 9), và kết bằng lời hứa quả chứng mà bản Pāḷi không có.

Tra cứu trong bài

Nguồn tham khảo

  • Hán — Trung A-hàm 193, 牟犁破群那經, Taishō T26, tr. 744a–746b (CBETA): ma193/lzh/taisho — SuttaCentral
  • Việt — HT. Tuệ Sỹ dịch: ma193/vi/tue_sy — SuttaCentral
  • Tuệ Sỹ (dịch, chú), Kinh Trung A-hàm, tập III, “193. Kinh Mâu-lê-phá-quần-na”, chú thích 1–13 (bản có cước chú; chú 3–5 ở tr. 666, chú 6–7 tr. 667, chú 8–9 tr. 668, chú 10–11 tr. 669, chú 12 tr. 673, chú 13 tr. 674).
  • Danh mục kinh tương đương: MA 193 — SuttaCentral (API parallels, tra ngày 20/10/2026).
  • Bản Pāḷi tương đương — MN 21 Kakacūpama Sutta: mn21 Pāḷi — SuttaCentral · bản Việt HT. Thích Minh Châu: mn21/vi/minh_chau — SuttaCentral
  • Bài song tạng trên site: MN21 - Kinh Ví Dụ Cái Cưa (Kakacūpama Sutta)
  • Anālayo, A Comparative Study of the Majjhima-nikāya, vol. 1, tr. 145–147, chú 2–10 (Dharma Drum, 2011) — thứ cấp; các ý về EA 50.8, T1509, MN28/MA30 đều dẫn qua sách này, chưa đối chiếu bản gốc.
  • Âm Hán-Việt tên kinh trong đường dẫn (mâu lê phá quần na kinh) do chuyển bằng kit/tools/hanviet.json. /hanviet.json. g kit/tools/hanviet.json`.

📖 Nguồn / bản quyền: SuttaCentral — MA 193 牟犁破群那經 (Taishō T26, tr. 744a–746b) + bản Việt Tuệ Sỹ