MN95 - Kinh Cankì (Caṅkī Sutta)
Tóm tắt nhanh: Ở làng Bà-la-môn Opāsāda nước Kosala, đại Bà-la-môn Caṅkī — người cai quản cả ngôi làng do vua Pasenadi ban tặng — gạt lời can của khoảng năm trăm Bà-la-môn (họ nêu mười lý do ông không nên hạ mình) bằng hai mươi lý do để chính ông phải đến gặp Đức Phật. Tại đó, thanh niên Kāpaṭika mười sáu tuổi nêu lời khẳng định của các Bà-la-môn rằng chú thuật Veda cổ truyền là “chỉ đây là sự thật, ngoài ra đều là sai lầm” và hỏi Ngài nói sao; Thế Tôn hỏi lại ba lần — có Bà-la-môn nào, vị thầy nào trong bảy đời, vị nào trong mười ẩn sĩ khai tổ đã nói “tôi biết, tôi thấy” — rồi ví truyền thống ấy như một hàng người mù nắm nhau mà đi. Ngài chỉ ra năm chỗ dựa (tin, ưa thích, truyền nghe, suy xét lý lẽ, chấp nhận một quan điểm sau khi suy ngẫm) đều có thể đúng mà cũng có thể sai, rồi phân ba tầng: hộ trì chân lý (nói “đây là niềm tin của tôi” mà không kết luận một chiều), giác ngộ chân lý (xét vị thầy qua tham, sân, si rồi đi từ niềm tin đến chỗ tự thân chứng và thấy bằng tuệ) và chứng đạt chân lý (lặp lại, tu tập chính các pháp ấy). Được Kāpaṭika hỏi ngược từng bước, Ngài kể mười hai pháp nâng đỡ nhau, từ tinh cần lùi về tới lòng tin. Kāpaṭika — người từng nghĩ Sa-môn chỉ là “trọc đầu, tiện nô” — xin quy y Tam Bảo trọn đời.
Bối cảnh
Thế Tôn đang du hành trong nước Kosala cùng đại chúng tỳ-kheo, đến làng Bà-la-môn Opāsāda và trú ở rừng chư Thiên (devavana), một rừng cây sāla phía bắc làng. Theo Chú giải, khu rừng có tên “rừng chư Thiên” vì dân làng dâng lễ cúng chư thiên ở đó (Ps (PTS) III 414).
Làng thuộc quyền Bà-la-môn Caṅkī. Kinh tả bằng một chuỗi chữ cố định: đông người và thú (sattussada), đủ cỏ, củi, nước, đủ lúa gạo; là đất vua ban (rājabhogga), do vua Pasenadi xứ Kosala tặng như một ân tứ của vua (rājadāya) và một phần thí cao quý (brahmadeyya). Chú giải nói ở làng ấy Caṅkī “cho dựng lọng trắng, sống theo lối một vị vua”, và brahmadeyya là của đã cho thì không lấy lại (Ps (PTS) III 415).
Trong kinh, người Bà-la-môn gọi nhau là bho (“Hiền giả”, “Tôn giả” trong bản Việt) và gọi Đức Phật là samaṇo gotamo — “Sa-môn Gotama” — cách xưng hô của người ngoài đạo, giữ nguyên cho đến lời quy y cuối kinh (bho gotama).
Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ bhagavā kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena opāsādaṁ nāma kosalānaṁ brāhmaṇagāmo tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā opāsāde viharati uttarena opāsādaṁ devavane sālavane. Tena kho pana samayena caṅkī brāhmaṇo opāsādaṁ ajjhāvasati sattussadaṁ satiṇakaṭṭhodakaṁ sadhaññaṁ rājabhoggaṁ raññā pasenadinā kosalena dinnaṁ rājadāyaṁ brahmadeyyaṁ.
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn du hành trong nước Kosala cùng với Ðại chúng Tỷ-kheo, và đi đến một làng Bà-la-môn của dân chúng Kosala , tên là Opasada.
Thế Tôn trú tại Opasada, tại rừng chư Thiên (Devavana), rừng cây sāla (Salavana), phía Bắc làng Opasada. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Canki trú ở Opasada, một chỗ dân cư đông đúc, cây cỏ, ao nước, lúa gạo phì nhiêu, một vương địa do vua Pasenadi , vua nước Kosala cấp, một ân tứ của vua, một tịnh ấp.
Pāḷi: mn95:1.1–2.1 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn95/vi/minh_chau)Kinh là bài thứ năm của phẩm Bà-la-môn (Brāhmaṇavagga) — dòng cuối ghi “Caṅkīsuttaṁ niṭṭhitaṁ pañcamaṁ”. Bản dịch Việt viết tên các nhân vật không dấu (Canki, Opasada, Kapathika); bài này dùng chữ Pāḷi có dấu (Caṅkī, Opāsāda, Kāpaṭika) ở phần lời mình.
Dân Opāsāda kéo nhau ra rừng chư Thiên
Tin Sa-môn Gotama đến làng lan ra cùng với tiếng đồn quen thuộc về Ngài: chín danh hiệu (A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn), Ngài tự chứng rồi tuyên thuyết, giảng pháp hay ở đầu, giữa và cuối. Các Bà-la-môn gia chủ kết luận “tốt thay được thấy một vị A-la-hán như vậy”, rồi từng đoàn từng nhóm kéo ra phía bắc.
Assosuṁ kho opāsādakā brāhmaṇagahapatikā: “samaṇo khalu, bho, gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ opāsādaṁ anuppatto, opāsāde viharati uttarena opāsādaṁ devavane sālavane. Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato: ‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti. So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti. So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti. Sādhu kho pana tathārūpānaṁ arahataṁ dassanaṁ hotī”ti. Atha kho opāsādakā brāhmaṇagahapatikā opāsādā nikkhamitvā saṅghasaṅghī gaṇībhūtā uttarenamukhā gacchanti yena devavanaṁ sālavanaṁ.
Các Bà-la-môn gia chủ ở Opasada được nghe: “Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Sakya (Thích-ca) đang du hành ở Videha, cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị”. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Tôn giả Gotama : “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời và loài Người. Khi đã chứng ngộ, Ngài còn tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa đầy đủ, Ngài tuyên dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Tốt đẹp thay sự chiêm ngưỡng một vị A-la-hán như vậy!”.
Rồi các Bà-la-môn gia chủ ở Opasada, từng đoàn, từng đoàn lũ lượt đi ra khỏi Opasada và đi đến ngõ phía Bắc, rừng chư Thiên, rừng cây sāla .
Pāḷi: mn95:3.1–4.1 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn95/vi/minh_chau)Lưu ý bản dịch. Ở đoạn tin đồn, bản Việt ghi Thế Tôn “đang du hành ở Videha, cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị”. Pāḷi (kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ opāsādaṁ anuppatto) nói Ngài du hành ở Kosala cùng một đại chúng tỳ-kheo và đã đến Opāsāda; không có chữ Videha, cũng không có con số năm trăm. Lời người gác cửa ở đoạn sau trong bản Việt cũng thêm “khoảng năm trăm vị” mà Pāḷi không có.
Caṅkī trên lầu, sai người báo: “Hãy chờ ta”
Lúc ấy Caṅkī đang nghỉ trưa trên lầu. Thấy dân làng kéo đi, ông hỏi người hầu cận — Pāḷi gọi là khatta; bản Việt dịch “người Gác cửa”, Bhikkhu Sujato dịch butler (quản gia). Theo Chú giải, khatta là một viên quan có khả năng trả lời những câu được hỏi (Ps (PTS) III 416). Nghe đáp, Caṅkī sai người ấy ra bảo dân làng chờ, vì chính ông cũng sẽ đi yết kiến Sa-môn Gotama. Chú giải giải āgamentu là “hãy chờ một lát”.
Tena kho pana samayena caṅkī brāhmaṇo uparipāsāde divāseyyaṁ upagato. Addasā kho caṅkī brāhmaṇo opāsādake brāhmaṇagahapatike opāsādā nikkhamitvā saṅghasaṅghī gaṇībhūte uttarenamukhaṁ yena devavanaṁ sālavanaṁ tenupasaṅkamante. Disvā khattaṁ āmantesi: “kiṁ nu kho, bho khatte, opāsādakā brāhmaṇagahapatikā opāsādā nikkhamitvā saṅghasaṅghī gaṇībhūtā uttarenamukhā gacchanti yena devavanaṁ sālavanan”ti? “Atthi, bho caṅkī, samaṇo gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ opāsādaṁ anuppatto, opāsāde viharati uttarena opāsādaṁ devavane sālavane. Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato: ‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti. Tamete bhavantaṁ gotamaṁ dassanāya gacchantī”ti. “Tena hi, bho khatte, yena opāsādakā brāhmaṇagahapatikā tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā opāsādake brāhmaṇagahapatike evaṁ vadehi: ‘caṅkī, bho, brāhmaṇo evamāha— āgamentu kira bhonto, caṅkīpi brāhmaṇo samaṇaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamissatī’”ti. “Evaṁ, bho”ti kho so khatto caṅkissa brāhmaṇassa paṭissutvā yena opāsādakā brāhmaṇagahapatikā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā opāsādake brāhmaṇagahapatike etadavoca: “caṅkī, bho, brāhmaṇo evamāha: ‘āgamentu kira bhonto, caṅkīpi brāhmaṇo samaṇaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamissatī’”ti.
Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Canki đi lên trên lầu để nghỉ trưa. Bà-la-môn Canki thấy các Bà-la-môn gia chủ ở Opasada từng đoàn, từng đoàn lũ lượt đi ra khỏi Opasada và đi đến ngõ phía Bắc, rừng chư Thiên, rừng cây sāla . Thấy vậy, Bà-la-môn Canki bèn gọi người gác cửa
—Này người Gác cửa, vì sao các Bà-la-môn gia chủ ở Opasada từng đoàn, từng đoàn lũ lượt đi ra khỏi Opasada và đi đến ngõ phía Bắc, rừng chư Thiên, rừng cây sāla như vậy?
—Thưa Tôn giả Canki, có Sa-môn Gotama , dòng họ Thích-ca, xuất gia từ gia tộc Thích-ca đang du hành trong nước Kosala cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Tôn giả Gotama : “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời và loài Người. Khi đã chứng ngộ, Ngài còn tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa đầy đủ, Ngài tuyên dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch”. Nay những người ấy đi đến yết kiến Tôn giả Gotama .
—Này người Gác cửa, hãy đi đến các Bà-la-môn gia chủ ở Opasada, khi đến nơi, hãy nói với những Bà-la-môn gia chủ: “Bà-la-môn Canki có nói: “Này các Hiền giả, hãy chờ đợi. Bà-la-môn Canki sẽ tự thân hành đến yết kiến Sa-môn Gotama ”.”
Pāḷi: mn95:5.1–6.10 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn95/vi/minh_chau)Pāḷi còn có thêm ba câu (6.8–6.10): người hầu vâng lời, đến chỗ dân làng và nói lại đúng lời nhắn “Caṅkī bảo các vị hãy chờ, Caṅkī cũng sẽ đến yết kiến Sa-môn Gotama”. Bản Việt không dịch đoạn này.
Năm trăm Bà-la-môn can ngăn: mười lý do
Lúc ấy có khoảng năm trăm Bà-la-môn từ nhiều xứ khác (nānāverajjakā) đang ở Opāsāda vì công việc riêng. Nghe tin, họ kéo đến hỏi; Caṅkī xác nhận. Họ can: không xứng đáng để ông đến gặp Sa-môn Gotama, chỉ xứng đáng để Sa-môn Gotama đến gặp ông. Mỗi lý do đi kèm câu điệp “do điểm này (imināpaṅgena)… trái lại, thật xứng đáng cho Sa-môn Gotama đến yết kiến Tôn giả Caṅkī”.
Theo Chú giải, ý họ là: hầu hết Bà-la-môn khác đã quy y Sa-môn Gotama, chỉ còn Caṅkī chưa đi; nếu ông đi, hẳn sẽ bị cuốn theo mà quy y, rồi cửa nhà ông sẽ không còn là nơi Bà-la-môn tụ họp — nên phải cản (Ps (PTS) III 416). Chú giải còn nói họ cố ý khen ông theo lối “mỗi đức của ông là một điểm thua của Sa-môn”: nhà ông của cải nhiều như cát bụi, còn Sa-môn Gotama không có của, phải đi xin ăn cho đầy bụng (Ps (PTS) III 417).
Tena kho pana samayena nānāverajjakānaṁ brāhmaṇānaṁ pañcamattāni brāhmaṇasatāni opāsāde paṭivasanti kenacideva karaṇīyena. Assosuṁ kho te brāhmaṇā: “caṅkī kira brāhmaṇo samaṇaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamissatī”ti. Atha kho te brāhmaṇā yena caṅkī brāhmaṇo tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā caṅkiṁ brāhmaṇaṁ etadavocuṁ: “saccaṁ kira bhavaṁ caṅkī samaṇaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamissatī”ti? “Evaṁ kho me, bho, hoti: ‘ahaṁ samaṇaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamissāmī’”ti. “Mā bhavaṁ caṅkī samaṇaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkami. Na arahati bhavaṁ caṅkī samaṇaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamituṁ; samaṇotveva gotamo arahati bhavantaṁ caṅkiṁ dassanāya upasaṅkamituṁ. Bhavañhi caṅkī ubhato sujāto mātito ca pitito ca saṁsuddhagahaṇiko yāva sattamā pitāmahayugā akkhitto anupakkuṭṭho jātivādena. Yampi bhavaṁ caṅkī ubhato sujāto mātito ca pitito ca saṁsuddhagahaṇiko yāva sattamā pitāmahayugā akkhitto anupakkuṭṭho jātivādena, imināpaṅgena na arahati bhavaṁ caṅkī samaṇaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamituṁ; samaṇotveva gotamo arahati bhavantaṁ caṅkiṁ dassanāya upasaṅkamituṁ. Bhavañhi caṅkī aḍḍho mahaddhano mahābhogo …pe… bhavañhi caṅkī tiṇṇaṁ vedānaṁ pāragū sanighaṇḍukeṭubhānaṁ sākkharappabhedānaṁ itihāsapañcamānaṁ, padako, veyyākaraṇo, lokāyatamahāpurisalakkhaṇesu anavayo …pe… bhavañhi caṅkī abhirūpo dassanīyo pāsādiko paramāya vaṇṇapokkharatāya samannāgato brahmavaṇṇī brahmavacchasī akhuddāvakāso dassanāya …pe… bhavañhi caṅkī sīlavā vuddhasīlī vuddhasīlena samannāgato …pe… bhavañhi caṅkī kalyāṇavāco kalyāṇavākkaraṇo poriyā vācāya samannāgato vissaṭṭhāya anelagalāya atthassa viññāpaniyā …pe… bhavañhi caṅkī bahūnaṁ ācariyapācariyo, tīṇi māṇavakasatāni mante vāceti …pe… bhavañhi caṅkī rañño pasenadissa kosalassa sakkato garukato mānito pūjito apacito …pe… bhavañhi caṅkī brāhmaṇassa pokkharasātissa sakkato garukato mānito pūjito apacito …pe… bhavañhi caṅkī opāsādaṁ ajjhāvasati sattussadaṁ satiṇakaṭṭhodakaṁ sadhaññaṁ rājabhoggaṁ raññā pasenadinā kosalena dinnaṁ rājadāyaṁ brahmadeyyaṁ. Yampi bhavaṁ caṅkī opāsādaṁ ajjhāvasati sattussadaṁ satiṇakaṭṭhodakaṁ sadhaññaṁ rājabhoggaṁ raññā pasenadinā kosalena dinnaṁ rājadāyaṁ brahmadeyyaṁ, imināpaṅgena na arahati bhavaṁ caṅkī samaṇaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamituṁ; samaṇotveva gotamo arahati bhavantaṁ caṅkiṁ dassanāya upasaṅkamitun”ti.
Lúc bấy giờ, có khoảng năm trăm Bà-la-môn, từ nhiều địa phương khác nhau, đến tại Opasada vì một vài công vụ. Những Bà-la-môn nghe: “Bà-la-môn Canki sẽ đi yết kiến Sa-môn Gotama ”. Những Bà-la-môn ấy đến Bà-la-môn Canki, khi đến xong, liền thưa với Bà-la-môn Canki
—Có phải Tôn giả Canki sẽ đến yết kiến Sa-môn Gotama ?
—Này các Hiền giả, đó là ý định của ta. Ta sẽ đến yết kiến Sa-môn Gotama .
—Tôn giả Canki, chớ có đến yết kiến Sa-môn Gotama . Thật không xứng đáng cho tôn giả Canki đến yết kiến Sa-môn Gotama ; trái lại, thật xứng đáng cho Sa-môn Gotama đến yết kiến Tôn giả Canki. Lại nữa, Tôn giả Canki thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ không bị một vết nhơ nào, không bị một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh. Vì Tôn giả Canki thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, không bị một chỉ trích nào về vấn đề huyết thống thọ sanh. Do điểm này, thật không xứng đáng cho Tôn giả Canki đến yết kiến Sa-môn Gotama ; trái lại, thật xứng đáng cho Sa-môn Gotama đến yết kiết Bà-la-môn Canki. Lại nữa, Tôn giả Canki là nhà giàu có, đại phú, sung túc. Lại nữa, Tôn giả Canki là nhà phúng tụng, nhà trì chú, thông hiểu ba tập Veda với danh nghĩa, lễ nghi, ngữ nguyên, chú giải và lịch sử truyền thống là thứ năm, thông hiểu ngữ pháp và văn phạm, biện tài về Thuận thế luận và Ðại nhân tướng. Tôn giả Canki đẹp trai, khả ái, làm đẹp lòng người, với màu da thù thắng, khôi ngô tuấn tú, cử chỉ trang nhã, dáng điệu cao thượng. Tôn giả Canki có giới hạnh, trưởng thành trong giới hạnh, thành tựu sự trưởng thành trong giới hạnh. Tôn giả Canki thiện ngôn, dùng lời thiện ngôn, nói lời tao nhã, ý nghĩa minh bạch, giọng nói không bập bẹ phều phào, giải thích nghĩa lý minh xác. Tôn giả Canki là bậc Tôn sư của hàng Tôn sư nhiều người, dạy ba trăm thanh niên Bà-la-môn tụng đọc chú thuật. Tôn giả Candi được vua Pasenadi xứ Kosala kính trọng, tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ, trọng vọng. Tôn giả Canki được Bà-la-môn Pokkarasati kính trọng, tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ, trọng vọng. Tôn giả Canki sống ở Opasada, một địa phương dân chúng đông đúc, cỏ cây, ao nước phì nhiêu, lúa gạo sung túc, một vương lãnh địa, một tịnh thí địa, một ân tứ của vua Pasenadi nước Kosala . Do điểm này, thật không xứng đáng cho Tôn giả Canki đến yết kiến Sa-môn Gotama ; trái lại, thật xứng đáng cho Sa-môn Gotama đến yết kiết Tôn giả Canki.
Pāḷi: mn95:7.1–8.17 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn95/vi/minh_chau)Mười lý do (kinh không tự đánh số; đếm theo từng câu Pāḷi 8.4, 8.7–8.15):
| # | Lý do Caṅkī “không nên đi” | Pāḷi |
|---|---|---|
| 1 | thiện sanh cả bên mẹ lẫn bên cha, huyết thống trong sạch đến bảy đời tổ phụ, không bị chê về dòng dõi | ubhato sujāto… yāva sattamā pitāmahayugā |
| 2 | giàu có, nhiều tài sản, nhiều của cải | aḍḍho mahaddhano mahābhogo |
| 3 | thông suốt ba bộ Veda cùng từ vựng, nghi lễ, ngữ âm, sử truyền làm thứ năm; giỏi ngữ pháp, thuận thế luận và tướng đại nhân | tiṇṇaṁ vedānaṁ pāragū |
| 4 | đẹp đẽ, dễ nhìn, dung sắc thù thắng | abhirūpo dassanīyo pāsādiko |
| 5 | có giới, giới hạnh trưởng thành | sīlavā vuddhasīlī |
| 6 | lời nói hay, giọng tao nhã, rõ nghĩa | kalyāṇavāco kalyāṇavākkaraṇo |
| 7 | thầy của nhiều bậc thầy, dạy chú thuật cho ba trăm thanh niên | tīṇi māṇavakasatāni mante vāceti |
| 8 | được vua Pasenadi xứ Kosala kính trọng, tôn sùng | rañño pasenadissa kosalassa sakkato |
| 9 | được Bà-la-môn Pokkharasāti kính trọng, tôn sùng | brāhmaṇassa pokkharasātissa sakkato |
| 10 | cai quản Opāsāda, đất vua Pasenadi ban | opāsādaṁ ajjhāvasati |
Caṅkī đáp: hai mươi lý do để chính mình đến
Caṅkī không phủ nhận lời khen, nhưng lật ngược lập luận: “các Hiền giả hãy nghe ta” — chính chúng ta mới xứng đáng đến yết kiến Ngài. Ông kể từng phẩm chất của Sa-môn Gotama, mỗi điều cũng khép bằng câu điệp “do điểm này… thật xứng đáng cho chúng ta đến yết kiến”. Chú giải nói Caṅkī nghĩ “không nên vui vì được khen”, và những đức ông có chung với Phật (dòng dõi, dung mạo…) thì so ra đức của mình nhỏ như hạt cải cạnh núi Sineru, như vết chân bò cạnh biển cả (Ps (PTS) III 419–420).
Evaṁ vutte, caṅkī brāhmaṇo te brāhmaṇe etadavoca: “tena hi, bho, mamapi suṇātha, yathā mayameva arahāma taṁ samaṇaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamituṁ; na tveva arahati so bhavaṁ gotamo amhākaṁ dassanāya upasaṅkamituṁ. Samaṇo khalu, bho, gotamo ubhato sujāto mātito ca pitito ca saṁsuddhagahaṇiko yāva sattamā pitāmahayugā akkhitto anupakkuṭṭho jātivādena. Yampi, bho, samaṇo gotamo ubhato sujāto mātito ca pitito ca saṁsuddhagahaṇiko yāva sattamā pitāmahayugā akkhitto anupakkuṭṭho jātivādena, imināpaṅgena na arahati so bhavaṁ gotamo amhākaṁ dassanāya upasaṅkamituṁ; atha kho mayameva arahāma taṁ bhavantaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamituṁ. Samaṇo khalu, bho, gotamo pahūtaṁ hiraññasuvaṇṇaṁ ohāya pabbajito bhūmigatañca vehāsaṭṭhañca …pe… Samaṇo khalu, bho, gotamo daharova samāno yuvā susukāḷakeso bhadrena yobbanena samannāgato paṭhamena vayasā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito …pe… Samaṇo khalu, bho, gotamo akāmakānaṁ mātāpitūnaṁ assumukhānaṁ rudantānaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito …pe… Samaṇo khalu, bho, gotamo abhirūpo dassanīyo pāsādiko paramāya vaṇṇapokkharatāya samannāgato brahmavaṇṇī brahmavacchasī akhuddāvakāso dassanāya …pe… Samaṇo khalu, bho, gotamo sīlavā ariyasīlī kusalasīlī kusalena sīlena samannāgato …pe… Samaṇo khalu, bho, gotamo kalyāṇavāco kalyāṇavākkaraṇo poriyā vācāya samannāgato vissaṭṭhāya anelagalāya atthassa viññāpaniyā …pe… Samaṇo khalu, bho, gotamo bahūnaṁ ācariyapācariyo …pe… Samaṇo khalu, bho, gotamo khīṇakāmarāgo vigatacāpallo …pe… Samaṇo khalu, bho, gotamo kammavādī kiriyavādī apāpapurekkhāro brahmaññāya pajāya …pe… Samaṇo khalu, bho, gotamo uccā kulā pabbajito asambhinnā khattiyakulā …pe… Samaṇo khalu, bho, gotamo aḍḍhā kulā pabbajito mahaddhanā mahābhogā …pe… Samaṇaṁ khalu, bho, gotamaṁ tiroraṭṭhā tirojanapadā saṁpucchituṁ āgacchanti …pe… Samaṇaṁ khalu, bho, gotamaṁ anekāni devatāsahassāni pāṇehi saraṇaṁ gatāni …pe…
Nghe nói vậy, Bà-la-môn Canki nói với những vị Bà-la-môn ấy
—Các Hiền giả hãy nghe ta giải thích, vì sao thật xứng đáng cho chúng ta đến yết kiến Sa-môn Gotama ; trái lại, thật không xứng đáng cho Sa-môn Gotama đến yết kiến chúng ta. Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, không bị một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh. Do điểm này thật không xứng đáng cho Sa-môn Gotama đến yết kiến chúng ta, trái lại, thật xứng đáng cho chúng ta đến yết kiến Sa-môn Gotama . Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama xuất gia, từ bỏ rất nhiều vàng bạc, bỏ cả loại đang chôn dưới đất lẫn loại trên mặt đất. Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama trong tuổi thanh niên, tóc còn đen nhánh, trong tuổi trẻ đẹp của thời niên thiếu, đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama , dầu song thân không đồng ý, khóc than, nước mắt thấm ướt cả mặt, vẫn cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama đẹp trai, khả ái, làm đẹp lòng mọi người với màu da thù thắng, khôi ngô tuấn tú, cử chỉ trang nhã, dáng điệu cao thượng. Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama có giới hạnh, gìn giữ giới hạnh của bậc Thánh, có thiện đức, đầy đủ thiện đức. Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama thiện ngôn, dùng lời thiện ngôn, nói lời tao nhã, ý nghĩa minh bạch, giọng nói không bập bẹ, phều phào, giải thích nghĩa lý minh xác. Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama là bậc Tôn sư các hàng Tôn sư của nhiều người. Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama đã diệt trừ tham dục, đã diệt được mọi xao động của tâm. Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama chủ trương về nghiệp, chủ trương về hành động, đặt trọng tâm vào chí thiện khi thuyết pháp với chúng Bà-la-môn. Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama xuất gia từ chủng tộc cao quý, từ dòng họ Sát-đế-lỵ thanh tịnh. Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama xuất gia từ chủng tộc khá giả, đại phú, tài sản sung mãn. Này các Hiền giả, thật vậy, dân chúng băng ngàn vượt biển băng qua nhiều địa phương, băng qua nhiều quốc độ, đến hỏi đạo Sa-môn Gotama . Này các Hiền giả, thật vậy, có hàng ngàn Thiên nhân đến quy y Sa-môn Gotama .
Pāḷi: mn95:9.1–9.19 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn95/vi/minh_chau)Samaṇaṁ khalu, bho, gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato: ‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti …pe… Samaṇo khalu, bho, gotamo dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇehi samannāgato …pe… Samaṇaṁ khalu, bho, gotamaṁ rājā māgadho seniyo bimbisāro saputtadāro pāṇehi saraṇaṁ gato …pe… Samaṇaṁ khalu, bho, gotamaṁ rājā pasenadi kosalo saputtadāro pāṇehi saraṇaṁ gato …pe… Samaṇaṁ khalu, bho, gotamaṁ brāhmaṇo pokkharasāti saputtadāro pāṇehi saraṇaṁ gato …pe… Samaṇo khalu, bho, gotamo opāsādaṁ anuppatto opāsāde viharati uttarena opāsādaṁ devavane sālavane. Ye kho te samaṇā vā brāhmaṇā vā amhākaṁ gāmakkhettaṁ āgacchanti, atithī no te honti. Atithī kho panamhehi sakkātabbā garukātabbā mānetabbā pūjetabbā. Yampi samaṇo gotamo opāsādaṁ anuppatto opāsāde viharati uttarena opāsādaṁ devavane sālavane, atithimhākaṁ samaṇo gotamo. Atithi kho panamhehi sakkātabbo garukātabbo mānetabbo pūjetabbo. Imināpaṅgena na arahati so bhavaṁ gotamo amhākaṁ dassanāya upasaṅkamituṁ; atha kho mayameva arahāma taṁ bhavantaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamituṁ. Ettake kho ahaṁ, bho, tassa bhoto gotamassa vaṇṇe pariyāpuṇāmi, no ca kho so bhavaṁ gotamo ettakavaṇṇo; aparimāṇavaṇṇo hi so bhavaṁ gotamo. Ekamekenapi tena aṅgena samannāgato na arahati, so bhavaṁ gotamo amhākaṁ dassanāya upasaṅkamituṁ; atha kho mayameva arahāma taṁ bhavantaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamitunti. Tena hi, bho, sabbeva mayaṁ samaṇaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamissāmā”ti.
Này các Hiền giả, thật vậy, tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Sa-môn Gotama : “Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn”. Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama có đầy đủ ba mươi hai tướng tốt của bậc Ðại nhân. Này các Hiền giả, thật vậy, vua Seniya Bimbisāra nước Magadha , cùng với vương tử, cung phi, thị tùng đều quy y Sa-môn Gotama . Này các Hiền giả, thật vậy, vua Pasenadi nước Kosala , cùng với nương tử, cung phi, thị tùng đều quy y Sa-môn Gotama . Này các Hiền giả, thật vậy, Bà-la-môn Pokkharasati cùng với các con, vợ, thị giả đều quy y Sa-môn Gotama . Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama đã đến Opasada, nay đang ở tại Opasada về phía Bắc Opasada, trong rừng chư Thiên, rừng cây sāla . Những Sa-môn, Bà-la-môn nào đến ruộng làng chúng ta đều là khách của chúng ta. Ðối với khách, chúng ta phải kính trọng, tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ, trọng vọng. Này các Hiền giả, nay Sa-môn Gotama đã đến Opasada, hiện ở tại Opasada, về phía Bắc Opasada, trong rừng chư Thiên, rừng cây sāla . Như vậy Sa-môn Gotama là khách của chúng ta. Và đã là khách, chúng ta phải kính trọng, tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ, trọng vọng. Do điểm này, thật không xứng đáng cho Tôn giả Gotama đến yết kiến chúng ta, trái lại, thật xứng đáng cho chúng ta đến yết kiến Tôn giả Gotama . Này các Hiền giả, đó là những ưu điểm mà ta được biết về Tôn giả Gotama . Tôn giả Gotama không phải có chừng ấy ưu điểm mà thôi. Tôn giả Gotama có đến vô lượng ưu điểm.
Này các Hiền giả, chỉ với một ưu điểm thôi, thật không xứng đáng cho Tôn giả Gotama đến yết kiến chúng ta; thật xứng đáng cho chúng ta đến yết kiến Tôn giả Gotama . Vậy tất cả chúng ta hãy đi đến yết kiến Tôn giả Gotama .
Pāḷi: mn95:9.20–9.37 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn95/vi/minh_chau)
Hai mươi lý do (kinh không tự đánh số; đếm theo từng câu Pāḷi 9.4, 9.7–9.25 và đoạn “khách” 9.26–9.30):
| # | Phẩm chất của Sa-môn Gotama | Pāḷi |
|---|---|---|
| 1 | thiện sanh cả hai bên, trong sạch bảy đời | ubhato sujāto |
| 2 | xuất gia bỏ lại nhiều vàng bạc, cả của chôn dưới đất lẫn của cất trên cao | pahūtaṁ hiraññasuvaṇṇaṁ ohāya |
| 3 | xuất gia khi còn trẻ, tóc còn đen nhánh | daharova… susukāḷakeso |
| 4 | cha mẹ không bằng lòng, khóc than, mặt đầm nước mắt, vẫn cạo râu tóc xuất gia | akāmakānaṁ mātāpitūnaṁ assumukhānaṁ |
| 5 | đẹp đẽ, dễ nhìn, dung sắc thù thắng | abhirūpo dassanīyo |
| 6 | có giới của bậc Thánh, giới thiện | ariyasīlī kusalasīlī |
| 7 | lời nói hay, giọng tao nhã, rõ nghĩa | kalyāṇavāco |
| 8 | thầy của nhiều bậc thầy | bahūnaṁ ācariyapācariyo |
| 9 | đã diệt dục ái, không còn xao động | khīṇakāmarāgo vigatacāpallo |
| 10 | thuyết về nghiệp, về hành động; không mưu điều ác với dòng Bà-la-môn | kammavādī kiriyavādī apāpapurekkhāro |
| 11 | xuất gia từ dòng cao quý, dòng Sát-đế-lỵ thuần chủng | asambhinnā khattiyakulā |
| 12 | xuất gia từ nhà giàu có, nhiều của cải | aḍḍhā kulā pabbajito |
| 13 | người từ nước khác, xứ khác đến hỏi đạo | tiroraṭṭhā tirojanapadā |
| 14 | hàng ngàn chư thiên quy y Ngài trọn đời | anekāni devatāsahassāni |
| 15 | tiếng đồn tốt đẹp với chín danh hiệu | kalyāṇo kittisaddo |
| 16 | đủ ba mươi hai tướng đại nhân | dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇehi |
| 17 | vua Seniya Bimbisāra nước Magadha cùng vợ con quy y | rājā māgadho seniyo bimbisāro |
| 18 | vua Pasenadi nước Kosala cùng vợ con quy y | rājā pasenadi kosalo |
| 19 | Bà-la-môn Pokkharasāti cùng vợ con quy y | brāhmaṇo pokkharasāti |
| 20 | Ngài đang ở Opāsāda: Sa-môn, Bà-la-môn nào đến ruộng làng ta đều là khách, mà khách thì phải được kính trọng | atithī no te honti |
Cuối cùng Caṅkī nói ông chỉ biết chừng ấy ưu điểm, còn ưu điểm của Tôn giả Gotama là vô lượng (aparimāṇavaṇṇo); chỉ cần một điều trong số ấy cũng đủ để chính họ phải đi — “vậy tất cả chúng ta hãy đi”. Chú giải dẫn ở đây bài kệ: “Dầu Phật khen ngợi Phật suốt một kiếp, kiếp có thể hết mà ân đức Như Lai không hết”, và hai chuyện minh hoạ chữ akhuddāvakāso (“dung mạo không nhỏ”): một Bà-la-môn ở Rājagaha cầm cây tre dài sáu mươi khuỷu tay (saṭṭhihattha) định đo thân Phật mà tre chỉ tới đầu gối; và chúa A-tu-la Rāhu cao lớn không muốn cúi xuống nhìn Phật, Phật nằm xuống để Rāhu phải ngẩng lên (Ps (PTS) III 420–423).
Lưu ý bản dịch. (a) Lý do 10: bản Việt ghi “đặt trọng tâm vào chí thiện khi thuyết pháp với chúng Bà-la-môn”. Pāḷi apāpapurekkhāro brahmaññāya pajāya — Sujato dịch He doesn’t wish any harm upon the community of brahmins (“không mong điều hại cho dòng Bà-la-môn”). Chú giải nêu cả hai cách hiểu: đặt chín pháp siêu thế lên trước, hoặc không đặt điều ác lên trước với dòng Bà-la-môn (Ps (PTS) III 422–423). (b) Lý do 17–19: Pāḷi chỉ nói saputtadāro, “cùng với con và vợ”; bản Việt thêm “cung phi, thị tùng” (lý do 17, 18) và “thị giả” (lý do 19), ở lý do 18 còn ghi “nương tử” (có lẽ lỗi gõ của “vương tử”). (c) Lý do 13: bản Việt “băng ngàn vượt biển” là lời dịch thêm hình ảnh; Pāḷi chỉ nói “từ nước khác, từ xứ khác”.
Đến chỗ Thế Tôn: Kāpaṭika chen lời
Caṅkī dẫn đại chúng Bà-la-môn đến, chào hỏi rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn đang chuyện trò với các Bà-la-môn trưởng lão. Trong hội chúng có thanh niên Kāpaṭika: còn trẻ, đầu cạo (vuttasiro), mười sáu tuổi tính từ lúc sinh, đã thông suốt ba bộ Veda như Caṅkī. Cậu cứ chen ngang lời các bậc trưởng lão. Thế Tôn nhắc cậu bằng họ — Bhāradvāja: đừng cắt ngang, hãy chờ câu chuyện xong. Caṅkī liền bênh: Kāpaṭika là con nhà tử tế, học rộng, có trí, nói năng giỏi, đủ sức đối đáp với Tôn giả Gotama trong vấn đề này.
Atha kho caṅkī brāhmaṇo mahatā brāhmaṇagaṇena saddhiṁ yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Tena kho pana samayena bhagavā vuddhehi vuddhehi brāhmaṇehi saddhiṁ kiñci kiñci kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā nisinno hoti. Tena kho pana samayena kāpaṭiko nāma māṇavo daharo vuttasiro soḷasavassuddesiko jātiyā, tiṇṇaṁ vedānaṁ pāragū sanighaṇḍukeṭubhānaṁ sākkharappabhedānaṁ itihāsapañcamānaṁ, padako, veyyākaraṇo, lokāyatamahāpurisalakkhaṇesu anavayo tassaṁ parisāyaṁ nisinno hoti. So vuddhānaṁ vuddhānaṁ brāhmaṇānaṁ bhagavatā saddhiṁ mantayamānānaṁ antarantarā kathaṁ opāteti. Atha kho bhagavā kāpaṭikaṁ māṇavaṁ apasādeti: “māyasmā bhāradvājo vuddhānaṁ vuddhānaṁ brāhmaṇānaṁ mantayamānānaṁ antarantarā kathaṁ opātetu. Kathāpariyosānaṁ āyasmā bhāradvājo āgametū”ti. Evaṁ vutte, caṅkī brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca: “mā bhavaṁ gotamo kāpaṭikaṁ māṇavaṁ apasādesi. kulaputto ca kāpaṭiko māṇavo, bahussuto ca kāpaṭiko māṇavo, paṇḍito ca kāpaṭiko māṇavo, kalyāṇavākkaraṇo ca kāpaṭiko māṇavo, pahoti ca kāpaṭiko māṇavo bhotā gotamena saddhiṁ asmiṁ vacane paṭimantetun”ti.
Rồi Bà-la-môn Canki, cùng với đại chúng Bà-la-môn đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những người chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
Lúc bấy giờ Thế Tôn đang ngồi và nói lên với những Bà-la-môn trưởng thượng những lời thân hữu về vấn đề này, vấn đề khác. Khi ấy có thanh niên Bà-la-môn tên Kapathika, trẻ tuổi, đầu cạo trọc, mới có mười sáu tuổi, từ khi sanh, thông hiểu ba tập Veda với danh nghĩa, lễ nghi, ngữ nguyên, chú giải và lịch sử truyền thống là thứ năm, thông hiểu ngữ pháp và văn phạm, biệt tài về Thuận thế luận và Ðại nhân tướng, thanh niên này đang ngồi giữa hội chúng ấy. Thanh niên này thỉnh thoảng cắt đứt cuộc đàm luận giữa Thế Tôn và các vị Bà-la-môn trưởng thượng. Rồi Thế Tôn khiển trách thanh niên Bà-la-môn Kapathika
—Hiền giả Bhāradvāja , chớ có cắt ngang cuộc đàm luận của các Bà-la-môn trưởng thượng. Hiền giả Bhāradvāja hãy chờ cho đến khi câu chuyện chấm dứt.
Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn Canki bạch Thế Tôn
—Tôn giả Gotama , chớ có khiển trách thanh niên Bà-la-môn Kapathika. Thanh niên Bà-la-môn Kapathika là Thiện nam tử. Thanh niên Bà-la-môn Kapathipa là bậc đa văn. Thanh niên Bà-la-môn Kapathika phát ngôn thiện xảo. Và thanh niên Bà-la-môn Kapathia là bậc có trí. Và thanh niên Bà-la-môn Kapathika có thể đàm luận với Tôn giả Gotama trong vấn đề này.
Pāḷi: mn95:10.1–11.9 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn95/vi/minh_chau)Lưu ý bản dịch. Bản Việt viết “mới có mười sáu tuổi, từ khi sanh, thông hiểu ba tập Veda…”, dễ đọc thành “thông Veda từ khi mới sinh”. Pāḷi soḷasavassuddesiko jātiyā chỉ có nghĩa “mười sáu tuổi tính từ khi sinh”; chữ “từ khi sanh” thuộc về tuổi. Bản Việt gọi Kāpaṭika là “Hiền giả” — Pāḷi āyasmā, một cách gọi lịch sự.
Câu hỏi về Thánh điển ba Veda
Thế Tôn nghĩ: hẳn cậu này sẽ nói về Thánh điển ba Veda, vì thế các Bà-la-môn mới đẩy cậu lên trước. Kāpaṭika nghĩ: khi nào Sa-môn Gotama nhìn mình thì mình sẽ hỏi. Biết tâm cậu, Thế Tôn đưa mắt nhìn. Kāpaṭika hỏi: những câu chú thuật cổ của Bà-la-môn truyền từ đời này sang đời khác (itihitihaparamparāya) và được giữ thành Thánh điển (piṭakasampadāya), các Bà-la-môn đã đi đến kết luận dứt khoát: “Chỉ đây là sự thật, ngoài ra đều là sai lầm” (idameva saccaṁ, moghamaññaṁ). Tôn giả Gotama nói sao?
Theo Chú giải, itihitiha là “nghe nói như vầy, như vầy” — truyền miệng qua nhiều đời; piṭakasampadā là sự thành tựu của kinh điển, đã được biên thành vần (như vần Sāvitti) và thành chương (Ps (PTS) III 424).
Atha kho bhagavato etadahosi: “addhā kho kāpaṭikassa māṇavassa tevijjake pāvacane kathā bhavissati. Tathā hi naṁ brāhmaṇā sampurekkharontī”ti. Atha kho kāpaṭikassa māṇavassa etadahosi: “yadā me samaṇo gotamo cakkhuṁ upasaṁharissati, athāhaṁ samaṇaṁ gotamaṁ pañhaṁ pucchissāmī”ti. Atha kho bhagavā kāpaṭikassa māṇavassa cetasā cetoparivitakkamaññāya yena kāpaṭiko māṇavo tena cakkhūni upasaṁhāsi. Atha kho kāpaṭikassa māṇavassa etadahosi: “samannāharati kho maṁ samaṇo gotamo. Yannūnāhaṁ samaṇaṁ gotamaṁ pañhaṁ puccheyyan”ti. Atha kho kāpaṭiko māṇavo bhagavantaṁ etadavoca: “yadidaṁ, bho gotama, brāhmaṇānaṁ porāṇaṁ mantapadaṁ itihitihaparamparāya piṭakasampadāya, tattha ca brāhmaṇā ekaṁsena niṭṭhaṁ gacchanti: ‘idameva saccaṁ, moghamaññan’ti. Idha bhavaṁ gotamo kimāhā”ti?
Thế Tôn nghĩ như sau: “Thật sự thanh niên Bà-la-môn Kapathika này đã thông hiểu ba tập Veda, và các Bà-la-môn tôn trọng người này”.
Và thanh niên Bà-la-môn Kapathika nghĩ như sau: “Khi nào Sa-môn Gotama lấy mắt nhìn con mắt ta, ta sẽ hỏi Sa-môn Gotama ”.
Rồi Thế Tôn với tâm tư của mình biết được tâm tư của thanh niên Bà-la-môn Kapathika liền lấy mắt nhìn thanh niên Bà-la-môn Kapathika. Thanh niên Bà-la-môn Kapathika suy nghĩ: “Sa-môn Gotama chăm chú nhìn ta, vậy ta hãy hỏi Sa-môn Gotama một câu hỏi”. Rồi thanh niên Bà-la-môn Kapathika bạch Thế Tôn
—Thưa Tôn giả Gotama , câu chú thuật (mantapadam) của các cổ Bà-la-môn y cứ tiếng đồn, truyền thống và Thánh tạng. Và ở đây, các vị Bà-la-môn chắc chắn đi đến kết luận: “Chỉ đây là sự thật, ngoài ra đều là sai lầm”. Ở đây, Tôn giả Gotama đã nói gì?
Pāḷi: mn95:12.1–12.13 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn95/vi/minh_chau)Lưu ý bản dịch. Ý nghĩ của Thế Tôn, bản Việt dịch “Thật sự thanh niên Bà-la-môn Kapathika này đã thông hiểu ba tập Veda, và các Bà-la-môn tôn trọng người này”. Pāḷi addhā kho kāpaṭikassa māṇavassa tevijjake pāvacane kathā bhavissati, tathā hi naṁ brāhmaṇā sampurekkharonti nói: “Hẳn thanh niên Kāpaṭika sẽ nói về Thánh điển ba Veda, vì thế các Bà-la-môn mới đẩy cậu lên trước” (Sujato: That’s why the brahmins put him at the front). Chú giải giải sampurekkharonti là “đặt lên trước”, dù cậu chỉ đáng tuổi con cháu họ (Ps (PTS) III 424). Đoạn văn xuôi ở trên theo nghĩa Pāḷi.
Ba câu hỏi ngược và hàng người mù
Thế Tôn không bác ngay, mà hỏi lại ba bậc, câu nào cũng cùng một chuẩn: có ai đã nói “tôi biết điều này, tôi thấy điều này: chỉ đây là sự thật, ngoài ra đều là sai lầm”?
- Có một Bà-la-môn nào trong các Bà-la-môn hiện nay nói vậy không? — “Thưa không.”
- Có một vị thầy, thầy của thầy, ngược lên đến bảy đời thầy, nói vậy không? — “Thưa không.”
- Có ai trong các ẩn sĩ đời xưa — những người làm ra và truyền ra các chú thuật mà Bà-la-môn nay đang hát lại, tụng lại — nói vậy không? Kinh kê đủ mười vị: Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamataggi, Aṅgīrasa, Bhāradvāja, Vāseṭṭha, Kassapa, Bhagu. — “Thưa không.”
“Kiṁ pana, bhāradvāja, atthi koci brāhmaṇānaṁ ekabrāhmaṇopi yo evamāha: ‘ahametaṁ jānāmi, ahametaṁ passāmi. Idameva saccaṁ, moghamaññan’”ti? “No hidaṁ, bho gotama”. “Kiṁ pana, bhāradvāja, atthi koci brāhmaṇānaṁ ekācariyopi, ekācariyapācariyopi, yāva sattamā ācariyamahayugāpi, yo evamāha: ‘ahametaṁ jānāmi, ahametaṁ passāmi. Idameva saccaṁ, moghamaññan’”ti? “No hidaṁ, bho gotama”. “Kiṁ pana, bhāradvāja, yepi te brāhmaṇānaṁ pubbakā isayo mantānaṁ kattāro mantānaṁ pavattāro yesamidaṁ etarahi brāhmaṇā porāṇaṁ mantapadaṁ gītaṁ pavuttaṁ samihitaṁ tadanugāyanti tadanubhāsanti bhāsitamanubhāsanti vācitamanuvācenti seyyathidaṁ—aṭṭhako vāmako vāmadevo vessāmitto yamataggi aṅgīraso bhāradvājo vāseṭṭho kassapo bhagu, tepi evamāhaṁsu: ‘mayametaṁ jānāma, mayametaṁ passāma. Idameva saccaṁ, moghamaññan’”ti? “No hidaṁ, bho gotama”.
—Nhưng này Bhāradvāja , có một Bà-la-môn nào giữa các vị Bà-la-môn đã nói như sau: “Tôi biết việc này, tôi thấy việc này. Chỉ đây là sự thật, ngoài ra đều là sai lầm”?
—Thưa không, Tôn giả Gotama .
—Nhưng này Bhāradvāja , có một vị Tôn sư nào của các vị Bà-la-môn, cho đến vị Tôn sư của các vị Tôn sư trở lui cho đến bảy đời, các vị Ðại Tôn sư đã nói như sau: “Chỉ đây là sự thật, ngoài ra đều là sai lầm”?
—Thưa không, Tôn giả Gotama .
—Nhưng này Bhāradvāja , thuở xưa những vị ẩn sĩ giữa các Bà-la-môn, những tác giả các chú thuật, những nhà tụng tán các chú thuật, đã hát, đã nói lên, đã sưu tầm những Thánh cú mà nay những Bà-la-môn hiện tại cũng hát lên, nói lên, đọc lên giống như các vị trước đã làm. Như là Aṭṭhaka , Vāmaka , Vamadeva, Vessamitta , Yamatagggi, Angirasa, Bhāradvāja , Vasettha, Kassapa , Bhagu, những vị ấy đã nói như sau: “Chỉ đây là sự thật, ngoài ra đều là sai lầm”?
—Thưa không, Tôn giả Gotama .
Pāḷi: mn95:13.1–13.13 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn95/vi/minh_chau)Lưu ý bản dịch. Ở câu hỏi thứ hai và thứ ba, bản Việt chỉ ghi “đã nói như sau: ‘Chỉ đây là sự thật, ngoài ra đều là sai lầm’”, sót vế “tôi biết việc này, tôi thấy việc này” — Pāḷi có đủ ở cả hai câu: ahametaṁ jānāmi, ahametaṁ passāmi (13.6) và mayametaṁ jānāma, mayametaṁ passāma (13.11). Chính vế này là điểm then chốt của cả ba câu hỏi: vấn đề không phải là có ai tin hay không, mà là có ai tự biết, tự thấy. Ở đoạn tổng kết kế tiếp, bản Việt viết “không có một Bà-la-môn nào nói như vậy với một Bà-la-môn”; Pāḷi ekabrāhmaṇopi là “dù chỉ một Bà-la-môn”, không phải “với một Bà-la-môn”.
Theo Chú giải, mười ẩn sĩ ấy dùng thiên nhãn quán xét, soạn chú thuật cho phù hợp với lời dạy của Đức Phật Kassapa, không làm hại ai; về sau các Bà-la-môn khác thêm vào những điều như sát sanh, làm hỏng ba Veda và trái với lời Phật (Ps (PTS) III 425).
Thế Tôn tổng kết lại cả ba bậc rồi đưa ra ảnh dụ hàng người mù (andhaveṇi): một chuỗi người mù nối nhau, người trước không thấy, người giữa không thấy, người sau cùng cũng không thấy. “Lời nói của các Bà-la-môn” cũng như thế — và như vậy, chẳng phải lòng tin của họ thành ra không có gốc rễ (amūlikā saddhā) sao?
“Iti kira, bhāradvāja, natthi koci brāhmaṇānaṁ ekabrāhmaṇopi yo evamāha: ‘ahametaṁ jānāmi, ahametaṁ passāmi. Idameva saccaṁ, moghamaññan’ti; natthi koci brāhmaṇānaṁ ekācariyopi ekācariyapācariyopi, yāva sattamā ācariyamahayugāpi, yo evamāha: ‘ahametaṁ jānāmi, ahametaṁ passāmi. Idameva saccaṁ, moghamaññan’ti; yepi te brāhmaṇānaṁ pubbakā isayo mantānaṁ kattāro mantānaṁ pavattāro yesamidaṁ etarahi brāhmaṇā porāṇaṁ mantapadaṁ gītaṁ pavuttaṁ samihitaṁ tadanugāyanti tadanubhāsanti bhāsitamanubhāsanti vācitamanuvācenti seyyathidaṁ—aṭṭhako vāmako vāmadevo vessāmitto yamataggi aṅgīraso bhāradvājo vāseṭṭho kassapo bhagu, tepi na evamāhaṁsu: ‘mayametaṁ jānāma, mayametaṁ passāma. Idameva saccaṁ, moghamaññan’ti. Seyyathāpi, bhāradvāja, andhaveṇi paramparāsaṁsattā purimopi na passati majjhimopi na passati pacchimopi na passati; evameva kho, bhāradvāja, andhaveṇūpamaṁ maññe brāhmaṇānaṁ bhāsitaṁ sampajjati—purimopi na passati majjhimopi na passati pacchimopi na passati. Taṁ kiṁ maññasi, bhāradvāja, nanu evaṁ sante brāhmaṇānaṁ amūlikā saddhā sampajjatī”ti?
—Như vậy này Bhāradvāja , không có một Bà-la-môn nào nói như vậy với một Bà-la-môn: “Tôi biết việc này, tôi thấy việc này. Chỉ đây là sự thật, ngoài ra đều là sai lầm”. Không có một vị Tôn sư nào của các vị Bà-la-môn, một vị Ðại Tôn sư, cho đến bảy đời, vị Ðại Tôn sư đã nói như sau: “Tôi biết việc này, tôi thấy việc này. Chỉ đây là sự thật, ngoài ra đều là sai lầm”. Thuở xưa những vị ẩn sĩ, giữa các Bà-la-môn, những tác giả các chú thuật, những nhà tụng tán các chú thuật, đã hát, đã nói lên, đã sưu tầm những Thánh cú và nay, những Bà-la-môn hiện tại cũng đã hát lên, nói lên giống như các vị trước đã làm. Như là Attaka, Vāmaka , Vamadeva, Vessamitta , Yamataggi, Angirasa, Bhāradvāja , Vasettha, Kassapa , Bhagu, những vị ấy không có nói như sau: “Chúng tôi biết việc này, chúng tôi thấy việc này. Chỉ có đây là sự thật, ngoài ra đều là sai lầm”. Ví như này, Bhāradvāja , một chuỗi người mù ôm lưng nhau, người trước không thấy, người giữa cũng không thấy, người cuối cùng cũng không thấy; cũng vậy, này Bhāradvāja , Ta nghĩ rằng, lời nói của các Bà-la-môn cũng giống như chuỗi người mù: người trước không thấy, người giữa cũng không thấy, người cuối cùng cũng không thấy. Này Bhāradvāja , Ông nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, có phải lòng tin của các vị Bà-la-môn trở thành không có căn cứ?
Pāḷi: mn95:13.14–13.26 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn95/vi/minh_chau)
Chú giải giải andhaveṇi là năm, sáu mươi người mù nối nhau nắm theo một người sáng mắt cầm gậy dẫn đầu; paramparāsaṁsattā là “nắm nối vào nhau mà không còn người sáng mắt”. Chú giải kể thêm: một gã lừa đảo nhận tiền của một nhóm người mù để dẫn họ đến làng có nhiều đồ ăn, đến giữa đường thì rẽ khỏi lối, dẫn họ đi quanh một bụi cây lớn, cho tay người đầu nắm vạt áo người cuối (purimassa hatthena pacchimassa kacchaṃ gaṇhāpetvā), bảo “tôi có chút việc, các ông cứ đi trước” rồi bỏ trốn; họ đi suốt ngày không tìm ra đường, than khóc và chết tại chỗ. “Người trước” là mười ẩn sĩ xưa, “người giữa” là các đời thầy, “người sau” là Bà-la-môn hiện nay (Ps (PTS) III 425–426).
Năm chỗ dựa có hai kết quả
Kāpaṭika rút sang chỗ khác: các Bà-la-môn tôn kính điều ấy không chỉ vì tin (saddhā) mà còn vì truyền nghe (anussava). Thế Tôn chỉ ra sự đổi chỗ đứng (“trước Ông dựa vào lòng tin, nay Ông nói đến tùy văn”) rồi nêu năm pháp ngay trong hiện tại có hai kết quả (dvedhā vipākā) — có thể ra đúng mà cũng có thể ra sai:
| # | Pāḷi | Bản Việt | Nghĩa |
|---|---|---|---|
| 1 | saddhā | tín | lòng tin |
| 2 | ruci | tùy hỷ | sự ưa thích, tán thành |
| 3 | anussava | tùy văn | điều truyền nghe |
| 4 | ākāraparivitakka | cân nhắc suy tư các lý do | suy xét theo lý lẽ, dáng vẻ hợp lý |
| 5 | diṭṭhinijjhānakkhanti | chấp nhận quan điểm | chấp nhận một quan điểm sau khi suy ngẫm |
Điều được tin rất vững vẫn có thể rỗng không, hư vọng; điều không được tin vẫn có thể là thật, chân, không sai khác — và cứ như vậy với cả năm. Vì thế người trí đang hộ trì chân lý không nên đi đến kết luận dứt khoát “chỉ đây là sự thật, ngoài ra đều là sai lầm”. Theo Chú giải, với hai pháp đã được nhắc trong câu chuyện (tin, truyền nghe), Thế Tôn thêm ba pháp cùng loại; “hai kết quả” là kết quả thật hoặc không thật (Ps (PTS) III 426).
“Na khvettha, bho gotama, brāhmaṇā saddhāyeva payirupāsanti, anussavāpettha brāhmaṇā payirupāsantī”ti. “Pubbeva kho tvaṁ, bhāradvāja, saddhaṁ agamāsi, anussavaṁ idāni vadesi. Pañca kho ime, bhāradvāja, dhammā diṭṭheva dhamme dvedhā vipākā. Katame pañca? Saddhā, ruci, anussavo, ākāraparivitakko, diṭṭhinijjhānakkhanti— ime kho, bhāradvāja, pañca dhammā diṭṭheva dhamme dvedhā vipākā. Api ca, bhāradvāja, susaddahitaṁyeva hoti, tañca hoti rittaṁ tucchaṁ musā; no cepi susaddahitaṁ hoti, tañca hoti bhūtaṁ tacchaṁ anaññathā. Api ca, bhāradvāja, surucitaṁyeva hoti …pe… svānussutaṁyeva hoti …pe… suparivitakkitaṁyeva hoti …pe… sunijjhāyitaṁyeva hoti, tañca hoti rittaṁ tucchaṁ musā; no cepi sunijjhāyitaṁ hoti, tañca hoti bhūtaṁ tacchaṁ anaññathā. Saccamanurakkhatā, bhāradvāja, viññunā purisena nālamettha ekaṁsena niṭṭhaṁ gantuṁ: ‘idameva saccaṁ, moghamaññan’”ti.
—Thưa Tôn giả Gotama , các Bà-la-môn không phải chỉ dựa trên lòng tin, các Bà-la-môn ở đây còn dựa trên điều nghe (tùy văn: anussava).
—Trước hết, này Bhāradvāja , Ông đi đến lòng tin, nay Ông nói đến tùy văn. Này Bhāradvāja , năm pháp này có hai quả báo ngay trong hiện tại. Thế nào là năm? Tín, tùy hỷ, tùy văn, cân nhắc suy tư các lý do và chấp nhận quan điểm. Này Bhāradvāja , năm pháp này có hai quả báo ngay trong hiện tại. Tuy vậy, này Bhāradvāja , có điều được khéo tin tưởng, có thể là trống không, trống rỗng, hư vọng. Trái lại, có điều không được khéo tin tưởng, có thể là thật, chân, không thay đổi. Lại nữa này Bhāradvāja , có điều được khéo tùy hỷ … được khéo tùy văn … được khéo cân nhắc suy tư … được khéo chấp nhận, có thể là trống không, trống rỗng, hư vọng. Trái lại, có điều không được khéo chấp nhận, có thể là thật, chân, không thay đổi. Hộ trì chân lý, này Bhāradvāja không đủ để một người có trí đi đến kết luận một chiều là: “Chỉ đây là sự thật, ngoài ra đều là sai lầm”
Pāḷi: mn95:14.1–14.15 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn95/vi/minh_chau)Lưu ý bản dịch. Câu cuối bản Việt viết “Hộ trì chân lý, này Bhāradvāja không đủ để một người có trí đi đến kết luận một chiều”, dễ hiểu lầm thành “việc hộ trì chân lý là chưa đủ”. Pāḷi saccamanurakkhatā, bhāradvāja, viññunā purisena nālamettha ekaṁsena niṭṭhaṁ gantuṁ nói: “Này Bhāradvāja, đối với người có trí đang hộ trì chân lý, ở đây không nên đi đến kết luận một chiều.” Saccamanurakkhatā bổ nghĩa cho “người có trí”; nālaṁ là “không thích hợp” (Chú giải: na yuttaṁ), không phải “không đủ”.
Hộ trì chân lý (saccānurakkhaṇā)
Kāpaṭika hỏi: đến mức nào thì gọi là hộ trì chân lý? Thế Tôn đáp: nếu một người có lòng tin, người ấy nói “đây là lòng tin của tôi” — như thế là hộ trì chân lý — nhưng chưa đi đến kết luận một chiều “chỉ đây là sự thật”. Cũng vậy với ưa thích, truyền nghe, suy xét lý lẽ và chấp nhận quan điểm: nói đúng mức chỗ mình đứng (“đây là quan điểm tôi chấp nhận sau khi suy ngẫm”) mà không biến nó thành lời phán tuyệt đối. Và Ngài nói thêm ngay: như vậy chưa phải là giác ngộ chân lý.
“Kittāvatā pana, bho gotama, saccānurakkhaṇā hoti, kittāvatā saccamanurakkhati? Saccānurakkhaṇaṁ mayaṁ bhavantaṁ gotamaṁ pucchāmā”ti. “Saddhā cepi, bhāradvāja, purisassa hoti; ‘evaṁ me saddhā’ti— iti vadaṁ saccamanurakkhati, na tveva tāva ekaṁsena niṭṭhaṁ gacchati: ‘idameva saccaṁ, moghamaññan’ti (…). Ruci cepi, bhāradvāja, purisassa hoti …pe… anussavo cepi, bhāradvāja, purisassa hoti …pe… ākāraparivitakko cepi, bhāradvāja, purisassa hoti …pe… diṭṭhinijjhānakkhanti cepi, bhāradvāja, purisassa hoti; ‘evaṁ me diṭṭhinijjhānakkhantī’ti— iti vadaṁ saccamanurakkhati, na tveva tāva ekaṁsena niṭṭhaṁ gacchati: ‘idameva saccaṁ, moghamaññan’ti. Ettāvatā kho, bhāradvāja, saccānurakkhaṇā hoti, ettāvatā saccamanurakkhati, ettāvatā ca mayaṁ saccānurakkhaṇaṁ paññapema; na tveva tāva saccānubodho hotī”ti.
—Nhưng thưa Tôn giả Gotama , cho đến mức độ nào là hộ trì chân lý? Cho đến mức độ nào, chân lý được hộ trì? Chúng con hỏi Tôn giả Gotama về hộ trì chân lý.
—Này Bhāradvāja , nếu có người có lòng tin và nói: “Ðây là lòng tin của tôi”, người ấy hộ trì chân lý, nhưng người ấy không đi đến kết luận một chiều: “Chỉ đây là sự thật, ngoài ra đều là sai lầm”. Cho đến như vậy, này Bhāradvāja , là sự hộ trì chân lý. Cho đến như vậy, chân lý được hộ trì. Và cho đến như vậy, chúng tôi chủ trương hộ trì chân lý. Nhưng ở đây, chưa phải là giác ngộ chân lý. Này Bhāradvāja , nếu có người có lòng tùy hỷ, này Bhāradvāja , nếu có người có lòng tùy văn; này Bhāradvāja , nếu có người có sự cân nhắc suy tư các lý do; này Bhāradvāja , nếu có người chấp nhận một quan điểm và nói: “Ðây là sự chấp nhận quan điểm của tôi”, người ấy hộ trì chân lý. Nhưng người ấy không đi đến kết luận một chiều: “Chỉ đây là sự thật, ngoài ra là sai lầm”. Cho đến như vậy, này Bhāradvāja , là hộ trì chân lý. Cho đến như vậy, này Bhāradvāja , chúng tôi chủ trương hộ trì và cho đến như vậy, này Bhāradvāja , chúng tôi chủ trương hộ trì chân lý. Nhưng ở đây chưa phải sự giác ngộ chân lý.
Pāḷi: mn95:15.1–15.15 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn95/vi/minh_chau)Khuôn chung của ba lần xem xét
Kāpaṭika chấp nhận định nghĩa ấy và hỏi tiếp: đến mức nào là giác ngộ chân lý (saccānubodha)? Câu trả lời mở đầu bằng một cảnh rất đời thường: một vị tỳ-kheo sống nương vào một làng hay thị trấn; một gia chủ hay con gia chủ đến, xem xét vị ấy về ba loại pháp: pháp gây tham (lobhanīya), pháp gây sân (dosanīya), pháp gây si (mohanīya). Theo Chú giải, ở đây “vị tỳ-kheo” là Thế Tôn nói về chính mình, như trong Kinh Jīvaka và Kinh Mahāvaccha (Ps (PTS) III 426).
Mỗi lần xem xét đi theo cùng một khuôn năm bước:
- Câu hỏi: vị này có những pháp [tham/sân/si] nào mà khi tâm bị chúng chế ngự, không biết lại nói “tôi biết”, không thấy lại nói “tôi thấy”, hoặc xúi người khác làm điều đưa đến bất lợi, đau khổ lâu dài không?
- Kết quả xem xét: biết rằng vị ấy không có những pháp ấy.
- Thân và lời: thân hành, khẩu hành của vị ấy là của người không [tham/sân/si].
- Pháp vị ấy dạy: sâu xa, khó thấy, khó hiểu, tịch tịnh, thù thắng, vượt ngoài suy luận, tế nhị, người trí mới tự biết — pháp như vậy không dễ do người [tham/sân/si] giảng được.
- Chuyển bước: thấy vị ấy trong sạch về loại pháp này thì xem xét tiếp loại pháp kế.
“Ettāvatā, bho gotama, saccānurakkhaṇā hoti, ettāvatā saccamanurakkhati, ettāvatā ca mayaṁ saccānurakkhaṇaṁ pekkhāma. Kittāvatā pana, bho gotama, saccānubodho hoti, kittāvatā saccamanubujjhati? Saccānubodhaṁ mayaṁ bhavantaṁ gotamaṁ pucchāmā”ti.
—Cho đến như vậy, thưa Tôn giả Gotama , là hộ trì chân lý. Cho đến như vậy, thưa Tôn giả Gotama , chân lý được hộ trì. Cho đến như vậy, thưa Tôn giả Gotama , chúng con nhìn thấy hộ trì chân lý. Nhưng thưa Tôn giả Gotama , cho đến mức độ nào là giác ngộ chân lý? Cho đến mức độ nào chân lý được giác ngộ? Chúng con hỏi Tôn giả Gotama về giác ngộ chân lý.
Pāḷi: mn95:16.1–16.3 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn95/vi/minh_chau)“Idha, bhāradvāja, bhikkhu aññataraṁ gāmaṁ vā nigamaṁ vā upanissāya viharati. Tamenaṁ gahapati vā gahapatiputto vā upasaṅkamitvā tīsu dhammesu samannesati— lobhanīyesu dhammesu, dosanīyesu dhammesu, mohanīyesu dhammesu. Atthi nu kho imassāyasmato tathārūpā lobhanīyā dhammā yathārūpehi lobhanīyehi dhammehi pariyādinnacitto ajānaṁ vā vadeyya— jānāmīti, apassaṁ vā vadeyya— passāmīti, paraṁ vā tadatthāya samādapeyya yaṁ paresaṁ assa dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyāti? Tamenaṁ samannesamāno evaṁ jānāti: ‘natthi kho imassāyasmato tathārūpā lobhanīyā dhammā yathārūpehi lobhanīyehi dhammehi pariyādinnacitto ajānaṁ vā vadeyya— jānāmīti, apassaṁ vā vadeyya— passāmīti, paraṁ vā tadatthāya samādapeyya yaṁ paresaṁ assa dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya. Tathārūpo kho panimassāyasmato kāyasamācāro tathārūpo vacīsamācāro yathā taṁ aluddhassa. Yaṁ kho pana ayamāyasmā dhammaṁ deseti, gambhīro so dhammo duddaso duranubodho santo paṇīto atakkāvacaro nipuṇo paṇḍitavedanīyo; na so dhammo sudesiyo luddhenā’ti.
—Ở đây, này Bhāradvāja , Tỷ-kheo sống gần một làng hay một thị trấn. Một gia chủ hay con trai một gia chủ đi đến vị ấy và tìm hiểu vị ấy trong ba pháp, tức là tham pháp, sân pháp, si pháp. Người này nghĩ rằng: “Không hiểu vị Tôn giả ấy có tham ái hay không, do những tham ái này, tâm vị ấy bị chi phối đến nỗi dầu không biết vẫn nói: “Tôi biết”, dầu không thấy vẫn nói: “Tôi thấy,” hay xui khiến người khác có những hành động khiến người ấy không được hạnh phúc, phải đau khổ lâu dài”. Trong khi xem xét vị ấy, người này biết như sau: “Vị Tôn giả ấy không có những tham pháp, do những tham pháp này tâm vị ấy bị chi phối đến nỗi dầu không biết vẫn nói: “Tôi biết”, dầu không thấy vẫn nói: “Tôi thấy”; hay xui khiến người khác có những hành động khiến người ấy không được hạnh phúc, phải đau khổ lâu dài. Thân hành của vị ấy là như vậy, khẩu hành là như vậy, là hành động của một người không có lòng tham. Còn Tôn giả ấy thuyết pháp, pháp ấy thâm sâu, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, thù thắng, vượt ngoài luận lý suông, tế nhị, được người trí chấp nhận; pháp ấy không thể do một người có lòng tham khéo giảng”.
Pāḷi: mn95:17.1–17.13 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn95/vi/minh_chau)1. Xét về các pháp gây tham
Lần đầu xét pháp gây tham (lobhanīyā dhammā): người kia thấy vị tỳ-kheo không có, thân và lời là của người không tham (aluddha), pháp vị ấy giảng không thể do người tham (luddha) giảng khéo được. (Khung trích ở trên.)
2. Xét về các pháp gây sân
Thấy vị ấy trong sạch về tham, người kia xét tiếp pháp gây sân (dosanīyā dhammā). Phần riêng: thân và lời là của người không sân (aduṭṭha), pháp ấy không dễ do người sân (duṭṭha) giảng.
Yato naṁ samannesamāno visuddhaṁ lobhanīyehi dhammehi samanupassati tato naṁ uttari samannesati dosanīyesu dhammesu.
Sau khi xem xét vị ấy và thấy vị ấy trong sạch không có những tham pháp, người kia lại xem xét thêm vị ấy về các sân pháp
Tathārūpo kho panimassāyasmato kāyasamācāro tathārūpo vacīsamācāro yathā taṁ aduṭṭhassa. Yaṁ kho pana ayamāyasmā dhammaṁ deseti, gambhīro so dhammo duddaso duranubodho santo paṇīto atakkāvacaro nipuṇo paṇḍitavedanīyo; na so dhammo sudesiyo duṭṭhenā’ti.
Thân hành của vị ấy là như vậy, khẩu hành là như vậy, là hành động của một người không có lòng sân. Còn Tôn giả ấy thuyết pháp, pháp ấy thâm sâu, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, thù thắng, vượt ngoài luận lý suông, tế nhị, được người trí chấp nhận, pháp ấy không thể do một người có lòng sân khéo giảng”.
Pāḷi: mn95:18.1–18.11 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn95/vi/minh_chau)3. Xét về các pháp gây si
Thấy vị ấy trong sạch về sân, người kia xét tiếp pháp gây si (mohanīyā dhammā). Phần riêng: thân và lời là của người không si (amūḷha), pháp ấy không dễ do người si (mūḷha) giảng.
Yato naṁ samannesamāno visuddhaṁ dosanīyehi dhammehi samanupassati, tato naṁ uttari samannesati mohanīyesu dhammesu.
Sau khi xem xét vị ấy và thấy vị ấy trong sạch, không có những sân pháp, người kia lại xem xét thêm vị ấy về các si pháp
Tathārūpo kho panimassāyasmato kāyasamācāro tathārūpo vacīsamācāro yathā taṁ amūḷhassa. Yaṁ kho pana ayamāyasmā dhammaṁ deseti, gambhīro so dhammo duddaso duranubodho santo paṇīto atakkāvacaro nipuṇo paṇḍitavedanīyo; na so dhammo sudesiyo mūḷhenā’ti.
Thân hành của vị ấy là như vậy, khẩu hành là như vậy, là hành động của một người không có lòng si. Còn Tôn giả ấy thuyết pháp, pháp ấy thâm sâu, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, thù thắng, vượt ngoài luận lý suông, tế nhị, được người trí chấp nhận, pháp ấy không thể do một người có lòng si khéo giảng”.
Pāḷi: mn95:19.1–19.11 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn95/vi/minh_chau)Bảng tổng hợp ba lần xem xét
| # | Loại pháp được xét | Thân, lời như người… | Pháp không dễ do… giảng | Sau đó |
|---|---|---|---|---|
| 1 | gây tham (lobhanīya) | không tham (aluddha) | người tham (luddha) | xét sân |
| 2 | gây sân (dosanīya) | không sân (aduṭṭha) | người sân (duṭṭha) | xét si |
| 3 | gây si (mohanīya) | không si (amūḷha) | người si (mūḷha) | đặt niềm tin |
Câu hỏi của cả ba lần là cùng một nỗi lo: liệu vị thầy có vì tham, sân hay si mà nói biết khi không biết, nói thấy khi không thấy — tức đúng cái lỗi mà Thế Tôn vừa chỉ ra nơi truyền thống Bà-la-môn.
Giác ngộ chân lý: từ niềm tin đến thấy bằng tuệ
Chỉ sau ba lần xem xét ấy, người kia mới đặt niềm tin vào vị tỳ-kheo. Từ đó kinh kể một chuỗi liền mạch, mỗi bước là nhân cho bước sau: tin → đến gần → thân cận → lóng tai → nghe pháp → thọ trì → tìm hiểu nghĩa → các pháp được chấp nhận sau khi suy ngẫm → ước muốn sinh → cố gắng → cân nhắc → tinh cần → tự thân chứng ngộ chân lý tối thượng và thấy suốt bằng tuệ. Như vậy là giác ngộ chân lý — nhưng Thế Tôn lại thêm: chưa phải là chứng đạt chân lý.
Yato naṁ samannesamāno visuddhaṁ mohanīyehi dhammehi samanupassati; atha tamhi saddhaṁ niveseti, saddhājāto upasaṅkamati, upasaṅkamanto payirupāsati, payirupāsanto sotaṁ odahati, ohitasoto dhammaṁ suṇāti, sutvā dhammaṁ dhāreti, dhatānaṁ dhammānaṁ atthaṁ upaparikkhati, atthaṁ upaparikkhato dhammā nijjhānaṁ khamanti, dhammanijjhānakkhantiyā sati chando jāyati, chandajāto ussahati, ussahitvā tuleti, tulayitvā padahati, pahitatto samāno kāyena ceva paramasaccaṁ sacchikaroti paññāya ca naṁ ativijjha passati. Ettāvatā kho, bhāradvāja, saccānubodho hoti, ettāvatā saccamanubujjhati, ettāvatā ca mayaṁ saccānubodhaṁ paññapema; na tveva tāva saccānuppatti hotī”ti.
Sau khi xem xét vị ấy và thấy vị ấy trong sạch, không có những si pháp, người này sanh lòng tin đối với vị ấy, với lòng tin sanh, người này đến gần, khi đến gần liền thân cận giao thiệp, do thân cận giao thiệp, nên lóng tai, lóng tai, người ấy nghe pháp, sau khi nghe, liền thọ trì pháp, rồi tìm hiểu ý nghĩa các pháp được thọ trì; trong khi tìm hiểu ý nghĩa, các pháp được hoan hỷ chấp nhận; khi các pháp được hoan hỷ chấp nhận, ước muốn sanh, khi ước muốn sanh, liền cố gắng, sau khi cố gắng liền cân nhắc, sau khi cân nhắc, người ấy tinh cần. Trong khi tinh cần, người ấy tự thân chứng ngộ tối thượng chân lý, và khi thể nhập chân lý ấy với trí tuệ, người ấy thấy. Cho đến mức độ này, này Bhāradvāja là sự giác ngộ chân lý, cho đến mức độ này, chân lý được giác ngộ, và cho đến mức độ này, chúng tôi chủ trương sự giác ngộ chân lý. Nhưng như vậy chưa phải là chứng đạt chân lý.
Pāḷi: mn95:20.1–20.4 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn95/vi/minh_chau)Chú giải giải từng bước (Ps (PTS) III 426–427): niềm tin ở đây là niềm tin “đặt vào chỗ đáng tin” (okappanīya saddhā); “thân cận” (payirupāsati) là ngồi gần; “thọ trì” là học cho thuần thục; “chấp nhận sau suy ngẫm” là thấy rõ “chỗ này nói về giới, chỗ này nói về định”; “cân nhắc” (tuleti) là xét theo vô thường…; “tinh cần” (padahati) là tinh cần trong Đạo; “tự thân chứng” (kāyena) là chứng Niết-bàn bằng danh thân đồng sinh, còn “thấy bằng tuệ” là đâm thủng phiền não mà thấy rõ chính điều ấy. Cũng theo Chú giải, “giác ngộ chân lý” (saccānubodha) ở đây là giác ngộ Đạo (Ps (PTS) III 427).
Lưu ý bản dịch. Bản Việt có chỗ lặp “nên lóng tai, lóng tai, người ấy nghe pháp” (Pāḷi: sotaṁ odahati, ohitasoto dhammaṁ suṇāti — lóng tai; đã lóng tai thì nghe pháp). Chữ dhammā nijjhānaṁ khamanti được dịch “các pháp được hoan hỷ chấp nhận”; Pāḷi không có chữ “hoan hỷ” — nghĩa là các pháp “chịu được sự suy ngẫm”, được chấp nhận sau khi xét kỹ.
Chứng đạt chân lý
Kāpaṭika chấp nhận và hỏi tầng thứ ba: đến mức nào là chứng đạt chân lý (saccānuppatti)? Câu trả lời rất ngắn: chính nhờ luyện tập, tu tập, làm cho sung mãn (āsevanā bhāvanā bahulīkammaṁ) chính các pháp ấy mà chân lý được chứng đạt.
“Ettāvatā, bho gotama, saccānubodho hoti, ettāvatā saccamanubujjhati, ettāvatā ca mayaṁ saccānubodhaṁ pekkhāma. Kittāvatā pana, bho gotama, saccānuppatti hoti, kittāvatā saccamanupāpuṇāti? Saccānuppattiṁ mayaṁ bhavantaṁ gotamaṁ pucchāmā”ti. “Tesaṁyeva, bhāradvāja, dhammānaṁ āsevanā bhāvanā bahulīkammaṁ saccānuppatti hoti. Ettāvatā kho, bhāradvāja, saccānuppatti hoti, ettāvatā saccamanupāpuṇāti, ettāvatā ca mayaṁ saccānuppattiṁ paññapemā”ti.
—Cho đến như vậy, thưa Tôn giả Gotama , là giác ngộ chân lý, cho đến như vậy, chân lý được giác ngộ, và cho đến như vậy chúng con thấy giác ngộ chân lý. Nhưng thưa Tôn giả Gotama , cho đến mức độ nào là chứng đạt được chân lý, cho đến mức độ nào chân lý được chứng đạt? Chúng con hỏi Tôn giả Gotama về sự chứng đạt chân lý.
—Này Bhāradvāja , chính nhờ luyện tập, tu tập và hành tập nhiều lần, chân lý mới được chứng đạt. Cho đến như vậy, này Bhāradvāja , là chứng đạt chân lý, cho đến như vậy, chân lý được chứng đạt, cho đến như vậy, chúng tôi chủ trương sự chứng đạt chân lý.
Pāḷi: mn95:21.1–21.5 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn95/vi/minh_chau)Theo Chú giải, “chứng đạt chân lý” là chứng ngộ Quả (phalasacchikiriyā). Chữ “chính các pháp ấy” (tesaṁyeva), Chú giải nêu cách hiểu “mười hai pháp kể ở trên” rồi không nhận, vì hiểu như thế là thuận theo một thuyết “Đạo dài” (dīghaṃ maggavādaṃ); nghĩa Chú giải chọn là các pháp tương ưng với Đạo, vì không có Đạo thì không có Quả (Ps (PTS) III 427). Phụ chú giải (Līnatthappakāsinī) bàn thêm chỗ này và giải “cân nhắc” (tulanā) là tuệ quán (vipassanā). Câu Chú giải về “thuyết Đạo dài” ngắn và khó; bản Việt sudhamma.net dịch khác, nên cách hiểu ghi ở đây là của người viết, chưa đối chiếu với một bản dịch chuẩn.
Khuôn chung của mười hai pháp hỗ trợ
Kāpaṭika hỏi câu thứ tư: pháp nào hỗ trợ nhiều (bahukāra) cho việc chứng đạt chân lý? Từ đây cuộc hỏi đáp đi ngược chuỗi ở mục giác ngộ, mỗi lần một bước, đủ mười hai lần, theo cùng một khuôn:
- Hỏi: “Đối với [X], pháp nào hỗ trợ nhiều? Chúng con hỏi Tôn giả Gotama…”
- Đáp: “Đối với [X], [Y] hỗ trợ nhiều.”
- Lý do phủ định: “Nếu không [Y] thì không [X].”
- Lý do khẳng định: “Vì có [Y] nên có [X].”
- Kết: “Do vậy, đối với [X], [Y] hỗ trợ nhiều.”
Khung trích một lần ở lượt đầu (X = chứng đạt chân lý, Y = tinh cần); các lượt sau chỉ trích lời đáp.
“Ettāvatā, bho gotama, saccānuppatti hoti, ettāvatā saccamanupāpuṇāti, ettāvatā ca mayaṁ saccānuppattiṁ pekkhāma. Saccānuppattiyā pana, bho gotama, katamo dhammo bahukāro? Saccānuppattiyā bahukāraṁ dhammaṁ mayaṁ bhavantaṁ gotamaṁ pucchāmā”ti. “Saccānuppattiyā kho, bhāradvāja, padhānaṁ bahukāraṁ. No cetaṁ padaheyya, nayidaṁ saccamanupāpuṇeyya. Yasmā ca kho padahati tasmā saccamanupāpuṇāti. Tasmā saccānuppattiyā padhānaṁ bahukāran”ti.
—Cho đến như vậy, thưa Tôn giả Gotama , là chứng đạt chân lý, cho đến như vậy chân lý được chứng đạt, và cho đến như vậy, chúng con thấy chứng đạt chân lý. Nhưng trong sự chứng đạt chân lý, thưa Tôn giả Gotama , pháp nào được hành trì nhiều? Chúng con hỏi Tôn giả Gotama , trong sự chứng đạt chân lý, pháp nào được hành trì nhiều.
—Trong sự chứng đạt chân lý, này Bhāradvāja , tinh cần được hành trì nhiều. Nếu không tinh cần theo đuổi chân lý thì không thể chứng đạt chân lý. Nhưng nếu tinh cần thì chứng đạt được chân lý. Do vậy, trong sự chứng đạt chân lý, tinh cần được hành trì nhiều.
Pāḷi: mn95:22.1–22.7 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn95/vi/minh_chau)Lưu ý bản dịch (áp cho cả mười hai lượt). Bản Việt dịch bahukāra là “được hành trì nhiều”. Pāḷi bahukāra nghĩa là “giúp ích nhiều, hỗ trợ nhiều” (bahu nhiều + kāra sự giúp, công ơn) — Sujato dịch helpful. Câu hỏi không phải “pháp nào được thực hành nhiều trong việc chứng đạt”, mà “pháp nào nâng đỡ việc chứng đạt” — và lời đáp “nếu không Y thì không X” cho thấy rõ Y là điều kiện đứng trước X. Bảng tổng hợp dưới đây dùng nghĩa “hỗ trợ”.
1. Tinh cần hỗ trợ chứng đạt chân lý
Padhāna — tinh cần; theo Chú giải là tinh cần trong Đạo (maggappadhāna). Không tinh cần thì không chứng đạt; vì tinh cần nên chứng đạt. (Khung trích ở trên.)
2. Cân nhắc hỗ trợ tinh cần
Tulanā — cân nhắc; theo Chú giải là xét theo vô thường… (aniccādivasena tīreti).
“Padhānassa kho, bhāradvāja, tulanā bahukārā. No cetaṁ tuleyya, nayidaṁ padaheyya. Yasmā ca kho tuleti tasmā padahati. Tasmā padhānassa tulanā bahukārā”ti.
—Trong sự tinh cần, này Bhāradvāja , sự cân nhắc được hành trì nhiều. Nếu không cân nhắc thì không thể tinh cần theo đuổi chân lý. Nếu có cân nhắc sẽ được tinh cần; do vậy, trong sự tinh cần, cân nhắc được hành trì nhiều.
Pāḷi: mn95:23.3–23.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn95/vi/minh_chau)3. Cố gắng hỗ trợ cân nhắc
Ussāha — cố gắng, nỗ lực (Chú giải: vāyamati).
“Tulanāya kho, bhāradvāja, ussāho bahukāro. No cetaṁ ussaheyya, nayidaṁ tuleyya. Yasmā ca kho ussahati tasmā tuleti. Tasmā tulanāya ussāho bahukāro”ti.
—Trong sự cân nhắc, này Bhāradvāja , cố gắng được hành trì nhiều. Nếu không cố gắng thì không thể cân nhắc. Nhưng nếu có cố gắng thì có cân nhắc; do vậy trong sự cân nhắc, thì cố gắng được hành trì nhiều.
Pāḷi: mn95:24.3–24.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn95/vi/minh_chau)4. Ước muốn hỗ trợ cố gắng
Chanda — ước muốn; theo Chú giải là ý muốn làm (kattukamyatāchanda). Bản Việt thêm “ước muốn đối với chân lý ấy” ở câu phủ định.
“Ussāhassa kho, bhāradvāja, chando bahukāro. No cetaṁ chando jāyetha, nayidaṁ ussaheyya. Yasmā ca kho chando jāyati tasmā ussahati. Tasmā ussāhassa chando bahukāro”ti.
—Trong sự cố gắng, này Bhāradvāja , ước muốn được hành trì nhiều. Nếu ước muốn đối với chân lý ấy không khởi lên thì không có cố gắng. Vì ước muốn có khởi lên nên có cố gắng, do vậy, trong sự cố gắng, ước muốn được hành trì nhiều.
Pāḷi: mn95:25.3–25.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn95/vi/minh_chau)5. Chấp nhận pháp sau suy ngẫm hỗ trợ ước muốn
Dhammanijjhānakkhanti — các pháp được chấp nhận sau khi suy ngẫm; bản Việt “hoan hỷ chấp nhận pháp”. Cùng gốc với diṭṭhinijjhānakkhanti trong năm chỗ dựa ở trên: một đằng là chấp nhận quan điểm, một đằng là chấp nhận pháp đã nghe và đã xét nghĩa.
“Chandassa kho, bhāradvāja, dhammanijjhānakkhanti bahukārā. No cete dhammā nijjhānaṁ khameyyuṁ, nayidaṁ chando jāyetha. Yasmā ca kho dhammā nijjhānaṁ khamanti tasmā chando jāyati. Tasmā chandassa dhammanijjhānakkhanti bahukārā”ti.
—Trong ước muốn, này Bhāradvāja , hoan hỷ chấp nhận pháp được hành trì nhiều. Nếu không hoan hỷ chấp nhận pháp thì ước muốn không khởi lên. Vì có hoan hỷ chấp nhận pháp nên ước muốn khởi lên; do vậy, trong ước muốn, hoan hỷ chấp nhận pháp được hành trì nhiều.
Pāḷi: mn95:26.3–26.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn95/vi/minh_chau)6. Tìm hiểu nghĩa hỗ trợ chấp nhận pháp
Atthūpaparikkhā — xét nghĩa; Chú giải: xét về nghĩa và về lý do.
“Dhammanijjhānakkhantiyā kho, bhāradvāja, atthūpaparikkhā bahukārā. No cetaṁ atthaṁ upaparikkheyya, nayidaṁ dhammā nijjhānaṁ khameyyuṁ. Yasmā ca kho atthaṁ upaparikkhati tasmā dhammā nijjhānaṁ khamanti. Tasmā dhammanijjhānakkhantiyā atthūpaparikkhā bahukārā”ti.
—Trong sự hoan hỷ chấp nhận pháp, này Bhāradvāja , tìm hiểu ý nghĩa được hành trì nhiều. Nếu không tìm hiểu ý nghĩa thì không hoan hỷ chấp nhận pháp. Và vì có tìm hiểu ý nghĩa nên có sự chấp nhận pháp; do vậy, trong sự hoan hỷ chấp nhận pháp, tìm hiểu ý nghĩa được hành trì nhiều.
Pāḷi: mn95:27.3–27.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn95/vi/minh_chau)7. Thọ trì pháp hỗ trợ tìm hiểu nghĩa
Dhammadhāraṇā — ghi nhớ, giữ gìn pháp đã nghe.
“Atthūpaparikkhāya kho, bhāradvāja, dhammadhāraṇā bahukārā. No cetaṁ dhammaṁ dhāreyya, nayidaṁ atthaṁ upaparikkheyya. Yasmā ca kho dhammaṁ dhāreti tasmā atthaṁ upaparikkhati. Tasmā atthūpaparikkhāya dhammadhāraṇā bahukārā”ti.
—Trong sự tìm hiểu ý nghĩa, này Bhāradvāja , thọ trì pháp được hành trì nhiều. Nếu không có thọ trì pháp thì không tìm hiểu ý nghĩa. Và vì có thọ trì pháp, nên có tìm hiểu ý nghĩa; do vậy, trong sự tìm hiểu ý nghĩa, thọ trì pháp được hành trì nhiều.
Pāḷi: mn95:28.3–28.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn95/vi/minh_chau)8. Nghe pháp hỗ trợ thọ trì
Dhammassavana — nghe pháp; Chú giải: nghe pháp được thuyết giảng (desanādhamma).
“Dhammadhāraṇāya kho, bhāradvāja, dhammassavanaṁ bahukāraṁ. No cetaṁ dhammaṁ suṇeyya, nayidaṁ dhammaṁ dhāreyya. Yasmā ca kho dhammaṁ suṇāti tasmā dhammaṁ dhāreti. Tasmā dhammadhāraṇāya dhammassavanaṁ bahukāran”ti.
—Trong sự thọ trì pháp, này Bhāradvāja , nghe pháp được hành trì nhiều. Nếu không nghe pháp thì không có thọ trì pháp. Và do có nghe pháp nên có thọ trì pháp; do vậy, trong sự thọ trì pháp, nghe pháp được hành trì nhiều.
Pāḷi: mn95:29.3–29.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn95/vi/minh_chau)9. Lóng tai hỗ trợ nghe pháp
Sotāvadhāna — lóng tai, để tai nghe chăm chú.
“Dhammassavanassa kho, bhāradvāja, sotāvadhānaṁ bahukāraṁ. No cetaṁ sotaṁ odaheyya, nayidaṁ dhammaṁ suṇeyya. Yasmā ca kho sotaṁ odahati tasmā dhammaṁ suṇāti. Tasmā dhammassavanassa sotāvadhānaṁ bahukāran”ti.
—Trong sự nghe pháp, này Bhāradvāja , lóng tai được hành trì nhiều. Nếu không có lóng tai thì không có nghe pháp. Và vì có lóng tai nên có nghe pháp; do vậy, trong sự nghe pháp, lóng tai được hành trì nhiều.
Pāḷi: mn95:30.3–30.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn95/vi/minh_chau)10. Thân cận hỗ trợ lóng tai
Payirupāsanā — thân cận, ngồi gần hầu chuyện; bản Việt “thân cận giao thiệp” (Sujato: paying homage).
“Sotāvadhānassa kho, bhāradvāja, payirupāsanā bahukārā. No cetaṁ payirupāseyya, nayidaṁ sotaṁ odaheyya. Yasmā ca kho payirupāsati tasmā sotaṁ odahati. Tasmā sotāvadhānassa payirupāsanā bahukārā”ti.
—Trong sự lóng tai, này Bhāradvāja , thân cận giao thiệp được hành trì nhiều. Nếu không có thân cận giao thiệp thì không có lóng tai. Vì có thân cận giao thiệp nên có lóng tai; do vậy, trong sự lóng tai, thân cận giao thiệp được hành trì nhiều.
Pāḷi: mn95:31.3–31.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn95/vi/minh_chau)11. Đến gần hỗ trợ thân cận
Upasaṅkamana — đi đến gần vị thầy.
“Payirupāsanāya kho, bhāradvāja, upasaṅkamanaṁ bahukāraṁ. No cetaṁ upasaṅkameyya, nayidaṁ payirupāseyya. Yasmā ca kho upasaṅkamati tasmā payirupāsati. Tasmā payirupāsanāya upasaṅkamanaṁ bahukāran”ti.
—Trong sự thân cận giao thiệp, này Bhāradvāja , đi đến gần được hành trì nhiều. Nếu không đi đến gần thì không có thân cận giao thiệp. Và vì có đi đến gần nên có thân cận giao thiệp; do vậy, trong sự thân cận giao thiệp, đi đến gần được hành trì nhiều.
Pāḷi: mn95:32.3–32.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn95/vi/minh_chau)12. Lòng tin hỗ trợ đến gần
Saddhā — lòng tin; mắt xích cuối cùng của chuỗi ngược, cũng là bước đầu tiên của chuỗi xuôi ở mục giác ngộ. Nếu lòng tin không sinh thì không đến gần; vì lòng tin sinh nên đến gần.
“Upasaṅkamanassa kho, bhāradvāja, saddhā bahukārā. No cetaṁ saddhā jāyetha, nayidaṁ upasaṅkameyya. Yasmā ca kho saddhā jāyati tasmā upasaṅkamati. Tasmā upasaṅkamanassa saddhā bahukārā”ti.
—Trong sự đi đến gần, này Bhāradvāja , lòng tin được hành trì nhiều. Nếu lòng tin không sanh thì không đi đến gần. Và vì lòng tin sanh, nên có đi đến gần; do vậy, trong sự đi đến gần, lòng tin được hành trì nhiều.
Pāḷi: mn95:33.3–33.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn95/vi/minh_chau)Bảng tổng hợp mười hai pháp
| # | Pháp hỗ trợ (Pāḷi) | Bản Việt | Hỗ trợ cho | § |
|---|---|---|---|---|
| 1 | padhāna | tinh cần | chứng đạt chân lý | 22 |
| 2 | tulanā | cân nhắc | tinh cần | 23 |
| 3 | ussāha | cố gắng | cân nhắc | 24 |
| 4 | chanda | ước muốn | cố gắng | 25 |
| 5 | dhammanijjhānakkhanti | hoan hỷ chấp nhận pháp | ước muốn | 26 |
| 6 | atthūpaparikkhā | tìm hiểu ý nghĩa | chấp nhận pháp | 27 |
| 7 | dhammadhāraṇā | thọ trì pháp | tìm hiểu ý nghĩa | 28 |
| 8 | dhammassavana | nghe pháp | thọ trì pháp | 29 |
| 9 | sotāvadhāna | lóng tai | nghe pháp | 30 |
| 10 | payirupāsanā | thân cận giao thiệp | lóng tai | 31 |
| 11 | upasaṅkamana | đi đến gần | thân cận | 32 |
| 12 | saddhā | lòng tin | đi đến gần | 33 |
Đọc từ dưới lên là đúng thứ tự của chuỗi “giác ngộ chân lý” ở §20 — mười hai bước, không thừa không thiếu.
Kāpaṭika hoan hỷ: từ khinh Sa-môn đến kính Sa-môn
Kāpaṭika nhắc lại từng câu đã hỏi — hộ trì chân lý, giác ngộ chân lý, chứng đạt chân lý, pháp hỗ trợ cho chứng đạt — và “bất cứ điều gì con hỏi, Tôn giả Gotama đều đã trả lời”; mỗi lần đều thêm: con ưa thích, chấp nhận, và hoan hỷ. Rồi cậu thú nhận: xưa kia “chúng con” vẫn nghĩ “những Sa-môn trọc đầu, tiện nô, da đen, sinh ra từ chân của Phạm thiên kia là ai, mà đòi là người hiểu Chánh pháp?” — nay Tôn giả Gotama đã làm sinh khởi trong cậu lòng mến, lòng tịnh tín và lòng kính trọng đối với các Sa-môn.
“Saccānurakkhaṇaṁ mayaṁ bhavantaṁ gotamaṁ apucchimha, saccānurakkhaṇaṁ bhavaṁ gotamo byākāsi; tañca panamhākaṁ ruccati ceva khamati ca tena camha attamanā. Saccānubodhaṁ mayaṁ bhavantaṁ gotamaṁ apucchimha, saccānubodhaṁ bhavaṁ gotamo byākāsi; tañca panamhākaṁ ruccati ceva khamati ca tena camha attamanā. Saccānuppattiṁ mayaṁ bhavantaṁ gotamaṁ apucchimha, saccānuppattiṁ bhavaṁ gotamo byākāsi; tañca panamhākaṁ ruccati ceva khamati ca tena camha attamanā. Saccānuppattiyā bahukāraṁ dhammaṁ mayaṁ bhavantaṁ gotamaṁ apucchimha, saccānuppattiyā bahukāraṁ dhammaṁ bhavaṁ gotamo byākāsi; tañca panamhākaṁ ruccati ceva khamati ca tena camha attamanā. Yaṁyadeva ca mayaṁ bhavantaṁ gotamaṁ apucchimha taṁtadeva bhavaṁ gotamo byākāsi; tañca panamhākaṁ ruccati ceva khamati ca tena camha attamanā. Mayañhi, bho gotama, pubbe evaṁ jānāma: ‘ke ca muṇḍakā samaṇakā ibbhā kaṇhā bandhupādāpaccā, ke ca dhammassa aññātāro’ti? Ajanesi vata me bhavaṁ gotamo samaṇesu samaṇapemaṁ, samaṇesu samaṇapasādaṁ, samaṇesu samaṇagāravaṁ.
—Chúng con đã hỏi Tôn giả Gotama về hộ trì chân lý. Tôn giả Gotama đã trả lời về hộ trì chân lý. Chúng con tùy hỷ và chấp nhận, và do vậy, chúng con hoan hỷ. Chúng con đã hỏi Tôn giả Gotama về giác ngộ chân lý. Tôn giả Gotama đã trả lời về giác ngộ chân lý. Chúng con đã tùy hỷ và chấp nhận; do vậy, chúng con hoan hỷ. Chúng con đã hỏi Tôn giả Gotama về chứng đạt chân lý. Tôn giả Gotama đã trả lời về chứng đạt chân lý. Chúng con tùy hỷ và chấp nhận; do vậy, chúng con hoan hỷ. Trong sự chứng đạt chân lý, chúng con hỏi Tôn giả Gotama về pháp nào được hành trì nhiều. Trong sự chứng đạt chân lý, Tôn giả Gotama đã trả lời pháp nào được hành trì nhiều. Chúng con tùy hỷ và chấp nhận; do vậy, chúng con hoan hỷ. Chúng con đã hỏi Tôn giả Gotama về bất cứ điều gì, Tôn giả Gotama đã trả lời các điều ấy. Chúng con tùy hỷ và chấp nhận; do vậy, chúng con hoan hỷ. Thưa Tôn giả Gotama , xưa kia chúng con biết (sự phân biệt) như sau: “Và ai là những Sa-môn trọc đầu, tiện nô, hắc nô, sanh từ gót chân của Phạm thiên, và ai là những người hiểu biết Chánh Pháp”. Thật sự Tôn giả Gotama đã làm sống dậy nơi con lòng ái kính Sa-môn đối với các Sa-môn, lòng tin kính Sa-môn đối với các Sa-môn.
Pāḷi: mn95:34.1–34.13 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn95/vi/minh_chau)Lưu ý bản dịch. Câu cuối Pāḷi nêu ba điều: samaṇapemaṁ (lòng mến), samaṇapasādaṁ (lòng tịnh tín), samaṇagāravaṁ (lòng kính trọng) đối với Sa-môn; bản Việt chỉ dịch hai (“lòng ái kính”, “lòng tin kính”). Cụm bandhupādāpaccā (bản Việt “sanh từ gót chân của Phạm thiên”) ám chỉ quan niệm giai cấp thấp nhất sinh ra từ chân Phạm thiên — Sujato dịch black spawn from the feet of our kinsman.
Kết kinh
Kāpaṭika tán thán (Pāḷi rút gọn bằng …pe…; bản Việt dịch đủ bốn ảnh dụ: dựng lại vật bị lật úp, phơi bày vật bị che, chỉ đường cho người lạc, mang đèn vào bóng tối) rồi xin quy y, làm cư sĩ trọn đời. Kinh dừng ở lời quy y; không nói gì thêm về Caṅkī hay năm trăm Bà-la-môn.
Abhikkantaṁ, bho gotama …pe… upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama ! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama ! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng.
Pāḷi: mn95:35.1–35.2 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn95/vi/minh_chau)Giải thích
1. Ba tầng của “chân lý”, không phải hai. Câu hỏi của Kāpaṭika chỉ biết hai trạng thái: hoặc “chỉ đây là thật”, hoặc sai. Thế Tôn mở ra ba tầng với ba tên gọi riêng: hộ trì (anurakkhaṇā — giữ gìn), giác ngộ (anubodha — thức tỉnh, thấy ra) và chứng đạt (anuppatti — đến nơi). Tầng thứ nhất là thái độ trung thực của người chưa biết: được phép tin, ưa, nghe, suy, chấp nhận — chỉ không được nói quá chỗ mình đứng. Tầng thứ hai là khi tự thân chứng và thấy bằng tuệ. Tầng thứ ba là làm cho điều đã thấy trở thành của mình qua tu tập. Trả lời xong tầng thứ nhất và tầng thứ hai, Thế Tôn đều nói thêm “nhưng như vậy chưa phải là…” tầng kế, để người nghe không dừng lại ở tầng dưới.
2. Không chống niềm tin — đặt niềm tin vào đúng chỗ. Đọc vội có thể nghĩ kinh này hạ thấp lòng tin. Thật ra lòng tin xuất hiện ở cả hai đầu: là một trong năm chỗ dựa có thể sai (§14), mà cũng là mắt xích đầu tiên, không thể thiếu, của con đường đến chân lý (§20, §33). Khác nhau ở chỗ: lòng tin của Bà-la-môn là “không có gốc” (amūlikā), truyền qua một hàng người không ai tự thấy; còn lòng tin ở §20 chỉ được đặt sau khi đã xem xét vị thầy qua tham, sân, si — xem vị ấy có vì phiền não mà nói biết khi không biết hay không.
3. Chỗ gặp nhau với Kinh Kālāma. Ba trong năm chỗ dựa ở đây — anussava (truyền nghe), ākāraparivitakka, diṭṭhinijjhānakkhanti — có mặt trong danh sách mười điều “chớ vội tin” của Kinh Kālāma (AN 3.65) (tin và ưa thích thì không); danh sách ấy còn có piṭakasampadāna (Thánh điển), cùng gốc với chữ Kāpaṭika dùng khi nêu câu hỏi (piṭakasampadāya, §12); và ở đó cũng xét tham, sân, si. Kinh Cankì thì nối tiếp bằng cả một con đường: từ niềm tin có xem xét đến chỗ tự thân chứng và thấy bằng tuệ.
4. Đối đáp với một người trẻ. Thế Tôn nhắc Kāpaṭika vì cậu chen lời người lớn, nhưng khi cậu hỏi thì Ngài trả lời cậu đến cùng — từ câu hỏi về Veda đến mười hai lượt hỏi “pháp nào hỗ trợ nhiều” — và chính cậu, không phải Caṅkī, là người quy y cuối kinh. Ngài cũng không bác Veda bằng một Thánh điển khác, mà chỉ hỏi một câu về cách biết: “ai đã tự thấy?”.
5. Ứng dụng. Khi tự thấy mình sắp nói “chỉ điều này là đúng”, có thể dừng lại hỏi: điều này mình đã tự biết, tự thấy, hay chỉ là mình tin, mình thích, mình nghe, mình suy ra, mình thấy hợp lý? Nếu là năm điều sau thì nói đúng như vậy — “đây là niềm tin của tôi” — đó đã là hộ trì chân lý.
Đối chiếu các tạng
Không có bản Hán tương đương. Theo Anālayo, Kinh Cankì không có bản song song trong các bộ A-hàm chữ Hán (A Comparative Study of the Majjhima-nikāya, tr. 557, thứ cấp). SuttaCentral liệt kê bốn bản tương đương tiếng Sanskrit, đều là mảnh vỡ: SHT Sutta 25 (SHT 883, 165.29–31, 1025A), SF 49 (Hartmann 1991: 90–92), SF 67 (Hartmann 2002: 3–16, More Fragments of the Caṅgīsūtra) và SF 7 (Brekke 2000: 55–61, The Caṁgīsūtra of the Mahāsaṁghika-Lokottaravādins). Theo Anālayo, các mảnh này thuộc hai bản: một bản có lẽ tên Kāmaṭhika-sūtra (đặt theo tên người thanh niên) và một bản tên Caṅgī-sūtra. Bài này chưa đối chiếu trực tiếp các mảnh Sanskrit; các điểm khác dưới đây lấy từ Anālayo (thứ cấp).
SuttaCentral còn ghi hai nhóm tương đương một phần trong tạng Pāḷi. Thứ nhất, đoạn Caṅkī kể đức của Phật (§9) giống đoạn tương ứng trong DN 4 (Soṇadaṇḍa) và DN 5 (Kūṭadanta). Thứ hai, một đoạn của kinh (đánh dấu #12.7 theo cách đánh số của SuttaCentral) được gắn với AN 5.192, DN 3, DN 13 và Luật tạng (Kd 6) — nhiều khả năng là danh sách mười ẩn sĩ soạn chú thuật, vốn cũng có trong các bản ấy. Các bản này chưa đối chiếu trong bài.
| Điểm | MN95 (Pāḷi) | Mảnh Sanskrit (theo Anālayo, thứ cấp) |
|---|---|---|
| Tên kinh | theo Caṅkī | Caṅgī-sūtra theo Caṅkī; Kāmaṭhika-sūtra theo người thanh niên |
| Tên làng | Opāsāda | Upasālā (Kāmaṭhika), Upaśaya (Caṅgī) |
| Khu rừng | rừng chư Thiên, rừng sāla | rừng cây śiṃśapā phía bắc làng (Kāmaṭhika); devāṃmravana (Caṅgī) |
| Lý do Caṅkī đến gặp | hai mươi điều | Kāmaṭhika thêm: đã hết tái sinh, pháp hay ở đầu-giữa-cuối; Caṅgī thêm: ở nơi vắng, chứng các định tịch tịnh, trí tuệ vượt người, đủ minh hạnh, được thức ăn thượng vị, nơi Ngài ở thì phi nhân không quấy người |
| Các Bà-la-môn khác | Caṅkī tự nói “một điều cũng đủ” | (Caṅgī) chính các Bà-la-môn kết luận một điều cũng đủ để đi, dù Phật ở xa cả trăm do-tuần |
| Câu hỏi về các bậc xưa | có ai nói “tôi biết, tôi thấy” | (Kāmaṭhika) có ai tự chứng năm pháp |
| Phản ứng của người thanh niên | ba lần “thưa không” | im lặng, cúi đầu |
| Nguồn hiểu biết được xét | năm chỗ dựa (tin, ưa thích, truyền nghe, suy lý, chấp nhận quan điểm) | (Caṅgī) điều thấy, nghe, cảm nhận, nhận biết |
| Người được xét về tham, sân, si | một vị tỳ-kheo | Như Lai xuất hiện ở đời |
| Chuỗi các bước | nghe → thọ trì; chấp nhận → ước muốn | (Caṅgī) thêm “học thuộc” sau khi nghe, và “hỷ” giữa chấp nhận và ước muốn |
| Kết | Kāpaṭika quy y | (Kāmaṭhika) Phật giảng pháp thứ đệ cho Caṅkī, ông chứng Dự lưu, quy y, thỉnh Phật và chư Tăng thọ trai, Phật nói kệ |
Anālayo còn nhận xét: câu “Idha, bhāradvāja, bhikkhu…” ở MN95 giống hệt một câu trong MN55 (Kinh Jīvaka), và chữ bhikkhu có thể đã lẫn sang từ MN55 trong quá trình truyền tụng, vì các bản Sanskrit nói về Như Lai — nhưng ông cũng nêu chỗ khó của giả thuyết ấy (bỏ bhikkhu thì câu Pāḷi không còn chủ ngữ). Ảnh dụ “người mù dắt người mù” cũng có trong Kaṭha Upaniṣad và kinh điển Jaina (theo Anālayo, thứ cấp, chưa đối chiếu).
Tra cứu trong bài
- Nhân vật: Caṅkī · Kāpaṭika · Đức Phật · Vua Pasenadi
- Thuật ngữ: Hộ trì chân lý (saccānurakkhaṇā) · Tam Bảo · Niết-bàn
- Dịch giả: HT. Thích Minh Châu
Nguồn tham khảo
- Pāḷi (Mahāsaṅgīti): MN 95 — SuttaCentral
- Bản Việt — HT. Thích Minh Châu dịch (Bình Anson hiệu đính): MN 95 bản Việt — SuttaCentral
- English — Bhikkhu Sujato, With Caṅkī: MN 95 bản Anh — SuttaCentral
- Danh mục kinh tương đương: MN 95 — SuttaCentral (API parallels, tra ngày 20/10/2026): SHT Sutta 25, SF 7, SF 49, SF 67; một phần: DN 4, DN 5, AN 5.192, DN 3, DN 13, Kd 6.
- Kinh Kālāma (so sánh ở mục Giải thích): AN 3.65 — SuttaCentral
- Chú giải Pāḷi: Papañcasūdanī (Majjhimanikāya-aṭṭhakathā), Caṅkīsuttavaṇṇanā, Ps (PTS) III 414–427 (bản VRI Chaṭṭha Saṅgāyana, số trang PTS theo mốc trong bản VRI).
- Chú giải Trung Bộ Kinh, bản Thái-Việt (sudhamma.net), mục Kinh số 95 - Giải thích kinh Caṅkī: Chú giải Trung Bộ Kinh (sudhamma.net) — bản web không có số trang; số trang trong bài là trang PTS.
- Chú Giải Trung Bộ Kinh, bản Việt (vietheravada.net): chugiaitrungbokinh.pdf (vietheravada.net) — bản này chỉ gồm MN1–50, không có phần MN95; bài không trích từ bản này.
- Anālayo, A Comparative Study of the Majjhima-nikāya, vol. 2, tr. 557–563 (thứ cấp; dùng cho mục Đối chiếu).
📖 Nguồn / bản quyền: SuttaCentral — MN 95 (Caṅkī Sutta), Pāḷi Mahāsaṅgīti + bản Việt HT. Thích Minh Châu