MA28 - Kinh Giáo Hóa Bịnh (Trung A-hàm 28)
Tóm tắt nhanh: 教化病經 (Kinh Giáo Hóa Bịnh, “kinh giáo hóa người bệnh”) là bài Trung A-hàm 28 của Hán tạng. Tại Xá-vệ, Trưởng giả Cấp Cô Độc bệnh nguy kịch, sai người đến hỏi thăm Đức Phật và thỉnh Tôn giả Xá-lợi-phất đến nhà. Tôn giả nói mười lần “chớ sợ”: phàm phu vì bất tín, ác giới, không đa văn, xan tham, ác tuệ, tà kiến, tà chí, tà giải, tà thoát, tà trí mà đọa địa ngục, còn trưởng giả chỉ có mười điều ngược lại và vốn đã là bậc Tu-đà-hoàn. Nghe xong ông khỏi bệnh, ngồi dậy và kể lại chuyện xưa: ở Vương Xá lần đầu nghe danh Phật, nửa đêm ra cổng thành được vị trời Mật-khí khuyên đi tiếp, gặp Phật ở Trúc Lâm, thấy bốn Thánh đế và quy y; rồi về Xá-vệ trải tiền mua vườn của Thắng Lâm Đồng tử, dựng mười sáu dãy nhà lớn. Cuối kinh, Thế Tôn khen Xá-lợi-phất đã đem bốn điều Ngài nói lược mà giảng rộng thành mười cho Cấp Cô Độc.
🔗 Song tạng: SuttaCentral xếp MN143 - Kinh Giáo Giới Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍikovāda Sutta) vào nhóm kinh “gần giống” bài này, nhưng hai kinh chỉ trùng khung mở đầu (Cấp Cô Độc bệnh nặng, thỉnh Xá-lợi-phất): ở MN143 Tôn giả dạy không chấp thủ và ông mệnh chung, còn ở MA28 ông nghe mười lời “chớ sợ” rồi khỏi bệnh. Bản Pāḷi tương đương thật với phần giảng của MA28 là SN 55.26 (Tương Ưng Bộ) — xem Đối chiếu.
Bối cảnh
Kinh là bài thứ tám (教化病經第八竟) của phẩm Xá-lê-tử Tương Ưng (舍梨子相應品), phẩm thứ ba của Trung A-hàm, và là bài cuối của quyển 6 (中阿含經卷第六); cuối kinh ghi kinh dài 3.898 chữ (三千八百九十八字). Bản Hán do Cù-đàm Tăng-già-đề-bà (瞿曇僧伽提婆, Gautama Saṅghadeva) dịch đời Đông Tấn (397–398). Bản Việt dùng ở đây là của HT. Tuệ Sỹ.
Nơi thuyết là nước Xá-vệ (舍衛國, Sāvatthī), rừng Thắng Lâm (勝林, tức Kỳ-đà-lâm, Jetavana), vườn Cấp Cô Độc. Nhân vật chính là Trưởng giả Cấp Cô Độc (長者給孤獨; Pāḷi Anāthapiṇḍika — Tuệ Sỹ, Trung A-hàm I, tr. 205, chú thích 1), chính người đã dâng khu vườn này; giữa kinh ông cho biết tên thật là Tu-đạt-đa. Bản Hán gọi Tôn giả Sāriputta là 舍梨子 (Xá-lê-tử), bản Việt dùng tên quen thuộc Xá-lợi-phất; ông gọi Tôn giả là “Tôn giả” và tự xưng “con”, Tôn giả gọi ông là “Trưởng giả”.
我聞如是:一時,佛遊舍衛國,在勝林給孤獨園。
Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm Lâm Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
MA 28 - T26 0458c01–c02 · Việt: Tuệ Sỹ (ma28/vi/tue_sy)(Bản Việt ghi “rừng Thắng Lâm Lâm Lâm” — chữ “Lâm” bị lặp khi chép; Hán chỉ có 勝林, “rừng Thắng Lâm”.)
Về người bệnh, Chú giải Pāḷi của kinh MN143 cho thêm một chi tiết: theo Chú giải ấy (Papañcasūdanī, Ps V 78), khi đôi chân còn đi được, mỗi ngày ông đến hầu Đức Phật một, hai hoặc ba lần, không gián đoạn; và (Ps V 79–80) ông chưa bao giờ đến chỗ Phật tay không. Chú giải ấy viết cho MN143, không phải cho bài Hán này — nêu ở đây chỉ để biết thêm về nhân vật.
Trưởng giả lâm bệnh, sai người đi thăm hỏi
Trưởng giả mang bệnh nguy kịch (疾病危篤) và dặn một người giúp việc mang lời đến hai nơi. Đến Đức Phật: nhân danh ông đảnh lễ và hỏi thăm sức khỏe Thế Tôn. Đến Tôn giả Xá-lợi-phất: cũng đảnh lễ, hỏi thăm y như vậy, rồi báo ông bệnh nặng, “rất muốn được gặp Tôn giả nhưng cơ thể quá yếu, không còn sức đi đến”, và thỉnh Tôn giả vì lòng từ mà đến nhà. Lời thỉnh đến nhà chỉ gửi Xá-lợi-phất.
爾時,長者給孤獨疾病危篤,於是,長者給孤獨告一使人:「汝往詣佛,為我稽首禮世尊足,問訊世尊,聖體康強,安快無病,起居輕便,氣力如常耶?作如是語:『長者給孤獨稽首佛足,問訊世尊:「聖體康強,安快無病,起居輕便,氣力如常耶?」』汝既為我問訊佛已,往詣尊者舍梨子所,為我稽首禮彼足已,問訊尊者,聖體康強,安快無病,起居輕便,氣力如常不?作如是語:『長者給孤獨稽首尊者舍梨子足,問訊尊者:「聖體康強,安快無病,起居輕便,氣力如常不?」尊者舍梨子!長者給孤獨疾病極困,今至危篤,長者給孤獨至心欲見尊者舍梨子,然體至羸乏,無力可來詣尊者舍梨子所。善哉!尊者舍梨子!為慈愍故,願往至長者給孤獨家。』」
Bấy giờ Trưởng giả Cấp Cô Độc mang bệnh nguy kịch. Trưởng giả bảo người giúp việc rằng:
“Ngươi hãy đi đến chỗ Đức Phật, vì ta mà đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn hỏi thăm sức khỏe, xem Thánh thể có được an khang, khỏe mạnh, không bệnh tật, đi đứng thoải mái, khí lực có được bình thường không? Rồi nói như vầy: ‘Trưởng giả Cấp Cô Độc cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, thăm hỏi Đức Thế Tôn Thánh thể có được an khang, khỏe mạnh, không bệnh tật, đi đứng thoải mái, khí lực có được bình thường không?’ Sau khi ngươi đã vì ta mà thăm hỏi Đức Thế Tôn rồi, hãy đi đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất, hãy vì ta mà đảnh lễ dưới chân ngài rồi hỏi thăm Tôn giả xem Thánh thể có được an khang, khỏe mạnh, không bệnh tật, đi đứng thoải mái, khí lực có được bình thường không? Rồi nói như vầy: ‘Trưởng giả Cấp Cô Độc cúi đầu đảnh lễ dưới chân Tôn giả Xá-lợi-phất, thăm hỏi Thánh thể có được an khang, khỏe mạnh, không bệnh tật, đi đứng thoải mái, khí lực có được bình thường không? Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, Trưởng giả Cấp Cô Độc đang mang bệnh tật rất ngặt, nay đã đến hồi nguy kịch. Trưởng giả Cấp Cô Độc với tâm chí thiết rất muốn được gặp Tôn giả Xá-lợi-phất, nhưng cơ thể quá yếu đuối không còn chút khí lực để đi đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất được. Lành thay, Tôn giả Xá-lợi-phất, xin ngài hãy vì lòng từ, mong ngài đến nhà Trưởng giả Cấp Cô Độc.’”
MA 28 - T26 0458c02–c16 · Việt: Tuệ Sỹ (ma28/vi/tue_sy)Người ấy đến Phật, đảnh lễ, đứng một bên, nói lại lời hỏi thăm. Thế Tôn đáp bằng một lời chúc: mong trưởng giả an ổn khoái lạc, và mong cả trời, người, a-tu-la, càn-thát-bà, la-sát cùng các loài khác được thân an ổn khoái lạc.
於是,使人受長者給孤獨教已,往詣佛所,稽首禮足,却住一面,白曰:「世尊!長者給孤獨稽首佛足,問訊世尊:『聖體康強,安快無病,起居輕便,氣力如常耶?』」爾時,世尊告使人曰:「令長者給孤獨安隱快樂,令天及人、阿修羅、揵塔惒、羅剎及餘種種身安隱快樂。」
Bấy giờ, sau khi vâng lời dạy của Trưởng giả Cấp Cô Độc, người giúp việc liền đi đến chỗ Đức Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Đức Phật rồi đứng sang một bên thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, Trưởng giả Cấp Cô Độc cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, thăm hỏi Đức Thế Tôn Thánh thể có được an khang, khỏe mạnh, không bệnh tật, đi đứng thoải mái, khí lực có được bình thường không?”
Đức Thế Tôn bảo sứ giả rằng:
“Mong cho Trưởng giả Cấp Cô Độc an hưởng khoái lạc. Mong cho Chư Thiên, A-tu-la, Càn-thát-bà, La-sát và các chủng loại khác, thân thể được an ổn khoái lạc”.
MA 28 - T26 0458c17–c22 · Việt: Tuệ Sỹ (ma28/vi/tue_sy)(Lưu ý: bản Việt kể “Chư Thiên, A-tu-la, Càn-thát-bà, La-sát” — sót “người”; Hán là 令天及人、阿修羅、揵塔惒、羅剎, “trời và người, a-tu-la, càn-thát-hòa, la-sát”. Học giả Anālayo ghi nhận lời chúc này là một khuôn văn lặp lại nhiều lần trong Trung A-hàm, còn bản Pāḷi tương đương SN 55.26 không có — Anālayo, A Comparative Study of the Majjhima-nikāya, vol. 1, tr. 521, chú 383, thứ cấp.)
Người ấy ghi nhớ, đảnh lễ, đi quanh Phật ba vòng rồi đến chỗ Xá-lợi-phất, ngồi một bên, nói lại lời hỏi thăm và lời thỉnh. Tôn giả im lặng nhận lời; sứ giả đi quanh ba vòng rồi về.
於是,使人聞佛所說,善受善持,稽首佛足,繞三匝而去,往詣尊者舍梨子所,稽首禮足,却坐一面,白曰:「尊者舍梨子!長者給孤獨稽首尊者舍梨子足,問訊尊者:『聖體康強,安快無病,起居輕便,氣力如常不?』尊者舍梨子!長者給孤獨疾病極困,今至危篤,長者給孤獨至心欲見尊者舍梨子,然體至羸乏,無力可來詣尊者舍梨子所。善哉!尊者舍梨子!為慈愍故,往詣長者給孤獨家。」尊者舍梨子即為彼故,默然而受。於是,使人知尊者舍梨子默然受已,即從坐起,稽首作禮,繞三匝而去。
Người giúp việc nghe Phật dạy như thế, ghi nhớ kỹ, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, đi quanh ba vòng, rồi đi đến Tôn giả Xá-lợi-phất, cúi đầu đảnh lễ rồi ngồi sang một bên và thưa rằng:
“Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, Trưởng giả Cấp Cô Độc cúi đầu đảnh lễ dưới chân ngài, xin thăm hỏi Tôn giả Thánh thể có được an khang, khỏe mạnh, không bệnh tật, đi đứng thoải mái, khí lực có được bình thường không? Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, Trưởng giả Cấp Cô Độc đang mang bệnh tật rất hiểm nghèo, nay đã đến hồi nguy kịch. Trưởng giả Cấp Cô Độc với tâm chí thiết rất muốn được gặp Tôn giả Xá-lợi-phất, nhưng cơ thể quá yếu đuối, không còn chút khí lực để đi đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất được. Lành thay, Tôn giả Xá-lợi-phất, xin ngài hãy vì lòng từ, mong ngài đến nhà Trưởng giả Cấp Cô Độc”.
Tôn giả Xá-lợi-phất liền im lặng nhận lời. Bấy giờ sứ giả biết Tôn giả Xá-lợi-phất đã im lặng nhận lời, bèn rời chỗ ngồi đứng dậy, đi quanh ba vòng rồi ra về.
MA 28 - T26 0458c22–0459a04 · Việt: Tuệ Sỹ (ma28/vi/tue_sy)Xá-lợi-phất đến thăm bệnh
Sáng hôm sau, Tôn giả khoác y, ôm bát đến nhà trưởng giả (kinh không nhắc ai đi cùng). Thấy Tôn giả từ xa, trưởng giả cố ngồi dậy khỏi giường; Tôn giả ngăn lại — Hán lặp hai lần 長者莫起 “Trưởng giả chớ dậy”, bản Việt nói một lần — và tự ngồi một giường khác. Tôn giả hỏi ba điều: bệnh hôm nay thế nào, ăn uống được nhiều ít, cơn đau có giảm dần không. Ông đáp: bệnh rất nguy kịch, ăn uống không được gì, đau chỉ tăng chứ không giảm.
尊者舍梨子過夜平旦,著衣持鉢,往詣長者給孤獨家。長者給孤獨遙見尊者舍梨子來,見已,便欲從床而起。尊者舍梨子見彼長者欲從床起,便止彼曰:「長者莫起!長者莫起!更有餘床,我自別坐。」尊者舍梨子即坐其床,坐已,問曰:「長者所患今復何似,飲食多少,疾苦轉損,不至增耶?」長者答曰:「所患至困,飲食不進,疾苦但增而不覺損。」
Sau khi đêm đã qua, vào lúc sáng sớm, Tôn giả Xá-lợi-phất khoác y, ôm bát đi đến nhà Trưởng giả Cấp Cô Độc. Trưởng giả Cấp Cô Độc thấy Tôn giả Xá-lợi-phất từ đàng xa đi đến, muốn ngồi dậy lhỏi giường. Tôn giả Xá-lợi-phất thấy Trưởng giả Cấp Cô Độc muốn từ giường ngồi dậy, liền cản lại rằng:
“Này Trưởng giả, chớ ngồi dậy. Còn giường khác đây, tôi sẽ ngồi riêng”.
Tôn giả Xá-lợi-phất liền ngồi lên giường ấy, rồi hỏi rằng:
“Bệnh trạng của Trưởng giả hôm nay thế nào? Ăn uống được nhiều ít? Sự đau đớn giảm dần không đến nỗi tăng thêm chăng?”
Trưởng giả Cấp Cô Độc trả lời rằng:
“Bệnh tình của con rất nguy kịch, ăn uống chẳng được gì cả. Sự đau đớn chỉ tăng thêm chứ không thấy giảm bớt chút nào”.
MA 28 - T26 0459a04–a12 · Việt: Tuệ Sỹ (ma28/vi/tue_sy)(Chữ “lhỏi giường” trong bản Việt là lỗi gõ của “khỏi giường”; Hán 便欲從床而起, “muốn từ giường ngồi dậy”.)
Khuôn chung của mười lời “chớ sợ”
Nghe ông đáp xong, Tôn giả nói ngay một bài pháp. Bài pháp gồm mười đoạn cùng một khuôn năm bước, trích nguyên văn một lần dưới đây (lấy đoạn thứ nhất, về lòng tin, làm mẫu):
- Trấn an: “Trưởng giả chớ sợ. Vì sao vậy?” (Hán lặp hai lần 長者莫怖!長者莫怖!).
- Phàm phu: kẻ phàm phu ngu si vì có điều xấu X, khi thân hoại mạng chung sẽ đến ác xứ, sanh vào địa ngục.
- Trưởng giả: ông không có X, chỉ có điều tốt Y.
- Lợi ích: nhờ Y mà ông có thể diệt được đau khổ, sanh khoái lạc vô cùng; hoặc nhờ Y mà chứng quả Tư-đà-hàm hay A-na-hàm.
- Nền tảng: vì ông vốn đã chứng quả Tu-đà-hoàn (長者本已得須陀洹).
尊者舍梨子告曰:「長者莫怖!長者莫怖!所以者何?若愚癡凡夫成就不信,身壞命終,趣至惡處,生地獄中。長者今日無有不信,唯有上信,長者因上信故,或滅苦痛,生極快樂,因上信故,或得斯陀含果,或阿那含果,長者本已得須陀洹。
Tôn giả Xá-lợi-phất bảo rằng:
“Này Trưởng giả chớ sợ. Vì sao vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si, thành tựu bất tín, thì khi thân hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn Trưởng giả ngày nay không hề có sự bất tín, mà chỉ có sự thượng tín. Do thượng tín ấy Trưởng giả sẽ diệt được sự đau nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc vô cùng; hoặc do thượng tín ấy sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hay quả A-na-hàm, vì Trưởng giả vốn đã chứng quả Tu-đà-hoàn.
MA 28 - T26 0459a12–a17 · Việt: Tuệ Sỹ (ma28/vi/tue_sy)
Chữ “hoặc” (或) ở bước 4 đáng để ý: Hán viết 或滅苦痛,生極快樂……或得斯陀含果,或阿那含果 — “hoặc diệt được đau khổ, sanh cực lạc… hoặc đắc quả Tư-đà-hàm, hoặc quả A-na-hàm”. Bản Việt dịch vế đầu là “sẽ diệt được”, nghe chắc chắn hơn chữ Hán một chút. Tuệ Sỹ chú ngay đầu bài giảng: “Nội dung bài thuyết pháp sau đây không đồng nhất với bản Pāli tương đương” (Trung A-hàm I, tr. 207, chú thích 2). Chín đoạn sau chỉ khác nhau ở cặp X–Y.
1. Bất tín → thượng tín
Phàm phu “thành tựu bất tín” (成就不信); trưởng giả “không hề có sự bất tín, mà chỉ có sự thượng tín” (唯有上信 — lòng tin bậc cao). (Khung trích ở trên.)
2. Ác giới → thiện giới
若愚癡凡夫因惡戒故,身壞命終,趣至惡處,生地獄中。長者無有惡戒,唯有善戒,
Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si do ác giới, thì khi thân hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn Trưởng giả không hề có ác giới, mà Trưởng giả chỉ có thiện giới.
MA 28 - T26 0459a18–a20 · Việt: Tuệ Sỹ (ma28/vi/tue_sy)3. Không đa văn → đa văn
Đa văn (多聞) là nghe nhiều, học nhiều giáo pháp.
若愚癡凡夫因不多聞,身壞命終,趣至惡處,生地獄中。長者無不多聞,唯有多聞,
Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si không có đa văn, thì khi thân hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn Trưởng giả không hề có sự không đa văn.
MA 28 - T26 0459a23–a25 · Việt: Tuệ Sỹ (ma28/vi/tue_sy)(Lưu ý: ở đoạn này bản Việt chỉ có “Còn Trưởng giả không hề có sự không đa văn” — sót vế “mà chỉ có đa văn”; Hán đủ hai vế 長者無不多聞,唯有多聞.)
4. Xan tham → huệ thí
Xan tham (慳貪) là keo kiệt, bám giữ của cải; huệ thí (惠施) là rộng rãi bố thí — đức tính nổi bật nhất của người được gọi là “Cấp Cô Độc”.
若愚癡凡夫因慳貪故,身壞命終,趣至惡處,生地獄中。長者無有慳貪,唯有惠施,
Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si nhân có sự xan tham, thì khi thân hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn Trưởng giả không hề có xan tham mà chỉ có huệ thí.
MA 28 - T26 0459a28–0459b01 · Việt: Tuệ Sỹ (ma28/vi/tue_sy)5. Ác tuệ → thiện tuệ
若愚癡凡夫因惡慧故,身壞命終,趣至惡處,生地獄中。長者無有惡慧,唯有善慧,
Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si nhân có ác tuệ, thì khi thân hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn Trưởng giả không hề có ác tuệ mà chỉ có thiện tuệ.
MA 28 - T26 0459b04–b06 · Việt: Tuệ Sỹ (ma28/vi/tue_sy)6. Tà kiến → chánh kiến
Từ đoạn này trở đi, mỗi cặp là một chữ “tà” (邪) đối với một chữ “chánh” (正).
若愚癡凡夫因邪見故,身壞命終,趣至惡處,生地獄中。長者無有邪見,唯有正見,
Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si nhân có tà kiến, thì khi thân hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn Trưởng giả không hề có tà kiến mà chỉ có chánh kiến.
MA 28 - T26 0459b09–b11 · Việt: Tuệ Sỹ (ma28/vi/tue_sy)7. Tà chí → chánh chí
Hán là 邪志 / 正志 (tà chí / chánh chí). Bản Việt ở vế phàm phu dịch “tà tư duy”, ở vế trưởng giả lại giữ “tà chí… chánh chí”; Tuệ Sỹ chú: “Bản Hán: tà chí 邪 志, đối lập với chánh tư duy trong Thánh đạo tám chi” (tr. 208, chú thích 3) — tức là chi thứ hai của Bát Thánh đạo.
若愚癡凡夫因邪志故,身壞命終,趣至惡處,生地獄中。長者無有邪志,唯有正志,
Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si nhân có tà tư duy, thì khi thân hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn Trưởng giả không hề có tà chí mà chỉ có chánh chí.
MA 28 - T26 0459b14–b16 · Việt: Tuệ Sỹ (ma28/vi/tue_sy)8. Tà giải → chánh giải
若愚癡凡夫因邪解故,身壞命終,趣至惡處,生地獄中。長者無有邪解,唯有正解,
Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si nhân có tà giải, thì khi thân hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn Trưởng giả không hề có tà giải mà chỉ có chánh giải.
MA 28 - T26 0459b19–b21 · Việt: Tuệ Sỹ (ma28/vi/tue_sy)9. Tà thoát → chánh thoát
若愚癡凡夫因邪脫故,身壞命終,趣至惡處,生地獄中。長者無有邪脫,唯有正脫,
Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si nhân có tà thoát, thì khi thân hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn Trưởng giả không hề có tà thoát mà chỉ có chánh thoát.
MA 28 - T26 0459b24–b26 · Việt: Tuệ Sỹ (ma28/vi/tue_sy)10. Tà trí → chánh trí
Đoạn cuối khép lại cả bài pháp, trích trọn đến câu “vốn đã chứng quả Tu-đà-hoàn”.
若愚癡凡夫因邪智故,身壞命終,趣至惡處,生地獄中。長者無有邪智,唯有正智,長者因正智故,或滅苦痛,生極快樂,因正智故,或得斯陀含果,或阿那含果,長者本已得須陀洹。」
Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si nhân có tà trí, thì khi thân hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn Trưởng giả không hề có tà trí mà chỉ có chánh trí. Do chánh trí ấy Trưởng giả sẽ diệt được sự đau nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc vô cùng; hoặc do chánh trí ấy sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hay quả A-na-hàm vì trưởng giả vốn đã chứng quả Tu-đà-hoàn”.
MA 28 - T26 0459c01–c05 · Việt: Tuệ Sỹ (ma28/vi/tue_sy)Bảng tổng hợp mười lời “chớ sợ”
Kinh không tự đánh số các đoạn; số thứ tự dưới đây là của bài này, theo đúng thứ tự Hán.
| # | Phàm phu đọa địa ngục vì | Trưởng giả chỉ có | ¶ |
|---|---|---|---|
| 1 | bất tín 不信 | thượng tín 上信 | 15 |
| 2 | ác giới 惡戒 | thiện giới 善戒 | 16 |
| 3 | không đa văn 不多聞 | đa văn 多聞 | 17 |
| 4 | xan tham 慳貪 | huệ thí 惠施 | 18 |
| 5 | ác tuệ 惡慧 | thiện tuệ 善慧 | 19 |
| 6 | tà kiến 邪見 | chánh kiến 正見 | 20 |
| 7 | tà chí 邪志 | chánh chí 正志 | 21 |
| 8 | tà giải 邪解 | chánh giải 正解 | 22 |
| 9 | tà thoát 邪脫 | chánh thoát 正脫 | 23 |
| 10 | tà trí 邪智 | chánh trí 正智 | 24 |
Cả mười đoạn đều kết bằng cùng một lợi ích (diệt khổ, sanh cực lạc; hoặc chứng Tư-đà-hàm, A-na-hàm) và cùng một nền tảng: trưởng giả vốn đã là bậc Tu-đà-hoàn.
Trưởng giả khỏi bệnh và tán thán
Nghe xong, bệnh trưởng giả liền khỏi (長者病即得差), bình phục như cũ; ông rời chỗ nằm, ngồi dậy và khen: “Lành thay! Lành thay! Ngài thuyết pháp cho người bệnh, thật kỳ diệu, thật hy hữu!” — nghe bài “giáo hóa người bệnh” (教化病法, cũng là tên kinh) xong thì đau khổ chấm dứt, sanh khoái lạc vô cùng.
於是,長者病即得差,平復如故,從臥起坐,歎尊者舍梨子曰:「善哉!善哉!為病說法。甚奇!甚特!尊者舍梨子!我聞教化病法,苦痛即滅,生極快樂。尊者舍梨子!我今病差,平復如故。
Bấy giờ bệnh trạng của Trưởng giả Cấp Cô Độc liền được thuyên giảm, bình phục như cũ, rời chỗ nằm ngồi dậy, khen Tôn giả Xá-lợi-phất rằng:
“Lành thay! Lành thay! Ngài thuyết pháp cho bệnh nhân, thật kỳ diệu, thật hy hữu! Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, khi con nghe xong bài pháp giáo hóa cho bệnh nhân ấy liền chấm dứt thống khổ, lại sanh khoái lạc vô cùng. Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, bây giờ bệnh con đã thuyên giảm hẳn, bình phục như cũ.
MA 28 - T26 0459c05–c09 · Việt: Tuệ Sỹ (ma28/vi/tue_sy)Rồi ông bắt đầu kể một câu chuyện cũ — chiếm hơn nửa kinh — về lần đầu gặp Phật và việc dựng tinh xá. Tuệ Sỹ chú: “Từ đây trở xuống, nội dung tương đương được tìm thấy trong luật bộ Pāli, Vin. ii. 154. Cf. Tứ phần 50 (938b21tt)” (tr. 209, chú thích 5).
Ở Vương Xá: nhà trưởng giả sửa soạn đại thí
Ngày trước, vì có chút việc, ông đến thành Vương Xá và trọ nhà một trưởng giả. Trưởng giả chủ nhà sắp cúng cơm cho Đức Phật và chúng Tỳ-kheo vào sáng hôm sau: gần sáng ông sai con cháu, nô tỳ, người giúp việc và quyến thuộc dậy sớm bày biện; người thì lo bếp núc, dọn cỗ ngon; chính chủ nhà tự tay trải một tòa ngồi cao, trang hoàng hết mực. Cấp Cô Độc thắc mắc và hỏi thẳng: ông sắp cưới vợ gả con, hay mừng lễ rước dâu, hay thỉnh quốc vương, hay mời đại thần? Chủ nhà đáp: không vì việc nào trong bốn việc ấy, mà là một cuộc đại thí — sáng nay ông thỉnh Phật và chúng Tỳ-kheo.
尊者舍梨子!我往昔時,少有所為,至王舍城寄宿一長者家。時,彼長者明當飯佛及比丘眾。時,彼長者過夜向曉,教勅兒孫、奴使、眷屬:『汝等早起,當共嚴辦。』彼各受教,共設廚宰,供辦餚饌、種種腆美,長者躬自敷置高座,無量嚴飾。「尊者舍梨子!我既見已,便作是念:『今此長者為婚姻事,為迎婦節會,為請國王,為呼大臣,為作齋會施設大施耶?』尊者舍梨子!我既念已,便問長者:『汝為婚姻事,為迎婦節會,為請國王,為呼大臣,為作齋會施設大施耶?』時,彼長者而答我曰:『吾無婚姻事,亦不迎婦,不為節會,不請國王及呼大臣,但為齋會施設大施,明當飯佛及比丘眾。』
Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, trước kia nhân có chút việc cần làm, con đi đến thành Vương xá, tạm trú trong nhà một Trưởng giả. Lúc ấy vị Trưởng giả kia buổi sáng hôm sau sẽ cúng dường cơm cho Đức Phật và Chúng Tỳ-kheo. Bấy giờ qua đêm ấy, lúc trời gần sáng, vị Trưởng giả kia sai con cháu, nô tỳ, sứ giả và quyến thuộc: ‘Các ngươi hãy dậy sớm, cùng nhau bày biện, trang hoàng. Những người kia đều vâng lời, cùng nhau xếp việc bếp núc, bày biện cỗ bàn với những loại ngon đẹp. Còn Trưởng giả đích thân trải bày một chỗ ngồi cao, trang nghiêm vô lượng.
“Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, sau khi thấy vậy, con liền nghĩ thế này: ‘Hôm nay vị Trưởng giả này có việc hôn nhân hay lễ hội rước dâu, hay việc thỉnh Quốc vương hay việc mời Đại thần, mà lại sắm sửa tiệc cơm, mở cuộc đãi đằng lớn như vậy?’
“Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, suy nghĩ như vậy rồi, con liền hỏi vị Trưởng giả kia rằng:
“—Ông vì việc hôn nhân hay vì lễ hội rước dâu, việc thỉnh Quốc vương hay việc mời Đại thần, mà lại sắm sửa tiệc cơm, mở cuộc đãi đằng lớn như vậy?
“Lúc ấy vị Trưởng giả kia liền trả lời con rằng:
“—Tôi không phải vì việc hôn nhân, việc thỉnh Quốc vương hay việc mời Đại thần, nhưng tôi sắm sửa tiệc cơm, thi thiết cuộc đại thí, vì sáng nay tôi sẽ cúng cơm cho Đức Phật và chúng Tỳ-kheo.
MA 28 - T26 0459c09–c22 · Việt: Tuệ Sỹ (ma28/vi/tue_sy)Lần đầu nghe danh Phật
Ông chưa từng nghe danh hiệu Phật; vừa nghe, toàn thân lông dựng đứng. Ông hỏi ba câu, và được đáp ba điều:
- Phật là gì? — Một người dòng họ Thích, rời bỏ dòng họ, cạo râu tóc, khoác ca-sa, vì lòng tin mà xuất gia học đạo, chứng Vô thượng Chánh đẳng chánh giác.
- Chúng là gì? — Nhiều người thuộc các dòng họ khác nhau, cũng cạo râu tóc, khoác ca-sa, xuất gia theo Phật học đạo; chủ nhà sắp thỉnh cả Phật và Chúng ấy.
- Thế Tôn đang ở đâu? — Ở ngay thành Vương Xá, trong rừng Trúc, vườn Ca-lan-đa; muốn đến thì tùy ý.
「尊者舍梨子!我未曾聞佛名,聞已舉身毛竪,即復問曰:『長者說佛,何名為佛?』時,彼長者而答我曰:『君不聞乎?有釋種子捨釋宗族,剃除鬚髮,著袈裟衣,至信、捨家、無家、學道,得無上等正覺,是名為佛。』我復問曰:『長者說眾,何名為眾?』時,彼長者復答我曰:『有若干姓異名異族,剃除鬚髮,著袈裟衣,至信、捨家、無家,從佛學道,是名為眾,此佛及眾,吾之所請。』尊者舍梨子!我即復問彼長者曰:『世尊於今為在何處?我欲往見。』時,彼長者復答我曰:『世尊今在此王舍城竹林加蘭哆園,欲往隨意。』
“Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, vì con chưa từng được nghe danh hiệu Đức Phật, nên khi nghe rồi toàn thân lông dựng ngược. Con lại hỏi rằng:
“—Trưởng giả nói Phật, vậy thế nào là Phật?
“Lúc ấy vị Trưởng giả kia trả lời con rằng:
“—Ông chưa được nghe sao? Có vị dòng dõi họ Thích, từ giã dòng họ Thích, cạo bỏ râu tóc, khoác y ca-sa, với lòng tin chí thiết, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo, chứng quả Vô thượng Chánh đẳng chánh giác. Vị ấy được gọi là Phật.
“Con lại hỏi rằng:
“—Trưởng giả vừa nói Chúng. Vậy thế nào là đại chúng?
“Bấy giờ vị Trưởng giả kia trả lời con rằng:
“—Còn có rất nhiều vị, có dòng họ và tông tộc khác nhau, cạo bỏ râu tóc, khoác y ca-sa, với lòng tin chí thiết, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, để theo Phật đạo. Đó gọi là Chúng. Đức Phật và chúng ấy, tôi sắp thỉnh đến.
“Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, con lại hỏi vị Trưởng giả ấy rằng:
“—Đức Thế Tôn bây giờ đang ở nơi nào? Tôi muốn đi đến thăm.
“Bấy giờ vị Trưởng giả kia trả lời con rằng:
“—Đức Thế Tôn hiện đang ở thành Vương Xá, trong rừng Trúc, vườn Ca-lan-đa. Ông có muốn đến đó thì tùy ý.
MA 28 - T26 0459c22–0460a04 · Việt: Tuệ Sỹ (ma28/vi/tue_sy)Đêm tối ở cổng thành
Ông mong trời mau sáng để đi gặp Phật. Lòng mong đến mức đang đêm mà tưởng đã sáng, ông rời nhà chủ, đến trạm ở cổng thành (城息門; Tuệ Sỹ chú Pāḷi là sivakadvāra — tr. 210, chú thích 7). Cổng có hai người gác: một người gác đầu hôm, cho khách bên ngoài vào; một người gác cuối đêm, cho khách bên trong ra. Thấy vậy ông nghĩ “trời còn chưa sáng”. Ra khỏi cổng chưa bao lâu thì ánh sáng tắt, trời tối hẳn; ông sợ hãi, lông dựng đứng, chỉ mong đừng có người hay phi nhân nào đến quấy nhiễu.
「尊者舍梨子!我作是念:『若速曉者,疾往見佛。』尊者舍梨子!我時至心欲往見佛,即於其夜生晝明想,便從長者家出,往至城息門。是時,城息門中有二直士,一直初夜,外客使入,不令有礙,一直後夜,若客使出,亦不作礙。尊者舍梨子!我復作是念:『夜尚未曉。』所以者何?城息門中有二直士,一直初夜,外客使入,不令有礙,一直後夜,若客使出,亦不作礙。尊者舍梨子!出城息門,出外不久,明滅還暗。尊者舍梨子!我便恐怖,舉身毛竪,莫令人、非人來觸嬈我。
“Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, lúc ấy con nghĩ thế này: ‘Mong cho mau sáng để nhanh chóng đi đến thăm Phật.’ Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, bấy giờ với tâm chí thành, con muốn đến thăm Phật, nên lúc đang đêm ấy mà tưởng đã sáng rồi, liền từ nhà vị Trưởng giả kia ra đi, đến trạm dừng nơi cổng thành. Bấy giờ tại trạm dừng nơi cổng thành có hai người lính gác, một người gác đầu hôm thì cho hành khách bên ngoài vào thành, không làm trở ngại gì, một người gác cuối đêm thì cho hành khách ở trong thành đi ra cũng không làm trở ngại gì. Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, con lại nghĩ thế này: ‘Đêm hãy còn chưa sáng lắm. Vì sao vậy? Vì ở tại cổng thành có hai người lính gác; một người gác đầu hôm thì cho hành khách bên ngoài vào thành, không làm trở ngại gì; một người gác cuối đêm thì cho hành khách ở trong thành đi ra cũng không làm trở ngại gì’.
Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, con vượt qua trạm dừng chân ở cửa thành để đi ra bên ngoài không lâu, ánh sáng biến mất và trời tối hẳn lại. Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, toàn thân lông dựng ngược, con liền sợ hãi, mong sao đừng có người nào hay loài phi nhân đến xúc nhiễu con.
MA 28 - T26 0460a04–a15 · Việt: Tuệ Sỹ (ma28/vi/tue_sy)Vị trời Mật-khí
Ngay tại cổng thành có một vị trời, ánh sáng chiếu khắp từ thành Vương Xá đến Trúc Lâm, đến nói với ông: “Trưởng giả chớ sợ” — câu mà về sau chính Xá-lợi-phất lặp lại mười lần bên giường bệnh. Vị trời tự giới thiệu: đời trước là bạn của ông, tên Mật-khí (密器), thời trẻ hai người rất thương mến nhau; được Tôn giả Đại Mục-kiền-liên thuyết pháp, trao ba tự quy và năm giới; nhờ giữ ba quy năm giới mà khi mạng chung sanh lên trời Tứ Vương, ở ngay trạm cổng thành này. Rồi vị ấy giục: “Trưởng giả hãy đi mau, đi tốt hơn là đứng lại.”
「時,城息門而有一天,從王舍城至竹林加蘭哆園,光明普照,來語我言:『長者莫怖!長者莫怖!所以者何?我本前世是汝朋友,名密器,年少極相愛念。長者!我本昔時往詣尊者大目乾連所,稽首禮足,却坐一面,尊者大目乾連為我說法,勸發渴仰,成就歡喜,無量方便為我說法,勸發渴仰,成就歡喜已,賜三自歸,見授五戒。長者!我因三歸,受持五戒,身壞命終,生四天王天,住此城息門中。長者速去,長者速去,去實勝住。』
Bấy giờ, tại trại dừng chân ở cửa thành có một vị trời, từ thành Vương xá đến Trúc lâm, vườn Ca-lan-đà, ánh sáng tỏa chiếu khắp nơi, đến bảo con rằng: ‘Này Trưởng giả, chớ sợ. Vì sao vậy? Tôi đời trước đây vốn là bằng hữu của ông, tên thật là Mật-khí, vào lúc còn trẻ tuổi chúng ta rất yêu mến nhau. Này Trưởng giả, thuở xưa ấy, tôi đi đến chỗ Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, cúi đầu đảnh lễ dưới chân rồi ngồi sang một bên. Tôn giả Đại Mục-kiền-liên thuyết pháp cho tôi, khai thị, khích lệ, thành tựu hoan hỷ. Sau khi dùng vô lượng phương tiện để thuyết pháp, khai thị, khích lệ, thành tựu hoan hỷ cho tôi rồi, ngài ban cho tôi pháp ba tự quy, và trao cho năm giới. Này Trưởng giả, tôi do ba tự quy y và thọ trì năm giới, nên khi thân hoại mạng chung sanh lên trời Tứ Vương thiên, sống ở trong trạm dừng tại cổng thành này. Trưởng giả hãy đi mau lên, Trưởng giả hãy đi vội lên, quả thật đi tốt hơn là đứng lại.
MA 28 - T26 0460a15–a25 · Việt: Tuệ Sỹ (ma28/vi/tue_sy)Tuệ Sỹ chú: trong bản Pāḷi (Luật tạng, Vin. ii. 154) đây là “một Dạ-xoa tên là Sīvaka”, và tên Mật-khí có lẽ là phiên âm, “gần với Pāli: Sīvaka” (tr. 211, chú thích 8, 9). Trong kinh Pāḷi SN 10.8 (Sudatta Sutta) cũng có cảnh này: Dạ-xoa Sivaka không hiện thân (antarahito), chỉ cất tiếng — và ánh sáng tắt, tiếng giục vang lên ba lần.
Bài kệ “không bằng một phần mười sáu”
Vị trời đọc bốn khổ kệ, cùng một câu điệp: bao nhiêu của báu cũng không bằng một phần mười sáu của một bước chân đi đến Phật. Bốn thứ của báu được kể:
- Trăm con ngựa, nữ tỳ, trăm cỗ xe đầy châu báu.
- Trăm con voi trắng tối thượng, có yên cương bằng vàng bạc.
- Trăm người nữ đẹp đẽ, đeo chuỗi ngọc, kết tràng hoa.
- Ngọc nữ báu bậc nhất mà Chuyển luân vương kính trọng.
Nói xong vị trời lại giục: “Đi nhanh lên! Đi nhanh lên! Đi tốt hơn đứng lại.” Trưởng giả nghĩ: Phật, Pháp và Chúng Tỳ-kheo hẳn có ân đức lớn, vì đến cả chư thiên cũng muốn ta đến yết kiến.
彼天勸我而說頌曰:「『得馬百臣女,車百滿珍寶,往詣佛一步,不當十六分。白象百最上,金銀鞍勒被,往詣佛一步,不當十六分。女百色端正,瓔珞花嚴身,往詣佛一步,不當十六分。轉輪王所敬,玉女寶第一,往詣佛一步,不當十六分。』「天說頌已,而復勸曰:『長者速去!長者速去!去實勝住。』尊者舍梨子!我復作是念:『佛尊祐德,法及比丘眾亦尊祐德。所以者何?乃至於天,亦欲使見。』
“Vị trời ấy nói lên bài kệ để khuyên con như sau:
Được trăm ngựa, nữ tỳ,
Trăm xe đầy châu báu;
Không bằng phần mười sáu
Một bước đi đến Phật.
Trăm voi trắng tối thượng,
Thắng Lâm yên cương vàng bạc;
Không bằng phần mười sáu
Một bước đi đến Phật.
Trăm nữ nhân đẹp đẽ,
Đeo chuỗi ngọc tràng hoa;
Không bằng phần mười sáu,
Một bước đi đến Phật.
Chuyển luân vương kính trọng
Báu ngọc nữ bậc nhất;
Không bằng phần mười sáu,
Một bước đi đến Phật.
“Vị trời nói tụng xong, rồi khuyên con rằng:
“—Này Trưởng giả, đi nhanh lên! Này Trưởng giả, đi nhanh lên! Quả thật đi tốt hơn đứng lại.
“Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, con lại nghĩ thế này: ‘Đức Phật có ân đức che chở bao trùm. Pháp và Chúng Tỳ-kheo cũng có ân đức bao trùm. Vì sao vậy? Cho đến bậc trời cũng muốn ta đến yết kiến’.
MA 28 - T26 0460a25–0460b08 · Việt: Tuệ Sỹ (ma28/vi/tue_sy)(Lưu ý: ở khổ thứ hai, bản Việt có câu “Thắng Lâm yên cương vàng bạc”; Hán là 白象百最上,金銀鞍勒被 — “trăm voi trắng tối thượng, yên cương vàng bạc phủ” — không có chữ “Thắng Lâm”; hai chữ này có lẽ chen nhầm khi chép. Kệ tương ứng trong SN 10.8 kể trăm voi, trăm ngựa, trăm xe la kéo, trăm ngàn thiếu nữ đeo hoa tai ngọc — kalaṁ nāgghanti soḷasiṁ, “không bằng một phần mười sáu”.)
Gặp Thế Tôn ở Trúc Lâm
Nhờ ánh sáng ấy, ông đi đến Trúc Lâm, vườn Ca-lan-đa. Trời chưa sáng hẳn, Thế Tôn đã ra khỏi thiền thất, kinh hành ngoài trời để chờ ông. Từ xa ông thấy Phật “như mặt trăng giữa các vì tinh tú”, sáng rực như núi vàng, đủ tướng tốt, các căn tịch tĩnh, tâm lắng yên. Ông hoan hỷ đến đảnh lễ, rồi kinh hành theo Phật, và “theo phép của bậc trưởng giả” (以長者法) nói một bài tụng thăm hỏi: Thế Tôn ngủ có an ổn không? — rồi chính bài tụng tự trả lời: như bậc Phạm chí đã diệt độ, không nhiễm dục, xả mọi mong cầu, tâm hết nóng bức, nên ngủ an lạc.
「尊者舍梨子!我因此光明往至竹林加蘭哆園。爾時,世尊夜其向旦,從禪室出,露地經行而待於我。尊者舍梨子!我遙見佛端正姝好,猶星中月,光耀暐曄,晃若金山,相好具足,威神巍巍,諸根寂定,無有蔽礙,成就調御,息心靜默。見已歡喜,前詣佛所,接足作禮,隨佛經行,以長者法說頌問訊:「『世尊寐安隱,至竟眠快耶?如梵志滅度,以不染於欲。捨離一切願,逮得至安隱,心除無煩熱,自樂歡喜眠。』
“Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, con do ánh sáng ấy mà đi đến Trúc lâm, vườn Ca-lan-đa. Bấy giờ đêm còn chưa sáng tỏ, Đức Thế Tôn từ thiền thất đi ra, kinh hành ở khoảng đất trống để chờ con. Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, từ xa con trông thấy Đức Thế Tôn đẹp đẽ trang nghiêm như mặt trăng giữa các vì tinh tú, ánh sáng chói lọi rực rỡ, sáng rực như tòa núi toàn vàng, đầy đủ tướng tốt, oai thần vời vợi, các căn tịch tĩnh, chẳng có gì che khuất, thành tựu điều ngự, tức tâm tĩnh mặc. Con thấy rồi, liền hoan hỷ đi đến trước Đức Phật, đảnh lễ sát dưới chân, rồi kinh hành theo Ngài, theo pháp của bậc Trưởng giả mà nói bài tụng thăm hỏi rằng:
Thế Tôn ngủ an ổn,
Đến trọn đêm khỏe chăng?
Bà-la-môn diệt độ,
Vì không nhiễm trước dục.
Xả ly tất cả nguyện,
Được an ổn vô cùng.
Tâm trừ không nóng bức
Ngủ an lạc vui vẻ.
(Câu thứ ba bản Việt “Bà-la-môn diệt độ” bỏ mất chữ “như” (如梵志滅度, “như vị Phạm chí đã diệt độ”). Ở SN 10.8, phần ứng với hai câu đầu là một câu hỏi văn xuôi của trưởng giả (kacci, bhante, bhagavā sukhamasayitthā, “Thế Tôn ngủ có an lạc không?”), còn phần “vị Bà-la-môn đã tịch diệt luôn ngủ an lạc…” là Phật đáp; MA28 gom tất cả thành bài tụng của trưởng giả.)
Nghe pháp, thấy bốn Thánh đế
Đến cuối đường kinh hành, Thế Tôn trải tọa cụ (ni-sư-đàn), ngồi kiết già; trưởng giả đảnh lễ, ngồi một bên. Phật thuyết theo lối thường lệ của chư Phật: trước nói pháp “đoan chánh” cho người nghe hoan hỷ — nói thí, nói giới, nói pháp sanh thiên, chê dục là tai họa, sanh tử là nhơ uế, khen vô dục là con đường vi diệu, trong sạch. Khi biết tâm ông đã đủ tám điều — hoan hỷ, cụ túc, nhu nhuyến, kham nhẫn, vươn lên, chuyên nhất, không nghi, không bị che lấp — Phật mới nói Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Ngay trên chỗ ngồi, ông thấy bốn Thánh đế, “cũng như tấm vải trắng dễ nhuộm thành màu sắc”.
「於是,世尊即便往至經行道頭,敷尼師檀,結加趺坐。尊者舍梨子!我禮佛足,却坐一面,世尊為我說法,勸發渴仰,成就歡喜,無量方便為我說法,勸發渴仰,成就歡喜已。如諸佛法,先說端正法,聞者歡悅,謂,說施、說戒、說生天法,毀呰欲為災患,生死為穢,稱歎無欲為妙道品白淨。世尊為我說如是法已,佛知我有歡喜心、具足心、柔軟心、堪耐心、昇上心、一向心、無疑心、無蓋心,有能有力,堪受正法,謂如諸佛所說正要,世尊即為我說苦、習、滅、道。尊者舍梨子!我即於坐中見四聖諦苦、習、滅、道,猶如白素易染為色,我亦如是,即於坐中見四聖諦苦、習、滅、道。
“Bấy giờ Đức Thế Tôn vừa đi đến cuối đường kinh hành, liền trải ni-sư-đàn, ngồi kiết già. Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất. Lúc ấy, con đảnh lễ dưới chân Phật rồi ngồi sang một bên. Đức Thế Tôn thuyết pháp cho con, khai thị, giáo giới, làm cho lợi ích, khiến cho hoan hỷ, như pháp thông lệ của chư Phật, trước nói pháp đoan chánh, để người nghe hoan hỷ. Đó là nói thí, nói giới, nói pháp sanh thiên, chê dục vọng là tai họa, sanh tử là nhơ uế; ngợi khen vô dục là đạo phẩm vi diệu, bạch tịnh. Đức Thế Tôn nói những pháp như vậy cho con nghe rồi, Đức Phật biết con có tâm hoan hỷ, tâm cụ túc, tâm nhu nhuyến, tâm kham nhẫn, tâm vươn lên, tâm chuyên nhất, tâm không nghi, tâm không che lấp, có khả năng kham thọ chánh pháp, nghĩa là những điều chánh yếu nào mà chư Phật nói ra; Thế Tôn liền nói: Khổ, Tập, Diệt, Đạo cho con.
Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, ngay khi con ngồi đấy đã thấy được bốn Thánh đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng như tấm vải trắng dễ nhuộm thành màu sắc, con cũng như vậy, ngay trên chỗ đang ngồi đã thấy bốn Thánh đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo.
MA 28 - T26 0460b19–0460c03 · Việt: Tuệ Sỹ (ma28/vi/tue_sy)Quy y Tam Bảo
Ông “đã thấy pháp, đắc pháp, giác ngộ pháp bạch tịnh, đoạn nghi, độ hoặc”, không còn phải theo ai khác, “đã trụ nơi quả chứng”, không còn sợ hãi đối với giáo pháp — rồi đứng dậy quy y Phật, Pháp, Chúng Tỳ-kheo, xin làm Ưu-bà-tắc trọn đời. Kinh không tự nối hai chỗ, nhưng các chữ “đã trụ nơi quả chứng” ở đây cho thấy vì sao về sau Xá-lợi-phất nói “trưởng giả vốn đã chứng quả Tu-đà-hoàn” (liên hệ của bài này).
「尊者舍梨子!我已見法得法,覺白淨法,斷疑度惑,更無餘尊,不復從他,無有猶豫,已住果證,於世尊法得無所畏,即從坐起,為佛作禮:『世尊!我今自歸於佛、法及比丘眾,唯願世尊受我為優婆塞,從今日始,終身自歸,乃至命盡。』
Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, con đã thấy pháp, đắc pháp, giác ngộ pháp bạch tịnh, đoạn nghi, độ hoặc, không còn tôn sùng ai, cũng chẳng theo người khác, không còn do dự, đã trụ nơi quả chứng, được sự không sợ hãi đối với giáo pháp Đức Thế Tôn, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ Đức Thế Tôn bạch rằng:
“—Bạch Thế Tôn, con hôm nay tự quy y Phật, Pháp và Chúng Tỳ-kheo. Xin nguyện Thế Tôn chấp nhận cho con làm Ưu-bà-tắc; bắt đầu từ hôm nay sẽ trọn đời tự quy y, cho đến lúc mạng chung.
MA 28 - T26 0460c03–c08 · Việt: Tuệ Sỹ (ma28/vi/tue_sy)Thỉnh Phật về Xá-vệ, tên Tu-đạt-đa
Ông chắp tay thỉnh Thế Tôn cùng chúng Tỳ-kheo về nước Xá-vệ an cư mùa mưa. Phật hỏi tên; ông đáp: tên là Tu-đạt-đa (須達哆; Pāḷi Sudatta — Tuệ Sỹ, tr. 213, chú thích 10), vì thường cung cấp cho những người cô độc nên dân Xá-vệ gọi là Cấp Cô Độc. Phật hỏi ở Xá-vệ đã có phòng xá chưa; ông đáp chưa. Phật dạy: có phòng xá thì Tỳ-kheo mới qua lại và ở được. Ông hứa sẽ xây và xin một vị giúp sức; Thế Tôn sai Tôn giả Xá-lợi-phất.
尊者舍梨子!我即叉手白曰:『世尊!願受我請,於舍衛國而受夏坐及比丘眾。』時,佛問我:『汝名何等?舍衛國人呼汝云何?』我即答曰:『我名須達哆,以我供給諸孤獨者,是故舍衛國人呼我為給孤獨。』爾時,世尊復問我曰:『舍衛國中有房舍未?』我復答曰:『舍衛國中無有房舍。』爾時,世尊而告我曰:『長者當知!若有房舍,比丘可得往來,可得住止。』我復白曰:『唯然。世尊!我當如是為起房舍,比丘可得往來,於舍衛國可得住止,唯願世尊差一佐助。』爾時,世尊即差尊者舍梨子,遣尊者舍梨子令見佐助。
“Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, con liền chắp tay thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, ngưỡng mong Thế Tôn nhận lời mời của con cùng Chúng Tỳ-kheo đến nước Xá-vệ để an cư mùa mưa.
“Lúc ấy Đức Thế Tôn hỏi con rằng:
“—Ông tên là gì, nhân dân nước Xá-vệ gọi ông là gì?
“Con liền trả lời rằng:
“—Con tên là Tu-đạt-đa. Vì con thường cung cấp cho những người cô độc, do đó nhân dân nước Xá-vệ gọi con là Cấp Cô Độc.
“Bấy giờ Đức Thế Tôn lại hỏi con rằng:
“—Tại nước Xá-vệ, ông đã có phòng xá gì chưa?
“Con trả lời rằng:
“—Tại nước Xá-vệ con chưa có phòng xá gì cả.
“Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo con rằng:
“—Nếu có phòng xá thì các Tỳ-kheo mới có thể vãng lai, mới có thể trú ngụ được.
“Con lại thưa rằng:
“—Thật vậy, bạch Thế Tôn. Vì thế con sẽ xây cất phòng xá để các thầy Tỳ-kheo có thể vãng lai, và có thể trú ngụ nước Xá-vệ. Mong Đức Thế Tôn cho một vị đến giúp con.
“Bấy giờ Đức Thế Tôn liền sai Tôn giả Xá-lợi-phất; khiến Tôn giả Xá-lợi-phất đến giúp đỡ.
MA 28 - T26 0460c08–c20 · Việt: Tuệ Sỹ (ma28/vi/tue_sy)Tuệ Sỹ chú ở đây: “Các chi tiết liên hệ luật tạng. Luật Pāli và bản hán khác nhau” (tr. 214, chú thích 12). Ở SN 10.8, Phật gọi ông bằng tên ngay khi ông vừa đến (ehi, sudattā, “Hãy đến đây, Sudatta”); ở MA28 thì Phật hỏi tên sau khi ông đã quy y.
Về Xá-vệ chọn đất
Ông nhận lời, đảnh lễ, đi quanh Phật ba vòng rồi về. Xong việc ở Vương Xá, ông cùng Xá-lợi-phất về Xá-vệ; không vào thành, không về nhà, mà đi khắp vùng ngoài thành tìm đất dựng phòng xá theo sáu điều: đi lại thuận tiện nhất, ban ngày không ồn ào, ban đêm tịch tĩnh, không muỗi mòng, không ruồi bọ, không lạnh không nóng. Chỉ có khu vườn của Thắng Lâm Đồng tử (童子勝) đủ cả sáu.
「我於爾時聞佛所說,善受善持,即從坐起,為佛作禮,繞三匝而去。於王舍城所作已訖,與尊者舍梨子俱往至舍衛國,不入舍衛城亦不歸家,便於城外周遍行地,為於何處往來極好,晝不喧閙,夜則寂靜,無有蚊虻,亦無蠅蚤,不寒不熱,可立房舍施佛及眾。尊者舍梨子!我時唯見童子勝園往來極好,晝不喧閙,夜則寂靜,無有蚊虻,亦無蠅蚤,不寒不熱。我見此已,便作是念:『唯此處好,可立房舍施佛及眾。』
“Bấy giờ sau khi nghe Đức Phật dạy xong, con khéo léo ghi nhớ, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Phật, đi quanh ba vòng rồi ra về.
“Khi công việc cần làm tại thành Vương xá đã hoàn tất, con cùng Tôn giả Xá-lợi-phất đi đến nước Xá-vệ. Nhưng không vào nước Xá-vệ, cũng chẳng trở về nhà mà lập tức đi dạo khắp nơi bên ngoài thành để xem chỗ nào có thể đi lại tốt nhất, ban ngày không ồn ào, ban đêm thì tịch tĩnh, không có muỗi mòng, cũng không ruồi bọ, không lạnh, không nóng, có thể xây phòng xá để cúng dường Đức Phật và đại chúng.
“Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, bấy giờ con chỉ thấy vườn của Thắng Lâm Đồng tử là đi lại tốt nhất, ban ngày không ồn ào, ban đêm thì tịch tĩnh, không có muỗi mòng, cũng không ruồi bọ, không lạnh, không nóng. Con thấy rồi liền suy nghĩ thế này: ‘Chỉ có chỗ này là tốt nhất để xây cất phòng xá để cúng dường Phật và đại chúng’.
MA 28 - T26 0460c20–0461a01 · Việt: Tuệ Sỹ (ma28/vi/tue_sy)Tuệ Sỹ chú về Thắng Đồng tử: “Vin.ii.154ff. Jetakomara, con trai vua Pasenadi (Ba-tư-nặc)”, về sau bị vua Vidudabha, người em cùng cha khác mẹ, giết vì không chịu theo cuộc chiến tàn sát dòng họ Thích; các phiên âm quen thuộc khác là Kỳ-đà Thái tử (衹陀太子), Thệ-đa (逝多) (tr. 214, chú thích 13).
Mua vườn Thắng Lâm: “ức ức trải đầy”
Ông vào thành, chưa về nhà, đến thẳng chỗ Đồng tử xin mua vườn. Đồng tử từ chối; ông hỏi lần hai, lần ba; đến lần thứ ba Đồng tử nói: “Tôi không bán khu vườn đâu — chỉ khi nào ức ức (億億) trải đầy.” Ông lập tức bắt lời: “Ngài đã định giá rồi, chỉ còn việc trao tiền.” Một người nói đã định giá, một người nói chưa; hai bên tranh tụng, kéo nhau đến pháp đình (大決斷處) nước Xá-vệ. Vị pháp quan (大決斷人) phán: Đồng tử đã tự định giá, chỉ còn việc nhận tiền.
「尊者舍梨子!我於爾時入舍衛國,竟不還家,便先往詣童子勝所,白曰:『童子!可賣此園持與我耶?』爾時,童子便語我曰:『長者當知,吾不賣園。』如是,再三白曰:『童子!可賣此園持與我耶?』爾時,童子亦復再三而語我曰:『吾不賣園,至億億布滿。』我即白曰:『童子今已決斷價數,但當取錢。』尊者舍梨子!我與童子或言斷價,或言不斷,大共訜訟,即便俱往至舍衛國大決斷處判論此事。時,舍衛國大決斷人語童子勝曰:『童子已自決斷價數,但當取錢。』
Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, lúc ấy con vào nước Xá-vệ, nhưng cũng chưa về nhà, liền đi đến chỗ Thắng Lâm Đồng tử thưa rằng:
“—Thưa Đồng tử, ngài có thể bán khu vườn kia lại cho tôi không?
“Bấy giờ Đồng tử bảo con rằng:
“—Trưởng giả nên biết, tôi không bán khu vườn đâu.
“Cứ như vậy lần hai rồi lần ba, con thưa rằng:
“—Thưa Đồng tử, ngài có thể bán khu vườn kia lại cho tôi không?
“Bấy giờ Đồng tử cũng lại lần thứ hai, lần thứ ba bảo rằng:
“—Tôi không bán khu vườn đâu. Chỉ khi nào ức ức trải đầy.
“Con liền thưa rằng:
“—Này Đồng tử, ngài đã quyết định giá cả, chỉ còn việc trao tiền nữa thôi.
“Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, người thì nói đã quyết định giá cả, người thì nói chưa quyết định giá cả, cùng nhau tranh tụng lớn. Rồi dắt nhau đến pháp đình nước Xá-vệ để phán quyết về việc này. Bấy giờ vị pháp quan nước Xá-vệ bảo Thắng Lâm Đồng tử rằng:
“—Này Đồng tử, thế là ngươi đã quyết định giá cả rồi, chỉ còn việc nhận tiền nữa thôi.
MA 28 - T26 0461a01–a11 · Việt: Tuệ Sỹ (ma28/vi/tue_sy)Kinh không nói “ức ức” là loại tiền gì; Tuệ Sỹ chú: “Cả Vin.ii. đã dẫn, cũng không nói loại tiền gì” (tr. 214, chú thích 14).
Trải tiền và nhà cổng của Thắng Lâm Đồng tử
Ông về nhà lấy tiền, dùng voi, ngựa, xe cộ chở từ các kho đến, trải “ức ức” khắp mặt đất, nhưng còn vài chỗ chưa phủ tới; ông đang tính nên mở kho nào nữa cho vừa đủ, không thừa không thiếu. Đồng tử nói: nếu ông hối thì cứ mang tiền về, trả vườn lại. Ông đáp: thật không hối, chỉ đang nghĩ nên lấy ở kho nào. Đồng tử nghĩ: Phật, Pháp và chúng Tỳ-kheo hẳn phải cao cả, có đức lớn lắm, mới khiến trưởng giả coi nhẹ của cải đến thế — và xin giữ phần đất còn lại để tự dựng một nhà cổng (門屋) cúng dường Phật và chúng Tăng. Vì lòng từ mẫn, trưởng giả để lại chỗ ấy cho Đồng tử.
「尊者舍梨子!我即入舍衛國,還家取錢,以象馬車舉負輦載,出億億布地,少處未遍。尊者舍梨子!我作是念:『當取何藏,不大不小,可此餘處持來布滿?』時,童子勝便語我曰:『長者若悔,錢自相歸,園地還吾。』我語童子:『實不悔也。』但自思念:『當取何藏,不大不小,可此餘處持來滿耳?』時,童子勝便作是念:『佛必大尊,有大德祐,法及比丘眾亦必大尊,有大德祐。所以者何?乃令長者施設大施,輕財乃爾。吾今寧可即於此處造立門屋施佛及眾。』時,童子勝便語我曰:『長者且止!莫復出錢布此處也,吾於此處造立門屋施佛及眾。』尊者舍梨子!我為慈愍故,即以此處與童子勝。
“Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, con liền vào nước Xá-vệ, trở về nhà lấy tiền, dùng voi ngựa và xe cộ để chuyên chở các kho lẫm đem đến, đã xuất ra tới ức ức để trải khắp mặt đất, nhưng còn vài chỗ chưa khắp đến. Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, con nghĩ như vầy: Nên xuất ở kho nào nữa để đem đến trải khắp chỗ dư này, không thừa cũng không thiếu? Bấy giờ Thắng Lâm Đồng tử liền bảo con rằng:
“—Này Trưởng giả, nếu có ăn năn về số tiền này thì hãy tự mang trở về, khu vườn trả lại cho tôi.
“Con bảo với Đồng tử rằng:
“—Quả thật tôi không có ăn năn; mà tôi còn suy nghĩ xem nên lấy ở kho nào nữa để mang trải khắp chỗ dư này không thừa cũng không thiếu.
“Bấy giờ Thắng Lâm Đồng tử liền suy nghĩ như vầy: ‘Đức Thế Tôn hẳn là một bậc cao cả, có đức hựu lớn. Pháp và Đại chúng Tỳ-kheo hẳn cũng là rất cao cả, có đức hựu lớn. Vì sao thế? Vì có vậy mới làm cho Trưởng giả thi thiết sự cúng dường vĩ đại, coi rẻ của cải đến thế. Nay ta có lẽ xây cất nhà cổng ngay nơi này để cúng dường Đức Phật và Đại chúng Tỳ-kheo’. Rồi Thắng Lâm Đồng tử liền bảo vói con rằng:
“—Này Trưởng giả, hãy thôi đi, đừng xuất tiền để trả khoảng đất còn lại nữa. Vì ngay chỗ này tôi sẽ cất cất nhà cổng cúng dường Đức Phật và đại chúng Tỳ-kheo.
“Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, vì lòng từ mẫn nên con đồng ý để lại chỗ ấy cho Thắng Lâm Đồng tử.
MA 28 - T26 0461a11–a25 · Việt: Tuệ Sỹ (ma28/vi/tue_sy)(Bản Việt có hai lỗi chép nhỏ: “bảo vói con” là “bảo với con”; “tôi sẽ cất cất nhà cổng” lặp chữ “cất” — Hán 吾於此處造立門屋, “ở chỗ này tôi sẽ dựng nhà cổng”.)
Mười sáu dãy nhà lớn và lời mời thọ trai
Ngay trong mùa hạ ấy, ông dựng mười sáu dãy nhà lớn (十六大屋) và sáu mươi câu-hi (六十拘絺), có Tôn giả Xá-lợi-phất giúp sức. Tuệ Sỹ chú “đại ốc” tức Pāḷi vihāra (tinh xá), “câu-hi” tức koṭṭhaka — nhà kho, phòng hay phòng kín (tr. 215, chú thích 17, 18). Rồi ông nói: Tôn giả đã giúp việc dựng tinh xá ấy, nhưng bài pháp giáo hóa người bệnh của Tôn giả thật kỳ diệu — nghe xong, bệnh khổ cực nặng liền dứt, an lạc vô cùng. Nay đã hết bệnh, ông mời Tôn giả ở lại thọ trai.
「尊者舍梨子!我即於此夏起十六大屋、六十拘絺。尊者舍梨子時見佐助,然尊者舍梨子說教化病法,甚奇!甚特!我聞此教化病法已,極重疾苦即得除愈,生極快樂。尊者舍梨子!我今無病,極得安隱,願尊者舍梨子於此飯食。」
“Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, rồi ngay trong mùa hạ ấy, con cho xây mười sáu dãy nhà lớn, sáu mươi câu-hi. Tôn giả Xá-lợi-phất giúp đỡ con việc ấy. Thế nhưng Tôn giả Xá-lợi-phất thuyết pháp để giáo hóa người bệnh, còn rất kỳ diệu, hy hữu hơn. Con nghe bài pháp giáo hóa người bệnh này rồi, bệnh khổ quá nặng nề ấy liền được giảm bớt, lại phát sanh ra sự an lạc vô cùng.
“Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, bây giờ con không còn bệnh nữa, và được an ổn. Mong Tôn giả Xá-lợi-phất ở lại đây thọ trai”.
MA 28 - T26 0461a25–0461b01 · Việt: Tuệ Sỹ (ma28/vi/tue_sy)(Bản Việt viết bài pháp ấy “còn rất kỳ diệu, hy hữu hơn”; Hán chỉ nói 然尊者舍梨子說教化病法,甚奇!甚特! — “nhưng Tôn giả Xá-lợi-phất nói pháp giáo hóa người bệnh, thật kỳ diệu, thật đặc biệt!”. Chữ “hơn” là cách bản Việt nối ý theo chữ 然 “nhưng”.)
Thọ trai và nghe pháp
Tôn giả im lặng nhận lời. Trưởng giả tự tay lấy nước rửa, dọn đủ các món ngon sạch, “các loại nhai và nuốt” (食噉含消, Tuệ Sỹ chú: thức ăn cứng và mềm — tr. 216, chú thích 19), tự tay sớt cho đến khi Tôn giả no đủ. Ăn xong, dọn bát, rửa tay, ông trải một chỗ ngồi nhỏ, ngồi riêng nghe pháp. Tôn giả thuyết pháp, khai thị, khích lệ, làm cho ông hoan hỷ, rồi đứng dậy ra về.
時,尊者舍梨子默然受請。於是長者知尊者舍梨子默然受已,即從坐起,自行澡水,以極美淨妙種種豐饒食噉含消,手自斟酌,令得充滿,食訖,舉器行澡水竟,敷一小床,別坐聽法。長者坐已,尊者舍梨子為彼說法,勸發渴仰,成就歡喜,無量方便為彼說法,勸發渴仰,成就歡喜已,從坐起去。
Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất im lặng nhận lời. Lúc ấy Trưởng giả biết Tôn giả Xá-lợi-phất đã im lặng nhận lời, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, tự mình lấy nước rửa, đem tất cả các thứ đồ ăn ngon, tinh khiết, dồi dào, các loại nhai và nuốt, tự tay dọn sớt, cho đến khi Tôn giả được no đủ. Ăn xong, dọn dẹp và lấy nước rửa tay xong, ông trải một chỗ ngồi nhỏ, ngồi riêng để nghe pháp.
Sau khi Trưởng giả ngồi xong, Tôn giả Xá-lợi-phất thuyết pháp cho ông khai thị, giáo giới, làm cho hoan hỷ. Sau khi dùng vô lượng phương tiện thuyết pháp cho Trưởng giả, khai thị, giáo giới, làm cho hoan hỷ rồi, Ngài từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
MA 28 - T26 0461b01–b08 · Việt: Tuệ Sỹ (ma28/vi/tue_sy)Kết kinh
Lúc ấy Thế Tôn đang thuyết pháp giữa đại chúng; từ xa thấy Xá-lợi-phất đi đến, Ngài nói với các Tỳ-kheo: Tỳ-kheo Xá-lợi-phất có chín thứ tuệ — thông tuệ, tốc tuệ, tiệp tuệ, lợi tuệ, quảng tuệ, thâm tuệ, xuất yếu tuệ, minh đạt tuệ, biện tài tuệ — và đã thành tựu “thật tuệ”. Vì sao? Vì bốn hạng Tu-đà-hoàn (四種須陀洹) mà Thế Tôn nói sơ lược, Xá-lợi-phất đã triển khai thành mười để nói cho Trưởng giả Cấp Cô Độc. Kinh kết bằng câu các Tỳ-kheo hoan hỷ phụng hành.
是時,世尊無量大眾前後圍繞而為說法,世尊遙見尊者舍梨子來,告諸比丘:「舍梨子比丘聰慧、速慧、捷慧、利慧、廣慧、深慧、出要慧、明達慧、辯才慧,舍梨子比丘成就實慧。所以者何?我所略說四種須陀洹,舍梨子比丘為長者給孤獨十種廣說來。」佛說如是。彼諸比丘聞佛所說,歡喜奉行。
Bấy giờ Đức Thế Tôn đang thuyết pháp cho vô lượng đại chúng vây quanh trước sau. Từ đàng xa Đức Thế Tôn thấy Tôn giả Xá-lợi-phất đi lại, liền bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Tỳ-kheo Xá-lợi-phất là bậc thông tuệ, tốc tuệ, tiệp tuệ, lợi tuệ, quảng tuệ, thâm tuệ, xuất yếu tuệ, minh đạt tuệ, biện tài tuệ, Tỳ-kheo Xá-lợi-phất đã thành tựu thật tuệ. Vì sao vậy? Vì về bốn hạng Tu-đà-hoàn mà Ta đã nói sơ lược, thì Tỳ-kheo Xá-lợi-phất triển khai thành mười hạng để nói cho Trưởng giả Cấp Cô Độc.
Đức Phật thuyết như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật nói xong hoan hỷ phụng hành.
MA 28 - T26 0461b08–b14 · Việt: Tuệ Sỹ (ma28/vi/tue_sy)“Bốn” ở đây là bốn gì? Tuệ Sỹ đoán: “Có lẽ là bốn Dự lưu chi: 1/ Thân cận thiện xứ, 2/ Kiến văn chánh pháp, 3/ Như lý tác ý, 4/ Pháp tùy pháp hành, mà ngài Xá-lợi-phất đã quảng diễn thành mười” (tr. 216, chú thích 21). Chú ấy liệt kê mười điều là “1/ Tín, 2/ Giới, 3/ Đa văn, 4/ Huệ thí, 5/ Thiện tuệ, 6/ Chánh kiến, 7/ Chánh trí, 8/ Chánh giải, 9/ Chánh thoát, 10/ Chánh trí” — mục 7 ghi “Chánh trí” trùng với mục 10, trong khi kinh văn là chánh chí (正志), có lẽ lỗi in. Bản Pāḷi tương đương SN 55.26 gợi một cách hiểu khác: lời khen của Phật ở đó là cattāri sotāpattiyaṅgāni dasahākārehi vibhajissatī, “phân tích bốn chi phần Dự lưu theo mười cách”, và bài giảng của Sāriputta trong SN 55.26 mở đầu bằng ba tịnh tín bất động (aveccappasāda) đối với Phật, Pháp, Tăng, cộng với giới mà bậc Thánh ưa thích (ariyakantāni sīlāni) — bốn điều thường gọi chung là bốn chi phần Dự lưu — nhiều khả năng “bốn chi phần” là bốn điều này (đây là suy luận của bài khi đặt hai bản cạnh nhau, SN 55.26 không tự nói rõ). Câu khen chín thứ tuệ cũng có nguyên văn trong kinh trước đó, MA27, và Tuệ Sỹ đã chú ở đó (tr. 203, chú thích 10).
Giải thích
1. Một cách thăm người bệnh: nhắc người ấy nhìn vào điều tốt của chính mình. Xá-lợi-phất không giảng một giáo lý mới. Mười lời “chớ sợ” chỉ làm một việc: đặt cạnh nhau hai hình ảnh — kẻ phàm phu mang điều xấu nào thì đi về đâu, và người bệnh trước mặt không có điều xấu ấy mà chỉ có điều tốt ngược lại. Nỗi sợ của người sắp chết được trả lời bằng chính đời sống của người ấy: lòng tin, giới, sự học, bố thí, trí tuệ, và năm điều “chánh” — cái thấy, ý chí, sự hiểu, sự giải thoát, cái biết chân chánh — mà ông đã có. Câu nền “vốn đã chứng quả Tu-đà-hoàn” là điểm tựa cuối: theo giáo lý chung, bậc Dự lưu không còn đọa ác xứ.
2. Mười điều chia hai nhóm. Năm điều đầu là phẩm chất của một người cư sĩ (tin, giới, nghe học, bố thí, tuệ); năm điều sau là năm chữ “chánh” (kiến, chí, giải, thoát, trí). So với SN 55.26 — ba tịnh tín bất động (Phật, Pháp, Tăng) và giới bậc Thánh ưa thích, rồi mười điều “chánh” gồm tám chi Thánh đạo cộng chánh trí, chánh giải thoát — thì MA28 giữ lại giới, có thêm đa văn, huệ thí, thiện tuệ, và trong nhóm “chánh” chỉ có năm. Đây là nhận xét của bài này khi đặt hai bản cạnh nhau, không phải lời của kinh hay của chú giải nào.
3. Câu chuyện kể bên giường bệnh. Khỏi bệnh rồi, điều đầu tiên ông làm là kể lại con đường đã đưa mình đến với Phật: một đêm sợ hãi ngoài cổng thành, một vị trời cũng mở lời bằng “chớ sợ”, một bước chân quý hơn trăm voi ngựa, một buổi nghe pháp thấy Tứ đế, một khu vườn trải tiền. Chính ông khép chuyện bằng cách đặt hai ơn của Xá-lợi-phất cạnh nhau — giúp dựng tinh xá, và bài pháp giáo hóa người bệnh — và nói ơn sau mới thật kỳ diệu.
4. Hình ảnh Phật “như trăng giữa sao”. Câu tả Phật “như mặt trăng giữa các vì tinh tú… sáng rực như núi vàng” là một khuôn văn lặp lại nhiều lần trong Trung A-hàm. Anālayo liệt kê MA28 trong số đó và dẫn lời HT. Thích Minh Châu (luận án 1964) cho rằng hình ảnh này “mang giọng hơi phóng đại, xa lạ với thái độ chừng mực của Phật giáo thời đầu” (strikes a rather exaggerated note, unknown to the moderate attitude of early Buddhism) (Anālayo, vol. 1, tr. 408, chú 94 — thứ cấp).
5. Lời khen cuối kinh. Thế Tôn không khen Xá-lợi-phất đã chữa khỏi bệnh, mà khen trí tuệ: biết lấy điều Phật nói gọn mà triển khai cho đúng người nghe. Kinh mang tên “giáo hóa người bệnh”, nhưng điểm kết là cách dạy.
Đối chiếu các tạng
Theo danh mục của SuttaCentral (API parallels, tra ngày 19/10/2026), MA28 có hai bản tương đương trực tiếp: kinh Pāḷi SN 55.26 (Paṭhamaanāthapiṇḍika Sutta, Tương Ưng Bộ) và một mảnh Sanskrit (Anālayo gọi là SHT VI 1397, tr. 116–117); cùng chín bản SuttaCentral đánh dấu là chỉ “gần giống”: MN143, EĀ 51.8, SĀ 1032, SĀ 592, SĀ 593, S² 186, S² 187, SN 10.8 (Sudatta Sutta), SN 2.20. Bài này đã mở và đối chiếu: SN 55.26 và SN 10.8 (Pāḷi + bản Anh Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral), MN143 (bài cùng cặp trên site). Các bản EĀ, SĀ, S², SN 2.20, mảnh Sanskrit và Luật tạng (Vin. ii. 154, Tứ phần 50) chưa đối chiếu bản gốc.
MN143 không phải bản tương đương đầy đủ. Anālayo viết: “The instructions given by Sāriputta to Anāthapiṇḍika in MĀ 28, however, rather parallel SN 55:26” — “Tuy nhiên, lời dạy của Sāriputta cho Anāthapiṇḍika trong MA 28 thì tương ứng với SN 55:26 hơn”, vì SN 55.26 cũng kể ông khỏi bệnh; nên MA28 và mảnh SHT VI 1397 “nên được xem là bản tương đương của SN 55:26” (vol. 2, tr. 821, chú 1). Tuệ Sỹ cũng chú hai lần ngay trong bản Việt: nội dung bài thuyết pháp “không đồng nhất với bản Pāli tương đương”, và “Bản Pāli, sau đó, khi Sāriputta đi khỏi, Trưởng giả Cấp Cô Độc mạng chung” (tr. 207, chú thích 2; tr. 208, chú thích 4). Hai kinh chỉ chung khung mở đầu; phần còn lại khác hẳn — so sánh chi tiết với MN143 có trong bài MN143.
MA28 và SN 55.26 (bản tương đương trực tiếp):
| Điểm | MA28 (Hán) | SN 55.26 (Pāḷi) |
|---|---|---|
| Lời nhắn | gửi cả Phật lẫn Xá-lợi-phất; Phật chúc an lạc | chỉ gửi Sāriputta |
| Người đi thăm | Xá-lợi-phất, sáng hôm sau; không nhắc ai đi cùng | Sāriputta, buổi sáng, có Ānanda đi theo |
| Hỏi thăm | bệnh thế nào, ăn uống, đau có giảm | có kham nhẫn, chịu nổi, đau có giảm |
| Bài giảng | 10 lần “chớ sợ” | 14 lần “ông không có…”: 3 tịnh tín bất động (Phật, Pháp, Tăng) + giới bậc Thánh ưa thích + 8 chi Thánh đạo + chánh trí, chánh giải thoát |
| Các mục | tín, giới, đa văn, huệ thí, tuệ, chánh kiến, chí, giải, thoát, trí | không có đa văn, bố thí, tuệ; có đủ chánh ngữ, nghiệp, mạng, tinh tấn, niệm, định |
| Lợi ích | diệt khổ, sanh cực lạc; hoặc chứng Tư-đà-hàm, A-na-hàm | thấy điều ấy nơi mình thì cảm thọ có thể lắng dịu ngay tại chỗ |
| Kết quả | khỏi bệnh, ngồi dậy | cảm thọ lắng dịu ngay tại chỗ |
| Hồi tưởng gặp Phật, mua vườn | có (hơn nửa kinh) | không |
| Thọ trai | trưởng giả tự dọn; ngồi chỗ nhỏ nghe pháp | dâng thức ăn từ nồi của mình; ngồi chỗ thấp; Sāriputta đọc 3 kệ tùy hỷ |
| Báo lại Phật | Phật thấy Xá-lợi-phất từ xa | Ānanda về kể |
| Lời khen | 9 thứ tuệ; 4 hạng Tu-đà-hoàn → 10 | trí tuệ lớn; 4 chi Dự lưu → 10 cách |
Phần hồi tưởng và SN 10.8. Chuyện gặp Phật ở Vương Xá có bản Pāḷi trong SN 10.8 (đã đối chiếu) và trong Luật tạng (Vin. ii. 154, chưa đối chiếu). Khác nhau đáng kể: SN 10.8 cho Phật ở Sītavana (Rừng Lạnh), MA28 ở Trúc Lâm, vườn Ca-lan-đa; SN 10.8 chỉ nói ông nghe đồn “Phật đã ra đời”, không kể chuyện nhà chủ sửa cỗ; đêm ấy ông dậy ba lần tưởng trời đã sáng; phi nhân mở cổng cho ông; Dạ-xoa Sivaka không hiện thân, giục ba lần, kệ chỉ một khổ; Phật gọi tên ông “Sudatta”; và kinh dừng ở bài kệ Phật đáp, không kể việc nghe pháp, quy y hay mua vườn. MA28 có thêm: hai người gác cổng, vị trời hiện ánh sáng và kể mình là bạn cũ được Mục-kiền-liên trao ba quy năm giới, bốn khổ kệ, chi tiết Phật kinh hành để chờ ông (SN 10.8 cũng kể Phật dậy lúc rạng đông, kinh hành ngoài trời — abbhokāse caṅkamati — nhưng không nói là chờ), pháp thứ đệ, việc mua vườn và tranh tụng.
Tra cứu trong bài
- Nhân vật: Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika) · Tôn giả Xá-lợi-phất (Sāriputta) · Đức Phật
- Địa danh: Xá-vệ (Sāvatthī) · Kỳ-đà-lâm / Thắng Lâm (Jetavana) · Vương Xá (Rājagaha) · Trúc Lâm (Veḷuvana)
- Thuật ngữ: Phàm phu · Dự lưu, Tu-đà-hoàn · Bát Thánh đạo · Bốn Thánh đế
- Dịch giả: HT. Thích Tuệ Sỹ
Nguồn tham khảo
- Hán — Trung A-hàm 28, 教化病經, Taishō T26, tr. 458b–461b (CBETA): ma28/lzh/taisho — SuttaCentral
- Việt — HT. Tuệ Sỹ dịch: ma28/vi/tue_sy — SuttaCentral
- Tuệ Sỹ (dịch, chú), Kinh Trung A-hàm, tập I, “28. Kinh Giáo Hóa Bịnh”, tr. 205–216, chú thích 1–22 (bản có cước chú); kinh 27, tr. 203, chú thích 10.
- Danh mục kinh tương đương: MA 28 — SuttaCentral (API parallels, tra ngày 19/10/2026).
- Bản Pāḷi tương đương trực tiếp — SN 55.26 Paṭhamaanāthapiṇḍika Sutta: sn55.26 Pāḷi — SuttaCentral · bản Anh Bhikkhu Sujato — SuttaCentral
- SN 10.8 Sudatta Sutta (chuyện gặp Phật ở Vương Xá): sn10.8 Pāḷi — SuttaCentral · bản Anh Bhikkhu Sujato — SuttaCentral
- Bài cùng cặp trên site (chỉ chung khung mở đầu): MN143 - Kinh Giáo Giới Cấp Cô Độc
- Anālayo, A Comparative Study of the Majjhima-nikāya (Dharma Drum, 2011): vol. 2, tr. 821, chú 1; vol. 1, tr. 408, chú 94; vol. 1, tr. 521, chú 383 — thứ cấp.
- Chú giải Pāḷi MN143: Papañcasūdanī, Anāthapiṇḍikovādasuttavaṇṇanā, Ps (PTS) V 78–80 (bản VRI Chaṭṭha Saṅgāyana) — chỉ dùng cho chi tiết tiểu sử ở Bối cảnh; chú giải này viết cho MN143, không cho MA28. Bản Thái-Việt: Chú giải Trung Bộ Kinh (sudhamma.net).
- Chú Giải Trung Bộ Kinh, bản Việt: chugiaitrungbokinh.pdf (vietheravada.net) — bản này chỉ gồm MN1–50; bài này không trích từ bản này.
- Âm Hán-Việt tên kinh trong đường dẫn (giáo hóa bệnh kinh) do chuyển bằng
kit/tools/hanviet.json.
📖 Nguồn / bản quyền: SuttaCentral — MA 28 教化病經 (Taishō T26, tr. 458b–461b) + bản Việt Tuệ Sỹ