MN117 - Đại Kinh Bốn Mươi (Mahācattārīsaka Sutta)
Tóm tắt nhanh: Tại Sāvatthī, trong Kỳ-đà-lâm (Jetavana), Đức Phật giảng cho chư Tỷ-kheo về Thánh chánh định “có cận duyên, có tư trợ”: đó là sự nhất tâm được bảy chi còn lại của Bát Chánh Đạo nâng đỡ. Trong bảy chi ấy, chánh kiến đi hàng đầu: với từng chi trong năm chi kiến, tư duy, ngữ, nghiệp, mạng, Ngài chỉ rõ thế nào là tà, rồi chia chánh làm hai loại — hữu lậu, thuộc phước báo và Thánh, vô lậu, siêu thế — và cho thấy chánh kiến, chánh tinh tấn, chánh niệm luôn “chạy vòng quanh” chi ấy. Kế đó Ngài nêu chuỗi mười chi nối nhau sinh khởi: bậc hữu học đủ tám chi, bậc A-la-hán đủ mười chi, và mỗi chi chánh làm tiêu tan chi tà tương ứng cùng các ác pháp do nó sinh ra. Cộng lại thành hai mươi thiện phần, hai mươi bất thiện phần — “Đại pháp môn Bốn mươi” đã chuyển vận, không ai chận lại được. Ai cho rằng pháp môn ấy đáng chê sẽ gặp mười lời chỉ trích hợp pháp ngay hiện tại; đến cả những người chủ trương vô nhân, vô tác, hư vô cũng không dám chê.
🔗 Song tạng: Bản Hán tạng tương đương — MA189 - Kinh Thánh Đạo (聖道經), Trung A-hàm 189. Bản Hán không có việc chia mỗi chi làm hai loại hữu lậu / siêu thế — theo Anālayo, chính điểm khiến MN117 độc nhất trong các Nikāya Pāḷi — nhưng lại định nghĩa thêm chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, chánh giải thoát, chánh trí, và kinh được nói ở xứ Câu-lâu (Kuru) chứ không ở Xá-vệ.
Bối cảnh
Kinh mở đầu bằng khung quen thuộc: Thế Tôn đang ở Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jetavana, tại tinh xá do ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) dâng cúng. Không có ai đến hỏi, không có câu chuyện dẫn nhập: Thế Tôn tự gọi các Tỷ-kheo (bhikkhavo), các vị đáp bhadante (“Bạch Thế Tôn”), và Ngài báo trước đề tài — Thánh chánh định (ariya sammāsamādhi) “cùng với các cận duyên và các tư trợ” (saupanisa, saparikkhāra).
Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “bhikkhavo”ti. “Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca: “ariyaṁ vo, bhikkhave, sammāsamādhiṁ desessāmi saupanisaṁ saparikkhāraṁ. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti. “Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại tinh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Bạch Thế Tôn”. “Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông Thánh chánh định cùng với các cận duyên và các tư trợ. Hãy lắng tai nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng”. “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
Pāḷi: mn117:1.1–2.4 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn117/vi/minh_chau)
Bốn chữ then chốt của đề tài, theo Chú giải (Papañcasūdanī, bản Thái-Việt, đoạn 136): ariya (Thánh) là “không có lỗi lầm, siêu thế”; sammāsamādhi ở đây là định của Đạo (maggasamādhi); saupanisa (“có cận duyên”) nghĩa là có nhân duyên (sapaccaya), còn saparikkhāra (“có tư trợ”) nghĩa là có các yếu tố phối hợp đi kèm (saparivāra).
Tên kinh Mahācattārīsaka nghĩa là “(bài) Bốn Mươi lớn”. Con số bốn mươi chỉ được giải ở gần cuối kinh (§36): hai mươi thiện phần, hai mươi bất thiện phần. Chú giải thêm rằng kinh được gọi là “Đại” vì tuyên thuyết bốn mươi pháp lớn và vì các pháp ấy đem lại quả lớn. Dòng kết kinh ghi “Mahācattārīsakasuttaṁ niṭṭhitaṁ sattamaṁ” — đây là bài thứ bảy của phẩm Anupada-vagga (MN111–120) trong Trung Bộ.
Thánh chánh định: nhất tâm có bảy chi làm tư trợ
Câu định nghĩa mở màn cho cả bài kinh. Thông thường kinh tạng định nghĩa chánh định bằng bốn tầng thiền; ở đây thì khác: chánh định là sự nhất tâm (cittassa ekaggatā) được bảy chi kia “tư trợ” (parikkhatā, Chú giải: “được vây quanh, hộ trì”) — chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm. Nói cách khác, định đúng không phải một kỹ năng tách rời, mà là chỗ hội tụ của cả con đường. (Anālayo nhận xét cách định nghĩa này làm nổi bật việc tu định như một phần của toàn bộ Bát Chánh Đạo — A Comparative Study of the Majjhima-nikāya, vol. 2, tr. 658.)
“Katamo ca, bhikkhave, ariyo sammāsamādhi saupaniso saparikkhāro? Seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi, sammāsaṅkappo, sammāvācā, sammākammanto, sammāājīvo, sammāvāyāmo, sammāsati; yā kho, bhikkhave, imehi sattahaṅgehi cittassa ekaggatā parikkhatā— ayaṁ vuccati, bhikkhave, ariyo sammāsamādhi saupaniso itipi, saparikkhāro itipi.
—Này các Tỷ-kheo, thế nào là Thánh chánh định với các cận duyên và các tư trợ? Chính là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm. Này các Tỷ-kheo, phàm có nhất tâm nào (ekaggata) được tư trợ với bảy chi phần này, này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là Thánh chánh định cùng với các cận duyên và các tư trợ.
Pāḷi: mn117:3.1–3.4 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn117/vi/minh_chau)
Khuôn chung của năm chi: chánh kiến đi hàng đầu
Từ §4 đến §33, Thế Tôn đi qua năm chi đầu — chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng — và chi nào cũng được nói theo cùng một khuôn bảy bước. Khuôn này trích nguyên văn một lần ở đây, lấy chi đầu tiên (chánh kiến) làm mẫu; ở từng chi bên dưới chỉ trích phần khác nhau: tà là gì, chánh hữu lậu là gì, chánh siêu thế là gì.
- Chánh kiến đi hàng đầu: tuệ tri tà X là tà X, tuệ tri chánh X là chánh X — chính sự tuệ tri ấy là chánh kiến.
- Thế nào là tà X: kê các mục cụ thể.
- Chánh X có hai loại: loại hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y (sāsava puññabhāgiya upadhivepakka) và loại thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi (ariya anāsava lokuttara maggaṅga).
- Chánh X hữu lậu là gì: kê các mục thiện thế gian.
- Chánh X siêu thế là gì: chi ấy nơi người có Thánh tâm, vô lậu tâm, đầy đủ Thánh đạo, đang tu tập Thánh đạo.
- Chánh tinh tấn và chánh niệm: nỗ lực bỏ tà X, thành tựu chánh X là chánh tinh tấn; có niệm mà bỏ tà X, an trú chánh X là chánh niệm.
- Ba pháp chạy vòng quanh: chánh kiến, chánh tinh tấn, chánh niệm “chạy theo, chạy vòng theo” (anuparidhāvanti anuparivattanti) chánh X.
Tatra, bhikkhave, sammādiṭṭhi pubbaṅgamā hoti. Kathañca, bhikkhave, sammādiṭṭhi pubbaṅgamā hoti? Micchādiṭṭhiṁ ‘micchādiṭṭhī’ti pajānāti, sammādiṭṭhiṁ ‘sammādiṭṭhī’ti pajānāti—sāssa hoti sammādiṭṭhi.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, chánh kiến đi hàng đầu. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là chánh kiến đi hàng đầu? Tuệ tri tà kiến là tà kiến, tuệ tri chánh kiến là chánh kiến. Như vậy là chánh kiến của vị ấy.
Pāḷi: mn117:4.1–4.3 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn117/vi/minh_chau)Katamā ca, bhikkhave, sammādiṭṭhi? Sammādiṭṭhimpahaṁ, bhikkhave, dvāyaṁ vadāmi— atthi, bhikkhave, sammādiṭṭhi sāsavā puññabhāgiyā upadhivepakkā; atthi, bhikkhave, sammādiṭṭhi ariyā anāsavā lokuttarā maggaṅgā.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh kiến? Chánh kiến, này các Tỷ-kheo, Ta nói có hai loại. Này các Tỷ-kheo, có loại chánh kiến hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y (upadhivepakka); có loại chánh kiến, này các Tỷ-kheo, thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi (magganga).
Pāḷi: mn117:6.1–6.4 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn117/vi/minh_chau)So micchādiṭṭhiyā pahānāya vāyamati, sammādiṭṭhiyā, upasampadāya, svāssa hoti sammāvāyāmo. So sato micchādiṭṭhiṁ pajahati, sato sammādiṭṭhiṁ upasampajja viharati, sāssa hoti sammāsati. Itiyime tayo dhammā sammādiṭṭhiṁ anuparidhāvanti anuparivattanti, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi, sammāvāyāmo, sammāsati.
Ai tinh tấn đoạn trừ tà kiến, thành tựu chánh kiến; như vậy là chánh tinh tấn của vị ấy. Ai chánh niệm đoạn trừ tà kiến, chánh niệm đạt được và an trú chánh kiến; như vậy là chánh niệm của vị ấy. Như vậy ba pháp này chạy theo, chạy vòng theo chánh kiến, tức là chánh kiến, chánh tinh tấn, chánh niệm.
Pāḷi: mn117:9.1–9.3 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn117/vi/minh_chau)
Hai điểm nên để ý trong khuôn. Thứ nhất, ở bước 1 chữ “chánh kiến” xuất hiện ở cả năm chi: biết tà ngữ là tà ngữ, chánh ngữ là chánh ngữ — sự biết ấy vẫn là chánh kiến, không phải chánh ngữ. Đó là nghĩa của “chánh kiến đi hàng đầu” (pubbaṅgamā). Thứ hai, ở bước 6 bản Việt viết “Ai tinh tấn đoạn trừ tà kiến…”, còn Pāḷi là so — “vị ấy”, tức chính người vừa tuệ tri ở bước 1; câu Pāḷi nối liền ba pháp vào một người, bản Việt đọc như một câu tổng quát.
Chú giải giải câu “chạy vòng quanh” bằng một hình ảnh: chánh tinh tấn và chánh niệm hộ trì chánh kiến siêu thế như người cầm gươm và người cầm lọng đứng cùng một cỗ xe với nhà vua — chúng cùng sinh một lúc với chánh kiến (pháp đồng sanh). Chú giải cũng giải “chánh kiến đi hàng đầu” theo hai lớp: chánh kiến tuệ quán (vipassanā) quán các pháp hành là vô thường, khổ, vô ngã đi trước; rồi chánh kiến Đạo sinh lên nhổ bật gốc, “Ví như một người nông dân khi làm ruộng, trước hết chặt cây trong rừng, sau đó đốt lửa; ngọn lửa ấy thiêu rụi không còn sót lại những cây đã bị chặt trước” (Chú giải, đoạn 136).
Năm chi, mỗi chi có tà và hai loại chánh
1. Chánh kiến: mười điều phủ nhận · mười điều thừa nhận · tuệ của Đạo
Tà kiến được kê bằng mười chữ “không có” (natthi): không có (quả của) bố thí, không có cúng dường (yiṭṭha), không có tế tự (huta), không có quả báo các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời khác, không có mẹ, không có cha, không có các loài hóa sanh (opapātika), và ở đời không có Sa-môn, Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh, tự mình chứng biết đời này đời khác rồi tuyên bố. Chánh kiến hữu lậu là đảo đúng mười điều ấy thành “có” (atthi) — tức niềm tin đúng về nghiệp và quả, loại chánh kiến vẫn còn trong vòng phước báo, đưa đến quả tái sanh tốt (upadhivepakka, “quả sanh y”). Chánh kiến siêu thế thì không phải một niềm tin, mà là chính trí tuệ nơi người đang ở trong Thánh đạo, được gọi bằng năm tên: tuệ (paññā), tuệ căn, tuệ lực, trạch pháp giác chi (dhammavicaya-sambojjhaṅga), chánh kiến đạo chi.
Katamā ca, bhikkhave, micchādiṭṭhi? ‘Natthi dinnaṁ, natthi yiṭṭhaṁ, natthi hutaṁ, natthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, natthi ayaṁ loko, natthi paro loko, natthi mātā, natthi pitā, natthi sattā opapātikā, natthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammāpaṭipannā ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti— ayaṁ, bhikkhave, micchādiṭṭhi.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tà kiến? Không có bố thí, không có cúng dường, không có tế tự, không có quả báo các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời khác, không có mẹ, không có cha, không có các loại hóa sanh; ở đời không có các vị Sa-môn, Bà-la-môn, chánh hướng, chánh hạnh, sau khi với thượng trí tự mình chứng đạt lại tuyên bố lên. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là tà kiến.
Pāḷi: mn117:5.1–5.3 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn117/vi/minh_chau)Katamā ca, bhikkhave, sammādiṭṭhi sāsavā puññabhāgiyā upadhivepakkā? ‘Atthi dinnaṁ, atthi yiṭṭhaṁ, atthi hutaṁ, atthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, atthi ayaṁ loko, atthi paro loko, atthi mātā, atthi pitā, atthi sattā opapātikā, atthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammāpaṭipannā ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti— ayaṁ, bhikkhave, sammādiṭṭhi sāsavā puññabhāgiyā upadhivepakkā. Katamā ca, bhikkhave, sammādiṭṭhi ariyā anāsavā lokuttarā maggaṅgā? Yā kho, bhikkhave, ariyacittassa anāsavacittassa ariyamaggasamaṅgino ariyamaggaṁ bhāvayato paññā paññindriyaṁ paññābalaṁ dhammavicayasambojjhaṅgo sammādiṭṭhi maggaṅgaṁ— ayaṁ vuccati, bhikkhave, sammādiṭṭhi ariyā anāsavā lokuttarā maggaṅgā.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh kiến hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y? Có bố thí, có cúng dường, có tế tự, có quả báo các nghiệp thiện ác, có đời này, có đời khác, có mẹ, có cha, có các loại hóa sanh; ở đời có các vị Sa-môn, Bà-la-môn, chánh hướng, chánh hạnh, sau khi với thượng trí tự mình chứng đạt đời này và đời khác lại tuyên bố lên. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là chánh kiến hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh kiến thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi? Phàm cái gì, này các Tỷ-kheo, thuộc trí tuệ, tuệ căn, tuệ lực, trạch pháp giác chi, chánh kiến, đạo chi của một vị tu tập Thánh đạo, thành thục trong Thánh đạo, có vô lậu tâm, có Thánh tâm. Chánh kiến như vậy, này các Tỷ-kheo, thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi.
Pāḷi: mn117:7.1–8.3 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn117/vi/minh_chau)(Ở câu chánh kiến hữu lậu, bản Việt thêm “chứng đạt đời này và đời khác” — đúng với Pāḷi imañca lokaṁ parañca lokaṁ; ở câu tà kiến ngay trên, bản Việt bỏ cụm này dù Pāḷi có.)
2. Chánh tư duy: ba tà tư duy · ba tư duy thiện · bảy tên gọi của tầm siêu thế
Tà tư duy gồm ba: tư duy về dục (kāma), về sân (byāpāda), về hại (vihiṁsā). Chánh tư duy hữu lậu là ba điều đối lại: tư duy ly dục — đúng hơn là “xuất ly” (nekkhamma) —, vô sân, bất hại. Chánh tư duy siêu thế được kê bằng bảy tên trong Pāḷi: takka (suy tư), vitakka (tầm), saṅkappa (tư duy), appanā và byappanā (sự an trú, sự an trú vững của tâm vào đối tượng), cetaso abhiniropanā (sự đặt tâm lên đối tượng), vacīsaṅkhāra (ngữ hành). Bản Việt gom ba tên appanā, byappanā, cetaso abhiniropanā thành một cụm “do sự hoàn toàn chú tâm chuyên tâm” đặt bổ nghĩa cho “ngữ hành”, nên khi đọc chỉ thấy bốn tên rời: suy tư, tầm cầu, tư duy, ngữ hành.
Katamo ca, bhikkhave, micchāsaṅkappo? Kāmasaṅkappo, byāpādasaṅkappo, vihiṁsāsaṅkappo— ayaṁ, bhikkhave, micchāsaṅkappo.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tà tư duy? Dục tư duy, sân tư duy, hại tư duy, này các Tỷ-kheo, như vậy là tà tư duy.
Katamo ca, bhikkhave, sammāsaṅkappo sāsavo puññabhāgiyo upadhivepakko? Nekkhammasaṅkappo, abyāpādasaṅkappo, avihiṁsāsaṅkappo: ‘ayaṁ, bhikkhave, sammāsaṅkappo sāsavo puññabhāgiyo upadhivepakko’. Katamo ca, bhikkhave, sammāsaṅkappo ariyo anāsavo lokuttaro maggaṅgo? Yo kho, bhikkhave, ariyacittassa anāsavacittassa ariyamaggasamaṅgino ariyamaggaṁ bhāvayato takko vitakko saṅkappo appanā byappanā cetaso abhiniropanā vacīsaṅkhāro— ayaṁ, bhikkhave, sammāsaṅkappo ariyo anāsavo lokuttaro maggaṅgo.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh tư duy hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y? Ly dục tư duy, vô sân tư duy, bất hại tư duy, như vậy, này các Tỷ-kheo là chánh tư duy, hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh tư duy, thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi? Phàm cái gì này các Tỷ-kheo thuộc suy tư, tầm cầu, tư duy, một ngữ hành do sự hoàn toàn chú tâm chuyên tâm của một vị tu tập Thánh đạo, thành thục trong Thánh đạo, có vô lậu tâm, có Thánh tâm; chánh tư duy như vậy, này các Tỷ-kheo, thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi.
Pāḷi: mn117:11.1–14.3 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn117/vi/minh_chau)Vì sao tầm siêu thế lại mang tên “ngữ hành”? Pāḷi Chú giải ghi: tầm thế gian thì sửa soạn lời nói, tầm siêu thế thì không, “dù không sửa soạn, vẫn có tên là ngữ hành” (kiñcāpi na saṅkharoti, vacīsaṅkhārotveva ca panassa nāmaṁ hoti). Chú giải còn nói ba tư duy thiện ở giai đoạn trước sinh trong những tâm khác nhau, nhưng ở sát-na Đạo chỉ một chánh tư duy duy nhất sinh lên, cắt đứt cả ba tà tư duy và nhận cả ba tên xuất ly, vô sân, bất hại (đoạn 137). Ở bước 1 của chi này, bản Việt viết “chánh kiến của các vị ấy” (số nhiều); Pāḷi sāssa là số ít, như bốn chi kia.
3. Chánh ngữ: bốn tà ngữ · viễn ly bốn điều · kiêng bốn khẩu ác hành
Tà ngữ có bốn: nói dối (musāvāda), nói hai lưỡi (pisuṇā vācā), nói lời độc ác (pharusā vācā), nói phù phiếm (samphappalāpa). Chánh ngữ hữu lậu là viễn ly (veramaṇī) bốn điều ấy. Chánh ngữ siêu thế là sự “từ bỏ, từ đoạn, từ khước, viễn ly” (ārati virati paṭivirati veramaṇī) bốn khẩu ác hành nơi người đang tu Thánh đạo — bốn chữ mà Chú giải nói đều là tên gọi khác của cùng một trạng thái kiêng tránh; riêng veramaṇī còn được giải là “hủy diệt thù hận” (veraṁ maṇati) (đoạn 138).
Katamā ca, bhikkhave, micchāvācā? Musāvādo, pisuṇā vācā, pharusā vācā, samphappalāpo— ayaṁ, bhikkhave, micchāvācā.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tà ngữ? Vọng ngữ, nói hai lưỡi, ác khẩu, nói lời phù phiếm; như vậy, này các Tỷ-kheo, là tà ngữ.
Katamā ca, bhikkhave, sammāvācā sāsavā puññabhāgiyā upadhivepakkā? Musāvādā veramaṇī, pisuṇāya vācāya veramaṇī, pharusāya vācāya veramaṇī, samphappalāpā veramaṇī— ayaṁ, bhikkhave, sammāvācā sāsavā puññabhāgiyā upadhivepakkā. Katamā ca, bhikkhave, sammāvācā ariyā anāsavā lokuttarā maggaṅgā? Yā kho, bhikkhave, ariyacittassa anāsavacittassa ariyamaggasamaṅgino ariyamaggaṁ bhāvayato catūhi vacīduccaritehi ārati virati paṭivirati veramaṇī— ayaṁ, bhikkhave, sammāvācā ariyā anāsavā lokuttarā maggaṅgā.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh ngữ hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y? Viễn ly vọng ngữ, viễn ly nói hai lưỡi, viễn ly ác khẩu, viễn ly phù phiếm ngữ; như vậy, này các Tỷ-kheo, là chánh ngữ hữu lậu thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh ngữ thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi? Cái gì, này các Tỷ-kheo, thuộc về từ bỏ, từ đoạn, từ khước, viễn ly bốn ngữ ác hành, đối với một vị tu tập Thánh đạo, thuần thục trong Thánh đạo, có vô lậu tâm, có Hiền Thánh tâm; như vậy, này các Tỷ-kheo là chánh ngữ thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi.
Pāḷi: mn117:17.1–20.3 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn117/vi/minh_chau)4. Chánh nghiệp: ba tà nghiệp · viễn ly ba điều · kiêng ba thân ác hành
Tà nghiệp có ba: sát sanh (pāṇātipāta), lấy của không cho (adinnādāna), tà hạnh trong các dục (kāmesumicchācāra). Chánh nghiệp hữu lậu là viễn ly ba điều ấy. Chánh nghiệp siêu thế là sự từ bỏ, từ đoạn, từ khước, viễn ly ba thân ác hành nơi người đang tu Thánh đạo. Theo Chú giải, sự viễn ly ở mức hữu lậu hiểu là tâm sở tiết chế (virati) hay là tư (cetanā) đều được (đoạn 138–139).
Katamo ca, bhikkhave, micchākammanto? Pāṇātipāto, adinnādānaṁ, kāmesumicchācāro— ayaṁ, bhikkhave, micchākammanto.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tà nghiệp? Sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục; như vậy, này các Tỷ-kheo, là tà nghiệp.
Katamo ca, bhikkhave, sammākammanto sāsavo puññabhāgiyo upadhivepakko? Pāṇātipātā veramaṇī, adinnādānā veramaṇī, kāmesumicchācārā veramaṇī— ayaṁ, bhikkhave, sammākammanto sāsavo puññabhāgiyo upadhivepakko. Katamo ca, bhikkhave, sammākammanto ariyo anāsavo lokuttaro maggaṅgo? Yā kho, bhikkhave, ariyacittassa anāsavacittassa ariyamaggasamaṅgino ariyamaggaṁ bhāvayato tīhi kāyaduccaritehi ārati virati paṭivirati veramaṇī— ayaṁ, bhikkhave, sammākammanto ariyo anāsavo lokuttaro maggaṅgo.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh nghiệp thuộc hữu lậu thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y? Viễn ly sát sanh, viễn ly lấy của không cho, viễn ly tà hạnh trong các dục; như vậy, này các Tỷ-kheo, là chánh nghiệp, thuộc hữu lậu thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh nghiệp thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi? Cái gì, này các Tỷ-kheo, thuộc về từ bỏ, từ đoạn, từ khước, viễn ly ba thân ác hành đối với một vị tu tập Thánh đạo, thành thục trong Thánh đạo, có vô lậu tâm, có Hiền Thánh tâm; như vậy, này các Tỷ-kheo, là chánh nghiệp thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi.
Pāḷi: mn117:23.1–26.3 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn117/vi/minh_chau)5. Chánh mạng: năm cách tà mạng · nuôi sống bằng chánh mạng · kiêng tà mạng
Tà mạng có năm: lừa đảo (kuhanā — theo Pāḷi Chú giải: dùng mánh lừa dối làm người kinh ngạc), nói lời mê ly (lapanā — nói năng vì muốn được lợi lộc, cung kính), hiện tướng (nemittikatā — quen ra dấu, gợi ý), gian trá (nippesikatā — Sujato dịch “belittling”: chê bai, hạ người để ép cho), và lấy lợi cầu lợi (lābhena lābhaṁ nijigīsanatā). Chú giải nói chi tiết năm điều này đã có trong Thanh Tịnh Đạo, phần Giới, và thêm: tà mạng không chỉ là năm điều kinh nêu, mà cả tư của bảy nghiệp đạo (sát sanh, trộm cắp…) làm vì mục đích nuôi mạng cũng là tà mạng (đoạn 140). Chánh mạng hữu lậu — điều đáng chú ý — được nói về chính vị Thánh đệ tử (ariyasāvaka): bỏ tà mạng, nuôi sống bằng chánh mạng; chánh mạng siêu thế là sự kiêng tránh tà mạng nơi người đang tu Thánh đạo.
Katamo ca, bhikkhave, micchāājīvo? Kuhanā, lapanā, nemittikatā, nippesikatā, lābhena lābhaṁ nijigīsanatā— ayaṁ, bhikkhave, micchāājīvo.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tà mạng? Lừa đảo, nói lời mê ly, hiện tướng, gian trá, lấy lợi cầu lợi; như vậy, này các Tỷ-kheo, là tà mạng.
Katamo ca, bhikkhave, sammāājīvo sāsavo puññabhāgiyo upadhivepakko? Idha, bhikkhave, ariyasāvako micchāājīvaṁ pahāya sammāājīvena jīvikaṁ kappeti— ayaṁ, bhikkhave, sammāājīvo sāsavo puññabhāgiyo upadhivepakko. Katamo ca, bhikkhave, sammāājīvo ariyo anāsavo lokuttaro maggaṅgo? Yā kho, bhikkhave, ariyacittassa anāsavacittassa ariyamaggasamaṅgino ariyamaggaṁ bhāvayato micchāājīvā ārati virati paṭivirati veramaṇī— ayaṁ, bhikkhave, sammāājīvo ariyo anāsavo lokuttaro maggaṅgo.
Và thế nào, này các Tỷ-kheo là chánh mạng hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử bỏ tà mạng, nuôi sống với chánh mạng; như vậy, này các Tỷ-kheo là chánh mạng hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh mạng thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi? Cái gì, này các Tỷ-kheo thuộc về từ bỏ, từ đoạn, từ khước, viễn ly tà mạng đối với một vị tu tập Thánh đạo, thuần thục trong Thánh đạo. Có vô lậu tâm, có Hiền Thánh tâm; như vậy, này các Tỷ-kheo, là chánh mạng thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi.
Pāḷi: mn117:29.1–32.3 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn117/vi/minh_chau)Chi chánh mạng khép lại năm chi bằng đúng câu khung bước 6–7: tinh tấn bỏ tà mạng là chánh tinh tấn, có niệm bỏ tà mạng là chánh niệm, ba pháp chạy vòng quanh chánh mạng (§33, theo Khuôn chung ở trên).
Bảng tổng hợp năm chi
| # | Chi | Tà (micchā) | Chánh hữu lậu, thuộc phước báo | Chánh Thánh, vô lậu, siêu thế |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Chánh kiến | 10 điều “không có”: bố thí, cúng dường, tế tự, quả nghiệp, đời này, đời khác, mẹ, cha, hóa sanh, Sa-môn chân chánh | 10 điều ấy là “có” | tuệ, tuệ căn, tuệ lực, trạch pháp giác chi, chánh kiến đạo chi |
| 2 | Chánh tư duy | dục, sân, hại tư duy | xuất ly, vô sân, bất hại tư duy | 7 tên: suy tư, tầm, tư duy, an trú, an trú vững, đặt tâm, ngữ hành |
| 3 | Chánh ngữ | nói dối, hai lưỡi, ác khẩu, phù phiếm | viễn ly 4 điều ấy | kiêng 4 khẩu ác hành |
| 4 | Chánh nghiệp | sát sanh, trộm cắp, tà hạnh | viễn ly 3 điều ấy | kiêng 3 thân ác hành |
| 5 | Chánh mạng | lừa đảo, mê ly, hiện tướng, gian trá, lấy lợi cầu lợi | Thánh đệ tử bỏ tà mạng, sống bằng chánh mạng | kiêng tà mạng |
Mỗi chi đều kết bằng cùng một câu: chánh kiến (biết), chánh tinh tấn (nỗ lực bỏ tà, thành chánh), chánh niệm (nhớ giữ) — ba pháp chạy vòng quanh chi ấy.
Chuỗi mười chi: hữu học tám chi, A-la-hán mười chi
Đến §34, “chánh kiến đi hàng đầu” được hiểu theo nghĩa thứ hai: chuỗi nhân duyên. Từ chánh kiến, chánh tư duy “đủ sức sinh khởi” (pahoti); từ chánh tư duy, chánh ngữ; rồi chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định — và đi tiếp thêm hai chi: chánh trí (sammāñāṇa) và chánh giải thoát (sammāvimutti). Do đó bậc hữu học (sekha) thành tựu tám chi, bậc A-la-hán thành tựu mười chi.
Tatra, bhikkhave, sammādiṭṭhi pubbaṅgamā hoti. Kathañca, bhikkhave, sammādiṭṭhi pubbaṅgamā hoti? Sammādiṭṭhissa, bhikkhave, sammāsaṅkappo pahoti, sammāsaṅkappassa sammāvācā pahoti, sammāvācassa sammākammanto pahoti, sammākammantassa sammāājīvo pahoti, sammāājīvassa sammāvāyāmo pahoti, sammāvāyāmassa sammāsati pahoti, sammāsatissa sammāsamādhi pahoti, sammāsamādhissa sammāñāṇaṁ pahoti, sammāñāṇassa sammāvimutti pahoti. Iti kho, bhikkhave, aṭṭhaṅgasamannāgato sekkho, dasaṅgasamannāgato arahā hoti. Tatrapi sammāñāṇena aneke pāpakā akusalā dhammā vigatā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo chánh kiến đi hàng đầu. Và thế nào, này các Tỷ-kheo, là chánh kiến đi hàng đầu? Chánh tư duy, này các Tỷ-kheo, do chánh kiến, được khởi lên. Chánh ngữ do chánh tư duy được khởi lên. Chánh nghiệp do chánh ngữ được khởi lên. Chánh mạng do chánh nghiệp được khởi lên. Chánh tinh tấn do chánh mạng được khởi lên. Chánh niệm do chánh tinh tấn được khởi lên. Chánh định do chánh niệm được khởi lên. Chánh trí do chánh định được khởi lên. Chánh giải thoát do chánh trí được khởi lên. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đạo lộ của vị hữu học gồm có tám chi phần, và đạo lộ của vị A-la-hán gồm có mười chi phần.
Pāḷi: mn117:34.1–34.5 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn117/vi/minh_chau)Lưu ý bản dịch: câu Pāḷi cuối của đoạn (Tatrapi sammāñāṇena aneke pāpakā akusalā dhammā vigatā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti — “Ở đây nữa, nhờ chánh trí mà nhiều ác bất thiện pháp được tiêu trừ, (sự tu tập) đi đến viên mãn”) không có trong bản Việt. Chú giải giải: chánh trí ở đây là trí quán xét lại (paccavekkhaṇa) đạo và quả, và nêu ý kiến cho rằng chánh giải thoát nên hiểu là quả (phala) (đoạn 141).
Mười cặp: chánh làm tiêu tan tà
§35 lặp lại “chánh kiến đi hàng đầu” lần chót, theo nghĩa thứ ba: đối trị. Với người có chánh kiến, tà kiến bị tiêu mòn (nijjiṇṇa), cùng mọi ác bất thiện pháp do duyên tà kiến mà sinh; còn các thiện pháp do duyên chánh kiến thì được tu tập đến viên mãn. Bản Pāḷi nói đủ cho chi đầu và chi cuối, các chi giữa viết tắt bằng …pe…; bản Việt dịch đủ cả mười đoạn (SC 34–43). Dưới đây trích đoạn đầu, đoạn thứ hai và đoạn cuối, rồi kê đủ mười cặp trong bảng.
Tatra, bhikkhave, sammādiṭṭhi pubbaṅgamā hoti. Kathañca, bhikkhave, sammādiṭṭhi pubbaṅgamā hoti? Sammādiṭṭhissa, bhikkhave, micchādiṭṭhi nijjiṇṇā hoti. Ye ca micchādiṭṭhipaccayā aneke pāpakā akusalā dhammā sambhavanti te cassa nijjiṇṇā honti. Sammādiṭṭhipaccayā aneke kusalā dhammā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti. Sammāsaṅkappassa, bhikkhave, micchāsaṅkappo nijjiṇṇo hoti …pe… sammāvācassa, bhikkhave, micchāvācā nijjiṇṇā hoti … sammākammantassa, bhikkhave, micchākammanto nijjiṇṇo hoti … sammāājīvassa, bhikkhave, micchāājīvo nijjiṇṇo hoti … sammāvāyāmassa, bhikkhave, micchāvāyāmo nijjiṇṇo hoti … sammāsatissa, bhikkhave, micchāsati nijjiṇṇā hoti … sammāsamādhissa, bhikkhave, micchāsamādhi nijjiṇṇo hoti … sammāñāṇassa, bhikkhave, micchāñāṇaṁ nijjiṇṇaṁ hoti … sammāvimuttassa, bhikkhave, micchāvimutti nijjiṇṇā hoti. Ye ca micchāvimuttipaccayā aneke pāpakā akusalā dhammā sambhavanti te cassa nijjiṇṇā honti. Sammāvimuttipaccayā ca aneke kusalā dhammā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, chánh kiến đi hàng đầu. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là chánh kiến đi hàng đầu? Tà kiến, này các Tỷ-kheo, do chánh kiến làm cho tiêu diệt. Và những ác bất thiện pháp được tà kiến duyên khởi, các pháp ấy bị tiêu diệt trong vị có chánh kiến. Và những thiện pháp được chánh kiến duyên khởi, các pháp ấy được tu tập và trở thành viên mãn.
Tà tư duy, này các Tỷ-kheo, do chánh tư duy làm cho tiêu diệt và những ác bất thiện pháp, được tà tư duy duyên khởi, các pháp ấy bị tiêu diệt trong người có chánh tư duy. Và những thiện pháp được chánh tư duy duyên khởi, các pháp ấy được phát triển trở thành viên mãn.
Tà giải thoát, này các Tỷ-kheo, do chánh giải thoát làm cho tiêu diệt. Và những ác bất thiện pháp được tà giải thoát duyên khởi, các pháp ấy được tiêu diệt trong người có chánh giải thoát. Và các thiện pháp được chánh giải thoát duyên khởi, các pháp ấy được phát triển và trở thành viên mãn.
Pāḷi: mn117:35.1–35.16 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn117/vi/minh_chau)| # | Chi chánh | làm tiêu tan | Ác pháp do duyên tà chi | Thiện pháp do duyên chánh chi |
|---|---|---|---|---|
| 1 | chánh kiến | tà kiến | bị tiêu diệt | tu tập viên mãn |
| 2 | chánh tư duy | tà tư duy | bị tiêu diệt | tu tập viên mãn |
| 3 | chánh ngữ | tà ngữ | bị tiêu diệt | tu tập viên mãn |
| 4 | chánh nghiệp | tà nghiệp | bị tiêu diệt | tu tập viên mãn |
| 5 | chánh mạng | tà mạng | bị tiêu diệt | tu tập viên mãn |
| 6 | chánh tinh tấn | tà tinh tấn | bị tiêu diệt | tu tập viên mãn |
| 7 | chánh niệm | tà niệm | bị tiêu diệt | tu tập viên mãn |
| 8 | chánh định | tà định | bị tiêu diệt | tu tập viên mãn |
| 9 | chánh trí | tà trí | bị tiêu diệt | tu tập viên mãn |
| 10 | chánh giải thoát | tà giải thoát | bị tiêu diệt | tu tập viên mãn |
(Bản Việt dịch sammādiṭṭhissa micchādiṭṭhi nijjiṇṇā hoti là “tà kiến do chánh kiến làm cho tiêu diệt”; sát chữ Pāḷi hơn là “đối với người có chánh kiến, tà kiến bị tiêu mòn” — chủ thể là con người có chánh kiến.)
Hai mươi thiện phần, hai mươi bất thiện phần
Đến đây mới ra con số của tên kinh. Theo Chú giải, hai mươi thiện phần là mười chánh chi cộng với mười nhóm “nhiều thiện pháp do duyên chánh chi”; hai mươi bất thiện phần là mười tà chi (bị tiêu mòn) cộng với mười nhóm “nhiều ác pháp do duyên tà chi” (đoạn 142). Thế Tôn tuyên bố pháp môn ấy đã được chuyển vận, và không một ai chận lại được: không Sa-môn, không Bà-la-môn, không chư Thiên, không Ma, không Phạm thiên, không một ai ở đời.
Iti kho, bhikkhave, vīsati kusalapakkhā, vīsati akusalapakkhā— mahācattārīsako dhammapariyāyo pavattito appaṭivattiyo samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmiṁ.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, có hai mươi thiện phần, hai mươi bất thiện phần. Ðại pháp môn Bốn mươi đã được chuyển vận không bị chận đứng lại bởi một Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Ma, Phạm thiên hay một ai ở đời.
Pāḷi: mn117:36.1–36.2 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn117/vi/minh_chau)Mười lời chỉ trích hợp pháp dành cho người chê pháp môn
Thế Tôn nói tiếp: Sa-môn hay Bà-la-môn nào nghĩ rằng Đại pháp môn Bốn mươi đáng chê, đáng bác bỏ, thì ngay hiện tại sẽ gặp mười lời luận hợp pháp (dasa sahadhammikā vādānuvādā) đưa họ vào chỗ đáng bị chê. Lý lẽ là: nếu Tôn giả chê chánh kiến, thì những Sa-môn, Bà-la-môn có tà kiến hóa ra là người Tôn giả phải tôn kính, phải tán thán (te bhoto pujjā, te bhoto pāsaṁsā) — và cứ thế cho đủ mười chi. Chú giải nói thêm: nói “tà kiến là tốt” hay nói “chánh kiến là không tốt” thì đều là chê chánh kiến (Pāḷi Chú giải, đoạn 143).
Yo hi koci, bhikkhave, samaṇo vā brāhmaṇo vā imaṁ mahācattārīsakaṁ dhammapariyāyaṁ garahitabbaṁ paṭikkositabbaṁ maññeyya tassa diṭṭheva dhamme dasasahadhammikā vādānuvādā gārayhaṁ ṭhānaṁ āgacchanti— sammādiṭṭhiñce bhavaṁ garahati, ye ca micchādiṭṭhī samaṇabrāhmaṇā te bhoto pujjā, te bhoto pāsaṁsā; sammāsaṅkappañce bhavaṁ garahati, ye ca micchāsaṅkappā samaṇabrāhmaṇā te bhoto pujjā, te bhoto pāsaṁsā; sammāvācañce bhavaṁ garahati …pe… sammākammantañce bhavaṁ garahati … sammāājīvañce bhavaṁ garahati … sammāvāyāmañce bhavaṁ garahati … sammāsatiñce bhavaṁ garahati … sammāsamādhiñce bhavaṁ garahati … sammāñāṇañce bhavaṁ garahati … sammāvimuttiñce bhavaṁ garahati, ye ca micchāvimuttī samaṇabrāhmaṇā te bhoto pujjā, te bhoto pāsaṁsā. Yo koci, bhikkhave, samaṇo vā brāhmaṇo vā imaṁ mahācattārīsakaṁ dhammapariyāyaṁ garahitabbaṁ paṭikkositabbaṁ maññeyya tassa diṭṭheva dhamme ime dasasahadhammikā vādānuvādā gārayhaṁ ṭhānaṁ āgacchanti.
Nếu có Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, nghĩ rằng đại pháp môn Bốn mươi này đáng bị phê bình, đáng bị phỉ báng, thời ngay hiện tại, mười thuận thuyết tùy thuyết hợp pháp được nói lên để chỉ trích người ấy. Nếu Tôn giả chỉ trích chánh kiến, thời các Sa-môn có tà kiến, các Tôn giả ấy là những vị đáng được cúng dường, các Tôn giả ấy là những vị đáng được tán thán. Nếu Tôn giả chỉ trích chánh tư duy, thời các Sa-môn, Bà-la-môn có tà tư duy, các Tôn giả ấy là những vị đáng được cúng dường, các Tôn giả ấy là những vị đáng được tán thán. Nếu Tôn giả chỉ trích chánh ngữ … chánh nghiệp … chánh mạng … chánh tinh tấn … chánh niệm … chánh định … chánh trí … Nếu Tôn giả chỉ trích chánh giải thoát, thời các Sa-môn, Bà-la-môn có tà giải thoát, các Tôn giả ấy là những vị đáng cúng dường, các Tôn giả ấy là những vị đáng được tán thán. Nếu có Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, nghĩ rằng đại pháp môn Bốn mươi này đáng bị phê bình, đáng bị phỉ báng, thời ngay hiện tại, mười thuận thuyết hợp pháp được nói lên để chỉ trích người ấy.
Pāḷi: mn117:37.1–37.12 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn117/vi/minh_chau)| # | Nếu chê… | thì phải tôn kính, tán thán Sa-môn, Bà-la-môn có… |
|---|---|---|
| 1 | chánh kiến | tà kiến |
| 2 | chánh tư duy | tà tư duy |
| 3 | chánh ngữ | tà ngữ |
| 4 | chánh nghiệp | tà nghiệp |
| 5 | chánh mạng | tà mạng |
| 6 | chánh tinh tấn | tà tinh tấn |
| 7 | chánh niệm | tà niệm |
| 8 | chánh định | tà định |
| 9 | chánh trí | tà trí |
| 10 | chánh giải thoát | tà giải thoát |
(Ở điều thứ nhất bản Việt ghi “các Sa-môn có tà kiến”, các điều sau ghi “các Sa-môn, Bà-la-môn”; Pāḷi cả mười điều đều là samaṇabrāhmaṇā. Câu tóm cuối đoạn bản Việt viết gọn “mười thuận thuyết hợp pháp”, câu đầu đoạn viết “mười thuận thuyết tùy thuyết hợp pháp” — cùng một cụm dasa sahadhammikā vādānuvādā.)
Ngay cả phái vô nhân, vô tác, hư vô cũng không dám chê
Đoạn cuối lời Phật nêu một ví dụ: những người xứ Okkalā, Vassa và Bhañña — những người chủ trương vô nhân luận (ahetuvāda), vô tác luận (akiriyavāda), hư vô luận (natthikavāda) — cũng không nghĩ rằng Đại pháp môn Bốn mươi đáng chê, đáng bác bỏ. Vì sao? Vì sợ ba điều: bị quở trách (nindā), bị phẫn nộ (byārosa), bị công kích (upārambha).
Yepi te, bhikkhave, ahesuṁ okkalā vassabhaññā ahetuvādā akiriyavādā natthikavādā tepi mahācattārīsakaṁ dhammapariyāyaṁ na garahitabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ amaññiṁsu. Taṁ kissa hetu? Nindābyārosaupārambhabhayā”ti.
Này các Tỷ-kheo, cho đến các dân chúng ở Ukkalā và dân chúng Vassa, dân chúng Bhanna theo vô nhân luận, theo vô tác luận, theo hư vô luận, những vị ấy cũng không nghĩ rằng đại pháp môn Bốn mươi đáng chỉ trích, đáng bị phỉ báng. Vì sao vậy? Vì sợ quở trách, phẫn nộ, công kích.
Pāḷi: mn117:38.1–38.3 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn117/vi/minh_chau)Bản Việt dịch “các dân chúng ở Ukkalā và dân chúng Vassa, dân chúng Bhanna”, tức hiểu cả ba là tên dân tộc. Pāḷi Chú giải giải khác: Okkalā là dân xứ Okkala, còn Vassa và Bhañña là hai người (Vasso ca Bhañño cāti dve janā); vô nhân luận là chủ trương “không có nhân, không có duyên cho sự thanh tịnh của chúng sanh”, vô tác luận là “người làm không gọi là làm ác”, hư vô luận là “không có bố thí…” (đoạn 143). Bản Việt của Chú giải (sudhamma.net) bỏ trống câu này; phần dịch còn lại nói những người ấy đã rơi vào “tà kiến cố định”.
Kết kinh
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các vị Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Pāḷi: mn117:38.4–38.5 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn117/vi/minh_chau)Kinh kết bằng câu chuẩn: Thế Tôn nói như vậy, các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ (attamanā… abhinandun). Không có ai tán thán hay quy y, vì người nghe ngay từ đầu đã là chư Tỷ-kheo.
Giải thích
1. Định không đứng một mình. Người tu thiền dễ nghĩ chánh định là chuyện ngồi cho tâm yên. MN117 trả lời ngược lại: định “Thánh” là nhất tâm có bảy chi kia làm tư trợ. Một tâm chuyên nhất mà nuôi bằng tà mạng, tà ngữ, tà kiến thì không phải chánh định — kinh còn gọi tên rõ “tà định” (micchāsamādhi) ở §35. Muốn định đúng, phải sống đúng trước.
2. “Chánh kiến đi hàng đầu” theo ba nghĩa. Kinh lặp câu này bảy lần, mỗi lần mở ra một nghĩa. (a) Ở năm chi đầu: chánh kiến là cái biết phân biệt tà và chánh trong từng lĩnh vực — biết lời nào là tà ngữ, nghề nào là tà mạng. (b) Ở §34: chánh kiến là mắt xích đầu của chuỗi mười chi. (c) Ở §35: chánh kiến là cái đối trị làm tiêu tan tà kiến và mọi ác pháp đi theo nó. Chú giải còn nói trong kinh này có năm loại chánh kiến: tuệ quán (câu “tuệ tri tà kiến là tà kiến”), chánh kiến về nghiệp là của riêng mình (kammassakatā, câu “có bố thí…”), chánh kiến Đạo và chánh kiến Quả (§34), và chánh kiến quán xét lại (chánh trí) — Pāḷi Chú giải đoạn 142 kê đủ năm; bản Việt sudhamma để trống danh sách.
3. Hai tầng của mỗi chi. Chánh kiến “có bố thí, có quả nghiệp, có đời sau” là đúng, là thiện, nhưng vẫn hữu lậu — nó dẫn đến tái sanh tốt chứ chưa đưa ra khỏi luân hồi. Tầng siêu thế là cùng chi ấy khi khởi lên trong tâm Thánh đạo. Theo Anālayo, MN117 là kinh duy nhất trong các Nikāya Pāḷi trình bày các chi đạo theo lối “siêu thế” như vậy; bản Hán MA189 và bản dẫn trong luận thư Tây Tạng đều không có tầng này, nên ông nêu giả thuyết đây có thể là phần chú giải sớm được nhập vào kinh trong quá trình truyền tụng (vol. 2, tr. 660). Đây là giả thuyết học thuật, không phải kết luận chắc chắn.
4. Ba người bạn đồng hành của mỗi chi. Bộ ba chánh kiến – chánh tinh tấn – chánh niệm là một cách tu rất thực tế: thấy rõ (đây là lời nói dối, đây là cách kiếm tiền không ngay), nỗ lực bỏ cái sai và làm cái đúng, và nhớ để giữ cái đúng. Thiếu một trong ba thì chi ấy không đứng được: biết mà không cố thì vô ích; cố mà không nhớ thì lại quên.
5. Ứng dụng cho người cư sĩ. Bảng năm chi có thể dùng như một bảng tự soát: hôm nay mình có ý nghĩ tham dục, sân hận, muốn hại ai không (tư duy); có nói dối, nói đâm thọc, nói nặng, nói chuyện vô ích không (ngữ); có làm tổn hại sinh mạng, lấy của không cho, sai trái trong dục không (nghiệp); có kiếm sống bằng cách làm màu, tâng bốc, gợi ý, ép buộc, lấy lợi câu lợi không (mạng). Mỗi lần nhận ra (chánh kiến), cố gắng sửa (chánh tinh tấn) và giữ được (chánh niệm) là đang chuẩn bị cho chánh định.
Đối chiếu các tạng
Theo danh mục tương đương của SuttaCentral (tra ngày 19/10/2026), MN117 có các bản: Hán tạng MA189 聖道經 (T i 735b), xếp “tương đương đầy đủ”; mảnh Sanskrit SHT V 1125; bản Tây Tạng Up 6.080 (đoạn dẫn kinh trong luận giải Abhidharmakośa của Śamathadeva); và Hán tạng SA785 邪正 (Tạp A-hàm), được ghi là “gần giống”. Ngoài ra SuttaCentral nêu đoạn §37 có chỗ tương tự trong AN 4.30, SN 22.62 và một chỗ nhắc trong Kv 1.6. Bài này chỉ đối chiếu chi tiết với MA189 (bản có trong kho của site). SHT, Up 6.080, AN 4.30, SN 22.62, Kv 1.6 chưa đối chiếu; các nhận xét về SHT và bản Tây Tạng dưới đây là theo Anālayo (thứ cấp).
Về SA785: theo Anālayo, kinh Tạp A-hàm này cũng chia tám chi thành hai loại thế gian / xuất thế gian, nhưng không nói đến các chi tà và không nói vai trò của chánh kiến, chánh tinh tấn, chánh niệm với từng chi — nên ông không coi là bản tương đương của MN117 (vol. 2, tr. 661). Bài này chưa đối chiếu SA785 bản gốc.
| Điểm | MN117 (Pāḷi) | MA189 (Hán) |
|---|---|---|
| Tên kinh | Mahācattārīsaka — Đại Bốn Mươi | 聖道經 Kinh Thánh Đạo (phẩm 雙品 gồm MA182–191, đây là kinh thứ 8; dòng cuối kinh ghi 聖道經第三 là thứ tự trong quyển 49; 1.805 chữ) |
| Nơi chốn | Sāvatthī, Jetavana | 拘樓瘦劒磨瑟曇拘樓都邑 — đô ấp Câu-lâu, Kiếm-ma-sắt-đàm, xứ Câu-lâu-lấu (Kuru) |
| Mở đầu | báo đề tài Thánh chánh định có cận duyên, tư trợ | thêm câu “có một con đường khiến chúng sanh được thanh tịnh…” (有一道令眾生得清淨) |
| Thuật ngữ của chánh định | 2: saupanisa (cận duyên), saparikkhāra (tư trợ) | 3: 習、助、具 (cận tập, trợ bạn, tư cụ) |
| Chuỗi chánh kiến sinh chánh tư duy… | ở §34, đi đủ 10 chi tới chánh giải thoát | ngay sau định nghĩa, dừng ở chánh định; rồi “dứt sạch dâm, nộ, si… sự sanh đã dứt” |
| Mỗi chi có hai loại hữu lậu / siêu thế | có, cho cả năm chi | không có |
| Tà kiến | có “không có các loài hóa sanh” | không có mục hóa sanh |
| Câu khung “thấy tà là tà…” | sự thấy ấy là chánh kiến | ghi là chánh tư duy, chánh ngữ… (theo Anālayo và Meisig: lỗi chép) |
| Tà mạng | 5 điều: lừa đảo, mê ly, hiện tướng, gian trá, lấy lợi cầu lợi | mong cầu không mãn ý, dùng chú thuật “súc sanh” (畜生之呪), tìm y, ăn uống, giường, thuốc không như pháp |
| Chi 6–10 | không định nghĩa riêng | định nghĩa chánh tinh tấn (bốn chánh cần), chánh niệm (bốn niệm xứ), chánh định (đến Tứ thiền), chánh giải thoát, chánh trí |
| Thứ tự hai chi cuối | chánh trí → chánh giải thoát | chánh giải thoát → chánh trí |
| Bốn mươi | 20 thiện, 20 bất thiện; pháp môn “đã chuyển, không ai chận được” | 20 thiện, 20 bất thiện; “bốn mươi đại pháp phẩm chuyển Phạm luân” (梵輪) |
| Mười lời chỉ trích | tới chánh giải thoát | tới chánh trí |
| Đoạn cuối | Okkalā, Vassa, Bhañña (vô nhân, vô tác, hư vô) không dám chê vì sợ bị quở trách | Sa-môn ngồi chồm hổm, vô sở hữu, vô nhân, vô tác, vô nghiệp cũng chuốc chỉ trích, lo sầu, sợ hãi |
| Kết | Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ | 歡喜奉行 hoan hỷ phụng hành |
Hai bản giống nhau ở xương sống: chánh định định nghĩa bằng bảy chi tư trợ; chánh kiến đi hàng đầu với từng chi; bộ ba chánh kiến – chánh tinh tấn – chánh niệm; hữu học tám chi, A-la-hán mười chi; hai mươi thiện, hai mươi bất thiện; mười lời chỉ trích. Khác lớn nhất là tầng siêu thế chỉ có ở Pāḷi, và năm định nghĩa chuẩn của chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, chánh giải thoát, chánh trí chỉ có ở Hán. Anālayo cho rằng phần định nghĩa thêm ở bản Hán cũng có thể là do người tụng bổ sung từ các định nghĩa chuẩn ở chỗ khác (vol. 2, tr. 661–662). Chi tiết bản Hán xem MA189 - Kinh Thánh Đạo.
Tra cứu trong bài
- Nhân vật: Đức Phật · Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc)
- Địa danh: Sāvatthī (Xá-vệ) · Kỳ-đà-lâm (Jetavana)
- Thuật ngữ: Bát Chánh Đạo · Chánh định (sammāsamādhi) · Chánh kiến (sammādiṭṭhi) · Chánh niệm (sati) · Thiền (jhāna) · Bậc hữu học (sekha) · A-la-hán
- Dịch giả: HT. Thích Minh Châu
Nguồn tham khảo
- Pāḷi (Mahāsaṅgīti): MN 117 — SuttaCentral
- Việt — HT. Thích Minh Châu dịch (Bình Anson hiệu đính): mn117/vi/minh_chau — SuttaCentral
- English — Bhikkhu Sujato, The Great Forty: mn117/en/sujato — SuttaCentral
- Danh mục kinh tương đương: MN 117 — SuttaCentral (API parallels, tra ngày 19/10/2026)
- Hán tạng tương đương — Trung A-hàm 189, 聖道經: ma189/lzh/taisho — SuttaCentral · bản Việt HT. Tuệ Sỹ: ma189/vi/tue_sy — SuttaCentral · bài trên site: MA189 - Kinh Thánh Đạo
- Chú giải Pāḷi: Papañcasūdanī, Mahācattārīsakasuttavaṇṇanā (bản VRI Chaṭṭha Saṅgāyana, đoạn 136–143) — các chỗ ghi “Pāḷi Chú giải” trong bài là dịch từ bản này vì bản Việt bỏ trống.
- Chú giải Trung Bộ Kinh, bản Thái-Việt (sudhamma.net), mục Kinh số 117 — Giải thích Đại kinh Bốn mươi: Chú giải Trung Bộ Kinh (sudhamma.net) — bản web không có số trang; bài dẫn theo số đoạn 136–143.
- Chú Giải Trung Bộ Kinh, bản Việt (vietheravada.net): chugiaitrungbokinh.pdf (vietheravada.net) — bản này chỉ gồm MN1–50, không có phần MN117; bài không trích từ bản này.
- Anālayo, A Comparative Study of the Majjhima-nikāya, vol. 2, tr. 657–664 (Dharma Drum, 2011) — thứ cấp.
📖 Nguồn / bản quyền: SuttaCentral — MN 117 (Mahācattārīsaka Sutta), Pāḷi Mahāsaṅgīti + bản Việt HT. Thích Minh Châu