MN143 - Kinh Giáo Giới Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍikovāda Sutta)

Tôn giả Sāriputta và Ānanda ngồi bên giường bệnh của ông Cấp Cô Độc — Kinh Giáo Giới Cấp Cô Độc, MN143

Tóm tắt nhanh: Tại Sāvatthī, ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) — vị cư sĩ đã dâng tinh xá Kỳ-đà-lâm — lâm trọng bệnh, sai người đến đảnh lễ Đức Phật và thỉnh Tôn giả Sāriputta đến nhà. Sāriputta cùng Tôn giả Ānanda đến; nghe ông tả cơn đau bằng bốn ví dụ, Sāriputta không nói lời an ủi mà dạy ông tập “không chấp thủ” và “không để thức nương vào” mười nhóm đối tượng: sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu giới, năm uẩn, bốn xứ vô sắc, đời này và đời sau, và mọi điều đã thấy, nghe, cảm, biết. Ông bật khóc, nói hầu Đạo sư đã lâu mà chưa từng được nghe pháp thoại như vậy, và xin cho hàng cư sĩ áo trắng cũng được nghe. Hai Tôn giả về chưa lâu thì ông mệnh chung, sinh lên cõi Đâu-suất; đêm ấy vị thiên tử mới đến Kỳ-đà-lâm đọc bốn bài kệ tán thán Kỳ-đà-lâm, con đường thanh tịnh và Tôn giả Sāriputta. Sáng ra Thế Tôn kể lại, Ānanda đoán đúng vị thiên tử ấy là Cấp Cô Độc.

🔗 Song tạng: SuttaCentral xếp bản Hán MA28 - Kinh Giáo Hóa Bịnh (教化病經), Trung A-hàm 28 vào hàng tương đương, nhưng hai kinh chỉ trùng phần khung mở đầu (ông Cấp Cô Độc bệnh nặng, sai người thỉnh Sāriputta). Ở MA28, Sāriputta giảng mười pháp của bậc Dự lưu, ông khỏi bệnh rồi kể chuyện gặp Phật và mua vườn Thắng Lâm; ở MN143 ông mệnh chung sau bài giảng — xem Đối chiếu.

Bối cảnh

Kinh xảy ra ở Sāvatthī, khi Thế Tôn đang ở rừng Jetavana, trong chính tinh xá (ārāma) mà nhân vật chính của kinh đã dâng cúng. Tên ông là Anāthapiṇḍika — “người cho cơm (piṇḍa) kẻ không nơi nương tựa (anātha)”; Hán dịch là 給孤獨, Việt đọc Cấp Cô Độc. Trong kinh ông được gọi là gahapati — bản Việt dịch “cư sĩ” (cũng hay dịch “gia chủ”): người chủ gia đình giàu có, không xuất gia. Sāriputta gọi ông “này Cư sĩ”; ông gọi hai vị là bhante (“thưa Tôn giả”).

Kinh là bài thứ nhất của phẩm Sáu Xứ (Saḷāyatana-vagga) trong Trung Bộ — dòng cuối kinh ghi “Anāthapiṇḍikovādasuttaṁ niṭṭhitaṁ paṭhamaṁ”.

Mở đầu - MN143 1

Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.

Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana , (Kỳ-đà Lâm), tại tinh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).

Pāḷi: mn143:1.1–1.2 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn143/vi/minh_chau)

Theo Chú giải (Papañcasūdanī, Ps V 77–78), chữ “bị trọng bệnh” (bāḷhagilāno) nghĩa là bệnh nặng đến mức “phải nằm chờ chết” (maraṇaseyyaṁ upagato). Chú giải kể thêm: hồi đôi chân còn đi được, mỗi ngày ông đến hầu Đức Phật một, hai hoặc ba lần, không gián đoạn, và hầu các vị đại trưởng lão cũng như vậy; nay chân không đi được nữa, nằm liệt không dậy nổi, ông mới phải gửi lời nhắn qua người khác.

Ông Cấp Cô Độc lâm bệnh, sai người thỉnh Sāriputta

Kinh tả bệnh của ông bằng ba chữ: bệnh (ābādhiko), khổ đau (dukkhito), trọng bệnh (bāḷhagilāno). Ông gọi một người (purisa) đến và dặn lời nhắn cho hai nơi: đến Thế Tôn thì nhân danh ông cúi đầu đảnh lễ và báo tin ông bệnh; đến Tôn giả Sāriputta thì cũng đảnh lễ, báo tin, và thỉnh Tôn giả đến nhà “vì lòng từ mẫn” (anukampaṁ upādāya). Lời thỉnh đến thăm chỉ gửi Sāriputta, không gửi Thế Tôn.

Lời dặn người đưa tin - MN143 2.1–2.10

Tena kho pana samayena anāthapiṇḍiko gahapati ābādhiko hoti dukkhito bāḷhagilāno. Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati aññataraṁ purisaṁ āmantesi: “ehi tvaṁ, ambho purisa, yena bhagavā tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā mama vacanena bhagavato pāde sirasā vandāhi: ‘anāthapiṇḍiko, bhante, gahapati ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno. So bhagavato pāde sirasā vandatī’ti. Yena cāyasmā sāriputto tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā mama vacanena āyasmato sāriputtassa pāde sirasā vandāhi: ‘anāthapiṇḍiko, bhante, gahapati ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno. So āyasmato sāriputtassa pāde sirasā vandatī’ti. Evañca vadehi: ‘sādhu kira, bhante, āyasmā sāriputto yena anāthapiṇḍikassa gahapatissa nivesanaṁ tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā’”ti.

Lúc bấy giờ, cư sĩ Cấp Cô Ðộc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Rồi cư sĩ Cấp Cô Ðộc gọi một người

—Hãy đến đây, này Bạn. Hãy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nhân danh ta, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch như sau: “Bạch Thế Tôn, cư sĩ Cấp Cô Ðộc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Cấp Cô Ðộc xin cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn”. Rồi đi đến Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất), sau khi đến, nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ Tôn giả Sāriputta và thưa như sau: “Thưa Tôn giả, cư sĩ Cấp Cô Ðộc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Cấp Cô Ðộc xin cúi đầu đảnh lễ Tôn giả Sāriputta và thưa như sau: “Thưa Tôn giả, lành thay, nếu Tôn giả Sāriputta vì lòng từ mẫn, đi đến trú xứ của cư sĩ Cấp Cô Ðộc”.”

Pāḷi: mn143:2.1–2.10 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn143/vi/minh_chau)

Người ấy vâng lời, làm đúng từng bước: đến Thế Tôn, đảnh lễ, ngồi một bên, nói lại lời báo bệnh; rồi đến Tôn giả Sāriputta, nói lại lời báo bệnh và lời thỉnh. Bản Pāḷi không ghi Thế Tôn đáp gì. Sāriputta nhận lời bằng cách im lặng (adhivāsesi tuṇhībhāvena).

Người đưa tin nói lại, Sāriputta nhận lời - MN143 2.11–2.19

“Evaṁ, bhante”ti kho so puriso anāthapiṇḍikassa gahapatissa paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho so puriso bhagavantaṁ etadavoca: “anāthapiṇḍiko, bhante, gahapati ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno. So bhagavato pāde sirasā vandatī”ti. Yena cāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho so puriso āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca: “anāthapiṇḍiko, bhante, gahapati ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno. So āyasmato sāriputtassa pāde sirasā vandati; evañca vadeti: ‘sādhu kira, bhante, āyasmā sāriputto yena anāthapiṇḍikassa gahapatissa nivesanaṁ tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā’”ti. Adhivāsesi kho āyasmā sāriputto tuṇhībhāvena.

—Thưa vâng, Tôn giả.

Người ấy vâng đáp cư sĩ Cấp Cô Ðộc, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ chân Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, người ấy bạch Thế Tôn

—Bạch Thế Tôn, cư sĩ Cấp Cô Ðộc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Xin cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn.

Rồi người ấy đi đến Tôn giả Sāriputta , sau khi đến đảnh lễ Tôn giả Sāriputta rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, người ấy thưa với Tôn giả Sāriputta

—Thưa Tôn giả, cư sĩ Cấp Cô Ðộc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh, xin cúi đầu đảnh lễ Tôn giả Sāriputta và thưa như sau: “Thưa Tôn giả, tốt lành thay, nếu Tôn giả Sāriputta vì lòng từ mẫn đi đến trú xứ của cư sĩ Cấp Cô Ðộc”.

Tôn giả Sāriputta im lặng nhận lời.

Pāḷi: mn143:2.11–2.19 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn143/vi/minh_chau)

Sāriputta và Ānanda đến thăm bệnh

Sāriputta đắp y, cầm bát, đi cùng Tôn giả Ānanda làm “vị sa-môn đi sau” (pacchāsamaṇa — bản Việt: “thị giả”). Đến nơi, Tôn giả ngồi lên chỗ đã soạn sẵn và hỏi thăm theo ba ý: ông có kham nhẫn được không (khamanīya), có chịu đựng nổi không (yāpanīya), khổ thọ có giảm dần chứ không tăng, có thấy rõ sự giảm chứ không thấy sự tăng.

Đến nhà và hỏi thăm - MN143 3

Atha kho āyasmā sāriputto nivāsetvā pattacīvaramādāya āyasmatā ānandena pacchāsamaṇena yena anāthapiṇḍikassa gahapatissa nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho āyasmā sāriputto anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ etadavoca: “kacci te, gahapati, khamanīyaṁ, kacci yāpanīyaṁ? Kacci te dukkhā vedanā paṭikkamanti, no abhikkamanti; paṭikkamosānaṁ paññāyati, no abhikkamo”ti?

Rồi Tôn giả Sāriputta đắp y, cầm y bát, cùng với Tôn giả Ānanda là thị giả, đi đến trú xứ của cư sĩ Cấp Cô Ðộc, sau khi đến liền ngồi lên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Tôn giả Sāriputta nói với cư sĩ Cấp Cô Ðộc.

—Này Cư sĩ, ta mong rằng Ông có thể kham nhẫn; Ta mong rằng Ông có thể chịu đựng. Ta mong rằng khổ thọ được giảm thiểu, không gia tăng, sự giảm thiểu được rõ rệt, không có gia tăng.

Pāḷi: mn143:3.1–3.2 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn143/vi/minh_chau)
Minh hoạ: ông Cấp Cô Độc tóc bạc nằm trên giường bệnh; Tôn giả Sāriputta ngồi bên cạnh giơ tay giảng, Tôn giả Ānanda ngồi phía sau lắng nghe, bình bát đặt dưới đất

Bốn ví dụ về cơn đau

Ông đáp lại đúng từng chữ của câu hỏi nhưng theo chiều ngược: không kham nhẫn, không chịu đựng nổi, khổ thọ tăng chứ không giảm. Câu đáp ấy được lặp năm lần, xen giữa là bốn ví dụ tả bốn kiểu đau:

  1. Gió dữ xuyên đỉnh đầu (adhimattā vātā muddhani ūhananti) — như một lực sĩ dùng mũi nhọn sắc (tiṇhena sikharena) đâm vào đầu.
  2. Đau đầu dữ dội (sīsavedanā) — như lực sĩ lấy sợi dây da chắc quấn quanh đầu rồi siết.
  3. Gió dữ cắt ngang bụng — như người đồ tể khéo tay, hay đệ tử của y, dùng con dao mổ bò sắc bén rạch bụng.
  4. Sức nóng dữ dội khắp thân (kāyasmiṁ ḍāho) — như hai lực sĩ nắm hai cánh tay một người yếu hơn, nướng, đốt người ấy trên hố than hừng.
Cấp Cô Độc tả cơn đau - MN143 4

“Na me, bhante sāriputta, khamanīyaṁ na yāpanīyaṁ. Bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti; abhikkamosānaṁ paññāyati, no paṭikkamo. Seyyathāpi, bhante sāriputta, balavā puriso tiṇhena sikharena muddhani abhimattheyya; evameva kho me, bhante sāriputta, adhimattā vātā muddhani ūhananti. Na me, bhante sāriputta, khamanīyaṁ na yāpanīyaṁ. Bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti; abhikkamosānaṁ paññāyati, no paṭikkamo. Seyyathāpi, bhante sāriputta, balavā puriso daḷhena varattakhaṇḍena sīse sīsaveṭhaṁ dadeyya; evameva kho me, bhante sāriputta, adhimattā sīse sīsavedanā. Na me, bhante sāriputta, khamanīyaṁ na yāpanīyaṁ. Bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti; abhikkamosānaṁ paññāyati, no paṭikkamo. Seyyathāpi, bhante sāriputta, dakkho goghātako vā goghātakantevāsī vā tiṇhena govikantanena kucchiṁ parikanteyya; evameva kho me, bhante sāriputta, adhimattā vātā kucchiṁ parikantanti. Na me, bhante sāriputta, khamanīyaṁ na yāpanīyaṁ. Bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti; abhikkamosānaṁ paññāyati, no paṭikkamo. Seyyathāpi, bhante sāriputta, dve balavanto purisā dubbalataraṁ purisaṁ nānābāhāsu gahetvā aṅgārakāsuyā santāpeyyuṁ, samparitāpeyyuṁ; evameva kho me, bhante sāriputta, adhimatto kāyasmiṁ ḍāho. Na me, bhante sāriputta, khamanīyaṁ na yāpanīyaṁ. Bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti; abhikkamosānaṁ paññāyati, no paṭikkamo”ti.

—Thưa Tôn giả Sāriputta , con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Sự khổ thống của con gia tăng, không có giảm thiểu; sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Tôn giả Sāriputta , ví như một người lực sĩ chém đầu (một người khác) với một thanh kiếm sắc bén; cũng vậy, thưa Tôn giả Sāriputta , những ngọn gió kinh khủng thổi lên đau nhói trong đầu con. Thưa Tôn giả Sāriputta , con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Những khổ thống của con gia tăng, không có giảm thiểu; sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Tôn giả Sāriputta , như một người lực sĩ lấy một dây nịt bằng da cứng quấn tròn quanh đầu rồi xiết chặt; cũng vậy, thưa Tôn giả Sāriputta , con cảm thấy bị đau đầu một cách kinh khủng. Thưa Tôn giả Sāriputta , con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Những khổ thống của con gia tăng, không có giảm thiểu; sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Tôn giả Sāriputta , như một người đồ tể thiện xảo hay đệ tử người đồ tể cắt ngang bụng với một con dao cắt thịt bò sắc bén; cũng vậy, thưa Tôn giả Sāriputta , một ngọn gió kinh khủng cắt ngang bụng của con. Thưa Tôn giả Sāriputta , con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Những khổ thống của con gia tăng, không có giảm thiểu; sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Tôn giả Sāriputta , ví như hai người lực sĩ, sau khi nắm cánh tay của một người yếu hơn, nướng người ấy, đốt người ấy trên một hố than hừng; cũng vậy, thưa Tôn giả Sāriputta , một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân con. Thưa Tôn giả Sāriputta , con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Những thống khổ của con gia tăng, không có giảm thiểu; sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu.

Pāḷi: mn143:4.1–4.9 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn143/vi/minh_chau)

Ở ví dụ thứ nhất, bản Việt dịch “chém đầu (một người khác) với một thanh kiếm sắc bén”; Pāḷi là tiṇhena sikharena muddhani abhimattheyya, Bhikkhu Sujato dịch “khoan vào đầu bằng một mũi nhọn sắc” (drilling into my head with a sharp point) — hình ảnh đâm, khoan hơn là chém. Theo Chú giải (Ps V 78), đây là cơn đau cận tử (māraṇantikā vedanā): bản Việt Chú giải (sudhamma.net) ví nó “giống như ngọn lửa đang cháy bùng trong gió ngược” — chừng nào hơi nóng chưa tắt hết thì nỗ lực lớn đến đâu cũng không làm dịu được, hơi nóng tắt rồi nó mới lắng.

Khuôn chung của mười nhóm không chấp thủ

Nghe xong, Sāriputta không nói chuyện gì khác. Theo Chú giải (Ps V 78), Tôn giả nghĩ: cảm thọ của vị đại trưởng giả này là cảm thọ cận tử, không thể ngăn được, nói chuyện khác là vô ích, “ta sẽ nói pháp thoại cho ông” — rồi bắt đầu bằng chữ “Do vậy” (tasmātiha). Cả bài giảng (§5–14) đi theo một khuôn bốn bước, trích nguyên văn một lần dưới đây (lấy con mắt làm mẫu):

  1. Mở: “Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau:”
  2. Không chấp thủ đối tượng: “Tôi sẽ không chấp thủ X” (na X upādiyissāmi).
  3. Thức không nương vào đối tượng: “và tôi sẽ không có thức y cứ vào X” (na ca me Xnissitaṁ viññāṇaṁ bhavissati).
  4. Kết: “Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy” (evañhi te, gahapati, sikkhitabbaṁ).
Khuôn mẫu: con mắt - MN143 5.1–5.3

“Tasmātiha te, gahapati, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘na cakkhuṁ upādiyissāmi, na ca me cakkhunissitaṁ viññāṇaṁ bhavissatī’ti. Evañhi te, gahapati, sikkhitabbaṁ.

—Do vậy, này Cư sĩ hãy học tập như sau: ” Tôi sẽ không chấp thủ con mắt, và tôi sẽ không có thức y cứ vào con mắt”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.

Pāḷi: mn143:5.1–5.3 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn143/vi/minh_chau)
Sơ đồ mười nhóm không chấp thủ trong MN143: sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu giới, năm uẩn, bốn xứ vô sắc, đời này và đời sau, mọi điều đã thấy nghe cảm biết — cộng 48 đối tượng

Theo Chú giải (Ps V 78), “Do vậy” nghĩa là: vì người nắm giữ con mắt bằng ba cách nắm giữ (tīhi gāhehi; bản Việt sudhamma.net chú là tham ái, ngã mạn và tà kiến) thì không thể ngăn được cảm thọ cận tử đã khởi lên — cho nên hãy tập không nắm giữ. Các nhóm dưới đây chỉ khác nhau ở chữ X. Bản Việt rút gọn phần giữa bằng ”…” ngay từ chữ “mũi”; Pāḷi chép đủ sáu căn, từ nhóm sáu trần trở đi mới rút gọn (…pe…, ”…”).

1. Sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý

Sau mắt là tai, mũi, lưỡi, thân, ý — sáu giác quan bên trong (Chú giải gọi là sáu nội xứ, cha ajjhattikāni āyatanāni). Bản Việt nói đủ câu cho tai, rút gọn mũi, lưỡi, thân, ý.

Tai, mũi, lưỡi, thân, ý - MN143 5.4–5.18

Tasmātiha te, gahapati, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘na sotaṁ upādiyissāmi, na ca me sotanissitaṁ viññāṇaṁ bhavissatī’ti. Evañhi te, gahapati, sikkhitabbaṁ. Tasmātiha te, gahapati, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘na ghānaṁ upādiyissāmi, na ca me ghānanissitaṁ viññāṇaṁ bhavissatī’ti. Evañhi te, gahapati, sikkhitabbaṁ. Tasmātiha te, gahapati, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘na jivhaṁ upādiyissāmi, na ca me jivhānissitaṁ viññāṇaṁ bhavissatī’ti. Evañhi te, gahapati, sikkhitabbaṁ. Tasmātiha te, gahapati, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘na kāyaṁ upādiyissāmi, na ca me kāyanissitaṁ viññāṇaṁ bhavissatī’ti. Evañhi te, gahapati, sikkhitabbaṁ. Tasmātiha te, gahapati, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘na manaṁ upādiyissāmi, na ca me manonissitaṁ viññāṇaṁ bhavissatī’ti. Evañhi te, gahapati, sikkhitabbaṁ.

Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: “Tôi sẽ không chấp thủ tai, và tôi sẽ không có thức y cứ vào tai”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy … không chấp thủ mũi … y cứ vào mũi … hãy học tập như vậy. Do vậy … không chấp thủ lưỡi … y cứ vào lưỡi … hãy học tập như vậy. Do vậy … không chấp thủ thân … y cứ vào thân … hãy học tập như vậy. Do vậy … không chấp thủ ý … y cứ vào ý … hãy học tập như vậy.

Pāḷi: mn143:5.4–5.18 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn143/vi/minh_chau)

2. Sáu trần: sắc, tiếng, hương, vị, xúc, pháp

Sáu đối tượng bên ngoài: sắc (rūpa — bản Việt dịch “hình dạng”), tiếng, hương, vị, xúc chạm, và pháp (dhamma, đối tượng của ý).

Sáu trần - MN143 6

Tasmātiha te, gahapati, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘na rūpaṁ upādiyissāmi, na ca me rūpanissitaṁ viññāṇaṁ bhavissatī’ti. Evañhi te, gahapati, sikkhitabbaṁ. Tasmātiha te, gahapati, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘na saddaṁ upādiyissāmi …pe… na gandhaṁ upādiyissāmi … na rasaṁ upādiyissāmi … na phoṭṭhabbaṁ upādiyissāmi … na dhammaṁ upādiyissāmi, na ca me dhammanissitaṁ viññāṇaṁ bhavissatī’ti. Evañhi te, gahapati, sikkhitabbaṁ.

Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: “Tôi sẽ không chấp thủ hình dạng, và tôi sẽ không có thức y cứ vào hình dạng”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy … không chấp thủ tiếng … y cứ vào tiếng … hãy học tập như vậy. Do vậy … không chấp thủ hương … y cứ vào hương … hãy học tập như vậy. Do vậy … không chấp thủ vị … y cứ vào vị … hãy học tập như vậy. Do vậy … không chấp thủ xúc … y cứ vào xúc … hãy học tập như vậy. Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: “Tôi sẽ không chấp thủ pháp, và tôi sẽ không có thức y cứ vào pháp”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.

Pāḷi: mn143:6.1–6.10 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn143/vi/minh_chau)

3. Sáu thức: nhãn thức đến ý thức

Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Ở nhóm này câu khuôn áp vào chính cái biết: “không có thức y cứ vào nhãn thức”.

Sáu thức - MN143 7

Tasmātiha te, gahapati, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘na cakkhuviññāṇaṁ upādiyissāmi, na ca me cakkhuviññāṇanissitaṁ viññāṇaṁ bhavissatī’ti. Evañhi te, gahapati, sikkhitabbaṁ. Tasmātiha te, gahapati, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘na sotaviññāṇaṁ upādiyissāmi … na ghānaviññāṇaṁ upādiyissāmi … na jivhāviññāṇaṁ upādiyissāmi … na kāyaviññāṇaṁ upādiyissāmi … na manoviññāṇaṁ upādiyissāmi, na ca me manoviññāṇanissitaṁ viññāṇaṁ bhavissatī’ti. Evañhi te, gahapati, sikkhitabbaṁ.

Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: “Tôi sẽ không chấp thủ nhãn thức, và tôi sẽ không có thức y cứ vào nhãn thức”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy … “Tôi sẽ không chấp thủ nhĩ thức … Tôi sẽ không chấp thủ tỷ thức … Tôi sẽ không chấp thủ thiệt thức … Tôi sẽ không chấp thủ thân thức … Tôi sẽ không chấp thủ ý thức, và tôi sẽ không có thức y cứ vào ý thức”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.

Pāḷi: mn143:7.1–7.10 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn143/vi/minh_chau)

4. Sáu xúc: nhãn xúc đến ý xúc

Nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc (samphassa) — sự gặp nhau của căn, trần và thức.

Sáu xúc - MN143 8

Tasmātiha te, gahapati, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘na cakkhusamphassaṁ upādiyissāmi, na ca me cakkhusamphassanissitaṁ viññāṇaṁ bhavissatī’ti. Evañhi te, gahapati, sikkhitabbaṁ. Tasmātiha te, gahapati, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘na sotasamphassaṁ upādiyissāmi … na ghānasamphassaṁ upādiyissāmi … na jivhāsamphassaṁ upādiyissāmi … na kāyasamphassaṁ upādiyissāmi … na manosamphassaṁ upādiyissāmi, na ca me manosamphassanissitaṁ viññāṇaṁ bhavissatī’ti. Evañhi te, gahapati, sikkhitabbaṁ.

Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: “Tôi sẽ không chấp thủ nhãn xúc, và tôi sẽ không có thức y cứ vào nhãn xúc”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy … “Tôi sẽ không chấp thủ nhĩ xúc … Tôi sẽ không chấp thủ tỷ xúc … Tôi sẽ không chấp thủ thiệt xúc … Tôi sẽ không chấp thủ thân xúc. Tôi sẽ không chấp thủ ý xúc, và tôi sẽ không có thức y cứ vào ý xúc”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.

Pāḷi: mn143:8.1–8.10 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn143/vi/minh_chau)

5. Sáu thọ: thọ do nhãn xúc đến ý xúc sanh

Cảm thọ sinh từ mỗi loại xúc (samphassajā vedanā). Có thể hiểu đây là nhóm chạm thẳng vào hoàn cảnh của người nghe: cơn đau ông vừa tả là một cảm thọ do thân xúc sanh.

Sáu thọ - MN143 9

Tasmātiha te, gahapati, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘na cakkhusamphassajaṁ vedanaṁ upādiyissāmi, na ca me cakkhusamphassajāvedanānissitaṁ viññāṇaṁ bhavissatī’ti. Evañhi te, gahapati, sikkhitabbaṁ. Tasmātiha te, gahapati, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘na sotasamphassajaṁ vedanaṁ upādiyissāmi … na ghānasamphassajaṁ vedanaṁ upādiyissāmi … na jivhāsamphassajaṁ vedanaṁ upādiyissāmi … na kāyasamphassajaṁ vedanaṁ upādiyissāmi … na manosamphassajaṁ vedanaṁ upādiyissāmi, na ca me manosamphassajāvedanānissitaṁ viññāṇaṁ bhavissatī’ti. Evañhi te, gahapati, sikkhitabbaṁ.

Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: “Tôi sẽ không chấp thủ thọ do nhãn xúc sanh khởi, và tôi sẽ không có thức y cứ vào thọ do nhãn xúc sanh khởi”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy … “Tôi sẽ không chấp thủ thọ do nhĩ xúc sanh khởi … Tôi sẽ không chấp thủ thọ do tỷ xúc sanh khởi … Tôi sẽ không chấp thủ thọ do thiệt xúc sanh khởi … Tôi sẽ không chấp thủ thọ do thân xúc sanh khởi … Tôi sẽ không chấp thủ thọ do ý xúc sanh khởi và tôi sẽ không có thức y cứ vào thọ do ý xúc sanh khởi”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.

Pāḷi: mn143:9.1–9.10 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn143/vi/minh_chau)

6. Sáu giới: địa, thủy, hỏa, phong, hư không, thức

Đất, nước, lửa, gió, hư không và thức (dhātu) — bốn đại cộng thêm hư không giới và thức giới.

Sáu giới - MN143 10

Tasmātiha te, gahapati, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘na pathavīdhātuṁ upādiyissāmi, na ca me pathavīdhātunissitaṁ viññāṇaṁ bhavissatī’ti. Evañhi te, gahapati, sikkhitabbaṁ. Tasmātiha te, gahapati, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘na āpodhātuṁ upādiyissāmi … na tejodhātuṁ upādiyissāmi … na vāyodhātuṁ upādiyissāmi … na ākāsadhātuṁ upādiyissāmi … na viññāṇadhātuṁ upādiyissāmi, na ca me viññāṇadhātunissitaṁ viññāṇaṁ bhavissatī’ti. Evañhi te, gahapati, sikkhitabbaṁ.

Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: “Tôi sẽ không chấp thủ địa giới, và tôi sẽ không có thức y cứ vào địa giới”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy … “Tôi sẽ không chấp thủ thủy giới … Tôi sẽ không chấp thủ hỏa giới … Tôi sẽ không chấp thủ phong giới … Tôi sẽ không chấp thủ hư không giới … Tôi sẽ không chấp thủ thức giới, và tôi sẽ không có thức y cứ vào thức giới”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.

Pāḷi: mn143:10.1–10.10 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn143/vi/minh_chau)

7. Năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Theo Chú giải (Ps V 78), chữ “sắc” ở đây khác chữ “sắc” ở nhóm 2: trước kia là sắc xứ (đối tượng của mắt), còn ở đây là toàn bộ sắc thuộc cõi Dục (sabbampi kāmabhavarūpaṁ). (Lưu ý: ở câu cuối nhóm này, bản Việt ghi “không có thức y cứ vào thức giới”; Pāḷi là viññāṇanissitaṁ, “nương vào thức” — tức thức uẩn, không phải thức giới của nhóm 6.)

Năm uẩn - MN143 11

Tasmātiha te, gahapati, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘na rūpaṁ upādiyissāmi, na ca me rūpanissitaṁ viññāṇaṁ bhavissatī’ti. Evañhi te, gahapati, sikkhitabbaṁ. Tasmātiha te, gahapati, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘na vedanaṁ upādiyissāmi … na saññaṁ upādiyissāmi … na saṅkhāre upādiyissāmi … na viññāṇaṁ upādiyissāmi, na ca me viññāṇanissitaṁ viññāṇaṁ bhavissatī’ti. Evañhi te, gahapati, sikkhitabbaṁ.

Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: “Tôi sẽ không chấp thủ sắc, và tôi sẽ không có thức y cứ vào sắc”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy … “Tôi sẽ không chấp thủ thọ … Tôi sẽ không chấp thủ tưởng … Tôi sẽ không chấp thủ hành … Tôi sẽ không chấp thủ thức và tôi sẽ không có thức y cứ vào thức giới”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.

Pāḷi: mn143:11.1–11.9 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn143/vi/minh_chau)

8. Bốn xứ vô sắc: Không vô biên đến Phi tưởng phi phi tưởng

Hư không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ — bốn tầng thiền định vô sắc. Học giả Anālayo nhận xét đây là nhóm “phần nào khó hiểu” (to some extent puzzling): các kinh khác không cho thấy ông Cấp Cô Độc là người đắc các tầng định cao như vậy, và việc ông tái sinh vào một cõi trời thuộc Dục giới cho thấy ông có lẽ chưa đắc cả thiền sắc giới (Anālayo, A Comparative Study of the Majjhima-nikāya, vol. 2, tr. 823, chú 16 — thứ cấp).

Bốn xứ vô sắc - MN143 12

Tasmātiha te, gahapati, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘na ākāsānañcāyatanaṁ upādiyissāmi, na ca me ākāsānañcāyatananissitaṁ viññāṇaṁ bhavissatī’ti. Evañhi te, gahapati, sikkhitabbaṁ. Tasmātiha te, gahapati, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘na viññāṇañcāyatanaṁ upādiyissāmi … na ākiñcaññāyatanaṁ upādiyissāmi … na nevasaññānāsaññāyatanaṁ upādiyissāmi, na ca me nevasaññānāsaññāyatananissitaṁ viññāṇaṁ bhavissatī’ti. Evañhi te, gahapati, sikkhitabbaṁ.

Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: “Tôi sẽ không chấp thủ Hư không vô biên xứ, và tôi sẽ không có thức y cứ vào Hư không vô biên xứ”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy … “Tôi sẽ không chấp thủ Thức vô biên xứ … Tôi sẽ không chấp thủ Vô sở hữu xứ … Tôi sẽ không chấp thủ Phi tưởng phi phi tưởng xứ, và tôi sẽ không có thức y cứ vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.

Pāḷi: mn143:12.1–12.8 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn143/vi/minh_chau)

9. Đời này và đời sau

Hai câu riêng (§13 và §14.1–3): không chấp thủ “thế giới ở đây” (idhaloka) và “thế giới khác” (paraloka). Chú giải (Ps V 78–79) giải thích cụ thể: “đời này” là chỗ ở, thức ăn, y phục — lời dạy để tâm khỏi bồn chồn về các nhu cầu sống; “đời sau” là mọi cõi ngoài cõi người — lời dạy để bỏ loại khao khát như “sinh vào cõi trời kia, ở chỗ kia, ăn thứ này, mặc thứ này”.

Đời này và đời sau - MN143 13–14.3

Tasmātiha te, gahapati, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘na idhalokaṁ upādiyissāmi, na ca me idhalokanissitaṁ viññāṇaṁ bhavissatī’ti. Evañhi te, gahapati, sikkhitabbaṁ. Tasmātiha te, gahapati, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘na paralokaṁ upādiyissāmi, na ca me paralokanissitaṁ viññāṇaṁ bhavissatī’ti. Evañhi te, gahapati, sikkhitabbaṁ.

Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: “Tôi sẽ không chấp thủ thế giới ở đây và tôi sẽ không có thức y cứ vào thế giới ở đây”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy … “Tôi sẽ không chấp thủ thế giới khác, và tôi sẽ không có thức y cứ vào thế giới khác”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.

Pāḷi: mn143:13.1–14.3 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn143/vi/minh_chau)

10. Mọi điều đã thấy, nghe, cảm, biết

Câu cuối gom tất cả: những gì đã thấy (diṭṭha), nghe (suta), cảm nhận (muta), nhận thức (viññāta), đạt được (patta), tìm cầu (pariyesita), tìm cầu thêm (anupariyesita), được ý dõi theo (anucaritaṁ manasā) — Pāḷi kê tám chữ. (Bản Việt chỉ có sáu: “được thấy, được nghe, được cảm thọ, được nhận thức, được hy cầu, được tư sát với ý” — không có chữ tương ứng với patta “đạt được”, và gộp hai chữ “tìm cầu” làm một.) Theo Chú giải (Ps V 79), câu này giải thoát người nghe khỏi ba cách nắm giữ, và Tôn giả kết bài giảng ở đỉnh cao là quả A-la-hán (desanaṁ arahattanikūṭena niṭṭhapesi).

Thấy, nghe, cảm, biết - MN143 14.4–14.6

Tasmātiha te, gahapati, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘yampi me diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anupariyesitaṁ anucaritaṁ manasā tampi na upādiyissāmi, na ca me tannissitaṁ viññāṇaṁ bhavissatī’ti. Evañhi te, gahapati, sikkhitabban”ti.

Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: “Tôi sẽ không chấp thủ những gì được thấy, được nghe, được cảm thọ, được nhận thức, được hy cầu, được tư sát với ý, và tôi sẽ không có thức y cứ vào các pháp (nói trên)”. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.

Pāḷi: mn143:14.4–14.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn143/vi/minh_chau)

Bảng tổng hợp mười nhóm

Kinh không tự đánh số các nhóm; cách chia mười nhóm dưới đây theo bảng so sánh 15.1 của Anālayo (vol. 2, tr. 822), cột “số mục” là cách đếm của bài này.

#NhómCác mục (thứ tự kinh)Số mục§
1Sáu cănmắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý65
2Sáu trầnsắc, tiếng, hương, vị, xúc, pháp66
3Sáu thứcnhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức67
4Sáu xúcnhãn xúc … ý xúc68
5Sáu thọthọ do nhãn xúc … ý xúc sanh69
6Sáu giớiđịa, thủy, hỏa, phong, hư không, thức610
7Năm uẩnsắc, thọ, tưởng, hành, thức511
8Bốn xứ vô sắcKhông vô biên, Thức vô biên, Vô sở hữu, Phi tưởng phi phi tưởng412
9Hai thế giớiđời này, đời sau213–14.3
10Mọi điều đã trảithấy, nghe, cảm, biết, đạt, tìm cầu, tìm cầu thêm, ý dõi theo (gom chung một câu)114.4–6
48

Cấp Cô Độc rơi lệ

Nghe xong, ông khóc, nước mắt chảy ra. Tôn giả Ānanda hỏi: olīyasi kho tvaṁ, gahapati, saṁsīdasi kho tvaṁ — ông đang chùn xuống, ông đang chìm xuống chăng? Ông đáp không: ông khóc vì đã hầu Đạo sư và các Tỳ-kheo đáng kính từ lâu mà chưa từng được nghe một pháp thoại như vậy.

Cấp Cô Độc khóc, Ānanda hỏi - MN143 15.1–15.6

Evaṁ vutte, anāthapiṇḍiko gahapati parodi, assūni pavattesi. Atha kho āyasmā ānando anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ etadavoca: “olīyasi kho tvaṁ, gahapati, saṁsīdasi kho tvaṁ, gahapatī”ti? “Nāhaṁ, bhante ānanda, olīyāmi, napi saṁsīdāmi; api ca me dīgharattaṁ satthā payirupāsito manobhāvanīyā ca bhikkhū; na ca me evarūpī dhammī kathā sutapubbā”ti.

Khi nghe nói vậy, cư sĩ Cấp Cô Ðộc khóc và chảy nước mắt. Rồi Tôn giả Ānanda nói với cư sĩ Cấp Cô Ðộc

—Này Cư sĩ, Ông đang gượng lên mà sống, hay chìm xuống (cõi chết)?

—Thưa Tôn giả Ānanda , con không gượng lên mà sống, con đang chìm xuống cõi chết. Dầu cho bậc Ðạo sư được con hầu hạ đã lâu và dầu con đã từng gần gũi các vị Tỷ-kheo tu tập ý lực, con chưa từng được nghe một thời thuyết pháp như vậy.

Pāḷi: mn143:15.1–15.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn143/vi/minh_chau)

Lưu ý bản dịch. Bản Việt ghi câu đáp là “con không gượng lên mà sống, con đang chìm xuống cõi chết”. Pāḷi là nāhaṁ, bhante ānanda, olīyāmi, napi saṁsīdāmi — “con không chùn xuống, cũng không chìm xuống” — rồi mới đến chữ api ca (“nhưng”) giải thích lý do khóc. Bhikkhu Sujato dịch: “No, Honorable Ānanda. But for a long time…”. Như vậy theo Pāḷi, Cấp Cô Độc phủ nhận mình đang suy sụp; giọt nước mắt là vì xúc động trước pháp thoại, không phải vì sợ chết. Chú giải (Ps V 79) hiểu câu hỏi của Ānanda theo hướng khác nữa: olīyasi là “ông thấy sự thành tựu của mình rồi bám dính vào các đối tượng chăng?” — Ānanda nghĩ “đến người có niềm tin trong sạch như vị gia chủ này mà còn sợ chết, thì ai mà không sợ”, nên nói mạnh để khuyên răn ông. Cụm “các vị Tỳ-kheo tu tập ý lực” của bản Việt dịch chữ manobhāvanīyā bhikkhū, Sujato hiểu là “các vị Tỳ-kheo đáng kính” (esteemed mendicants).

Rồi có lời đáp rằng pháp thoại như vậy không hiển lộ (na paṭibhāti) cho hàng cư sĩ mặc áo trắng, chỉ cho người xuất gia — kinh không nêu tên người nói câu này (Anālayo, vol. 2, tr. 823–824, chú 17, lưu ý điểm này: câu trước là của Ānanda, còn lời đáp lại của Cấp Cô Độc gửi Sāriputta). Cấp Cô Độc xin: vậy thì hãy để pháp thoại ấy hiển lộ cho cư sĩ áo trắng nữa, vì có những thiện gia nam tử “ít bụi trong mắt” (apparajakkhajātikā), không được nghe pháp thì suy thoái, nghe thì sẽ có người hiểu.

Pháp thoại cho người xuất gia - MN143 15.7–15.11

“Na kho, gahapati, gihīnaṁ odātavasanānaṁ evarūpī dhammī kathā paṭibhāti; pabbajitānaṁ kho, gahapati, evarūpī dhammī kathā paṭibhātī”ti. “Tena hi, bhante sāriputta, gihīnampi odātavasanānaṁ evarūpī dhammī kathā paṭibhātu. Santi hi, bhante, kulaputtā apparajakkhajātikā, assavanatā dhammassa parihāyanti; bhavissanti dhammassa aññātāro”ti.

—Này Cư sĩ, thuyết pháp như vậy không nói cho các hàng cư sĩ mặc áo trắng. Này Cư sĩ, thuyết pháp như vậy nói cho các hàng xuất gia.

—Vậy thưa Tôn giả Sāriputta , hãy thuyết pháp như vậy cho hàng cư sĩ mặc áo trắng. Thưa Tôn giả Sāriputta , có những Thiện gia nam tử sanh ra với cấu uế không nhiều, nếu không được nghe pháp, sẽ bị đọa lạc; nhưng nếu được nghe, họ có thể biết được (Chánh) pháp.

Pāḷi: mn143:15.7–15.11 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn143/vi/minh_chau)

Vì sao một người hầu Phật suốt đời lại “chưa từng nghe”? Chú giải (Ps V 79–80) đáp: không phải Thế Tôn không giảng những bài vi tế như vậy, mà ông chưa từng nghe một bài gom đủ sáu nội xứ, sáu ngoại xứ, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu giới, năm uẩn, bốn vô sắc, đời này, đời sau rồi dẫn vào A-la-hán như thế. Hơn nữa ông vốn nghiêng hẳn về bố thí — đến chỗ Phật chưa bao giờ đi tay không — nên theo Chú giải, suốt hai mươi bốn năm Thế Tôn phần lớn chỉ giảng cho ông về bố thí, các đại đệ tử cũng vậy; còn với người tại gia, vốn bám chặt vào ruộng vườn, vàng bạc, tôi tớ, vợ con, những lời dạy “chớ bám víu, chớ dính mắc” thì họ không ưa, không lãnh hội được (Ps V 80).

Hai Tôn giả ra về, Cấp Cô Độc sinh lên cõi Đâu-suất

Giảng xong, hai Tôn giả đứng dậy ra về. Hai vị đi chưa lâu thì ông Cấp Cô Độc mệnh chung và sinh vào cõi trời Tusita (Đâu-suất).

Ra về và mệnh chung - MN143 16

Atha kho āyasmā ca sāriputto āyasmā ca ānando anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ iminā ovādena ovaditvā uṭṭhāyāsanā pakkamiṁsu. Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati, acirapakkante āyasmante ca sāriputte āyasmante ca ānande, kālamakāsi tusitaṁ kāyaṁ upapajji.

Rồi Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Ānanda sau khi giảng dạy cho cư sĩ Cấp Cô Ðộc với bài thuyết giảng, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Rồi cư sĩ Cấp Cô Ðộc, sau khi Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Ānanda ra đi không bao lâu, thân hoại mạng chung, và sau khi thân hoại mạng chung liền sanh lên cõi Tusita (Ðâu-suất thiên).

Pāḷi: mn143:16.1–16.2 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn143/vi/minh_chau)

Thiên tử Cấp Cô Độc trở lại Kỳ-đà-lâm

Khi đêm đã khuya, vị thiên tử (devaputta) Cấp Cô Độc, dung sắc rực rỡ, chiếu sáng khắp rừng Jetavana, đến đảnh lễ Thế Tôn, đứng một bên và nói bốn bài kệ. Theo Chú giải (Ps V 80–81), vừa sinh lên cõi Đâu-suất, ông thấy thân mình lớn ba gāvuta, sáng như khối vàng, cùng vườn cảnh, cung điện; nhìn lại thì thấy đó là quả của công đức với Tam Bảo; rồi nghĩ: “cõi trời là chỗ dễ buông lung, mải vui với sự thành tựu này thì có thể mất chánh niệm” — nên trước hết đến tán thán Kỳ-đà-lâm, chúng Tỳ-kheo, Như Lai, Thánh đạo và Tôn giả Sāriputta, rồi mới về hưởng phước.

Thiên tử đến - MN143 17.1–17.2

Atha kho anāthapiṇḍiko devaputto abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho anāthapiṇḍiko devaputto bhagavantaṁ gāthāhi ajjhabhāsi:

Rồi Thiên tử Cấp Cô Ðộc, khi đêm đã gần mãn, sau khi chói sáng toàn cảnh Jetavana (Kỳ-đà-Lâm) với dung sắc thù thắng đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Cấp Cô Ðộc nói lên với Thế Tôn bài kệ sau đây:

Pāḷi: mn143:17.1–17.2 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn143/vi/minh_chau)
Minh hoạ: đêm khuya trong rừng Kỳ-đà, một vị thiên tử toả ánh sáng vàng đứng chắp tay một bên, Đức Phật ngồi thiền trên bệ gỗ dưới gốc cây

Bốn bài kệ, theo thứ tự:

  1. Kỳ-đà-lâm: đây chính là rừng Jetavana, nơi chúng ẩn sĩ (isisaṅgha) lui tới, nơi Pháp vương (dhammarāja) đã ở, sinh hỷ cho ta.
  2. Con đường thanh tịnh: nghiệp, minh, pháp, giới, mạng sống tối thượng — nhờ những điều ấy mà người đời được thanh tịnh, không phải nhờ dòng họ (gotta) hay tài sản (dhana).
  3. Người trí: vì vậy người trí thấy rõ lợi ích của mình, hãy như lý quán xét pháp; như vậy sẽ được thanh tịnh.
  4. Sāriputta: Sāriputta là bậc tối thắng về tuệ, giới và tịch tịnh; ngay cả vị Tỳ-kheo đã đến bờ bên kia, cao nhất cũng chỉ bằng được như vậy.
Bốn bài kệ - MN143 17.3–17.18

“Idañhi taṁ jetavanaṁ, isisaṅghanisevitaṁ; Āvutthaṁ dhammarājena, pītisañjananaṁ mama. Kammaṁ vijjā ca dhammo ca, sīlaṁ jīvitamuttamaṁ; Etena maccā sujjhanti, na gottena dhanena vā. Tasmā hi paṇḍito poso, sampassaṁ atthamattano; Yoniso vicine dhammaṁ, evaṁ tattha visujjhati. Sāriputtova paññāya, sīlena upasamena ca; Yopi pāraṅgato bhikkhu, etāvaparamo siyā”ti.

Rừng Jetavana ,
Tốt đẹp phước lành này,
Ðược chư Thiên, chúng Tăng,
Thường lui tới an trú,
Ðược Pháp Vương trú trì,
Ban hoan hỷ cho ta.

Nghiệp, minh và Chánh pháp,
Giới, tối thượng sanh mạng,
Chính nhờ các pháp trên,
Khiến chúng sanh thanh tịnh,
Không phải do giai cấp,
Không phải do tài sản.

Do vậy bậc Hiền giả,
Thấy rõ mục đích mình,
Suy tư pháp chân chánh,
Ðược thanh tịnh ở đây.

Như Sāriputta ,
Về tuệ, giới, tịch tịnh,
Bất luận Tỷ-kheo nào,
Ðã tới bờ bên kia,
Hãy đạt được tối thắng
Trong những pháp kể trên.

Pāḷi: mn143:17.3–17.18 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn143/vi/minh_chau)

Lưu ý bản dịch. (a) Kệ 1: bản Việt có “Được chư Thiên, chúng Tăng, thường lui tới an trú”; Pāḷi isisaṅghanisevitaṁ chỉ nói “nơi chúng ẩn sĩ lui tới”, không có chữ “chư Thiên” — Chú giải (Ps V 81) giải isisaṅgha là chúng Tỳ-kheo. (b) Kệ 4: bản Việt kết bằng “Hãy đạt được tối thắng / Trong những pháp kể trên”, nghe như một lời khuyên; Pāḷi yopi pāraṅgato bhikkhu, etāvaparamo siyā là câu khen: “ngay cả vị Tỳ-kheo đã qua bờ bên kia, cao nhất cũng chỉ ngang mức ấy”. Chú giải (Ps V 81) xác nhận nghĩa này: chữ va trong Sāriputtova là lời nhấn mạnh — về tuệ, giới, tịch tịnh thì chính Sāriputta là tối thắng; vị Tỳ-kheo nào đã chứng Niết-bàn thì tối đa cũng chỉ bằng, không ai vượt hơn Trưởng lão.

Chú giải (Ps V 81) còn giải kệ 2 như một lời tán thán Thánh đạo: “nghiệp” là tư tâm sở trong Thánh đạo, “minh” là tuệ trong Thánh đạo, “pháp” là phần thuộc về định; hoặc theo cách khác: minh = chánh kiến và chánh tư duy, pháp = chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, giới = chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng — tức người đời thanh tịnh nhờ Bát Thánh đạo, không nhờ dòng họ hay của cải.

Thiên tử nói xong, bậc Đạo sư tán đồng. Biết vậy, thiên tử đảnh lễ, đi nhiễu bên phải (padakkhiṇaṁ katvā) rồi biến mất ngay tại chỗ. (Bản Việt dịch “thân phía hữu hướng về Ngài”.)

Bậc Đạo sư tán đồng - MN143 18

Idamavoca anāthapiṇḍiko devaputto. Samanuñño satthā ahosi. Atha kho anāthapiṇḍiko devaputto: “samanuñño me satthā”ti bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyi.

Thiên tử Cấp Cô Ðộc nói như vậy. Bậc Ðạo sư tán đồng. Rồi Thiên tử Cấp Cô Ðộc suy nghĩ: “Bậc Ðạo sư tán đồng ta.” Sau khi đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ.

Pāḷi: mn143:18.1–18.4 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn143/vi/minh_chau)

Sáng hôm sau, Thế Tôn kể lại với chư Tỳ-kheo

Khi đêm đã qua, Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo kể lại đầy đủ: đêm qua “một vị thiên tử” — Ngài không nói tên — đã đến, đảnh lễ, đứng một bên, và Thế Tôn đọc lại nguyên văn cả bốn bài kệ (§19.4–19.19, trùng từng chữ với các kệ đã trích ở trên), rồi kể việc vị ấy đảnh lễ, nhiễu hữu và biến mất.

Thế Tôn kể lại - MN143 19.1–19.3

Atha kho bhagavā tassā rattiyā accayena bhikkhū āmantesi: “imaṁ, bhikkhave, rattiṁ aññataro devaputto abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho so devaputto maṁ gāthāhi ajjhabhāsi:

Rồi Thế Tôn, khi đêm ấy đã mãn, gọi các Tỷ-kheo

—Này các Tỷ-kheo, đêm nay, một vị Thiên tử, khi đêm đã gần mãn, chiếu sáng toàn cảnh Jetavana với dung sắc thù thắng đã đi đến Ta, sau khi đến đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị Thiên tử ấy nói lên với Ta bài kệ sau đây:

Pāḷi: mn143:19.1–19.3 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn143/vi/minh_chau)
Vị thiên tử biến mất - MN143 19.20–19.21

Idamavoca, bhikkhave, so devaputto. ‘Samanuñño me satthā’ti maṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyī”ti.

Nói vậy xong, này các Tỷ-kheo, vị Thiên tử ấy suy nghĩ: “Bậc Ðạo sư tán đồng ta”, sau khi đảnh lễ thân phía hữu hướng về Ta, rồi biến mất tại chỗ.

Pāḷi: mn143:19.20–19.21 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn143/vi/minh_chau)

Kết kinh

Ānanda thưa: chắc vị thiên tử ấy là Cấp Cô Độc, vì ông vốn hết lòng tịnh tín Tôn giả Sāriputta (abhippasanno — bản Việt thêm chữ “bất động”). Thế Tôn khen: “Lành thay, lành thay”, điều gì suy luận (takkā) có thể đạt tới thì Ānanda đã đạt tới — vị thiên tử ấy chính là Cấp Cô Độc. (Câu “không một ai khác” là phần bản Việt thêm vào cho rõ; Pāḷi chỉ là Anāthapiṇḍiko so, ānanda, devaputto.) Kinh khép lại bằng câu Ānanda hoan hỷ tín thọ.

Kết kinh - MN143 20

Evaṁ vutte, āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca: “so hi nūna so, bhante, anāthapiṇḍiko devaputto bhavissati. Anāthapiṇḍiko, bhante, gahapati āyasmante sāriputte abhippasanno ahosī”ti. “Sādhu sādhu, ānanda. Yāvatakaṁ kho, ānanda, takkāya pattabbaṁ, anuppattaṁ taṁ tayā. Anāthapiṇḍiko so, ānanda, devaputto”ti. Idamavoca bhagavā. Attamano āyasmā ānando bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.

Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn

—Bạch Thế Tôn, có phải vị ấy là Thiên tử Cấp Cô Ðộc chăng? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Cấp Cô Ðộc có lòng tịnh tín bất động đối với Tôn giả Sāriputta .

—Lành thay, lành thay, Ānanda ! Những gì có thể thành đạt được bởi suy tư đã được đạt đến, này Ānanda . Chính Cấp Cô Ðộc là vị Thiên tử ấy, không một ai khác.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

Pāḷi: mn143:20.1–20.8 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn143/vi/minh_chau)

Giải thích

1. Thăm bệnh bằng pháp, không bằng lời an ủi. Bài kinh cho thấy một cách thăm người hấp hối rất khác lệ thường. Sāriputta hỏi thăm đúng phép, nghe hết lời người bệnh tả cơn đau — rồi không nói “ông sẽ khỏi” hay “ông đã làm nhiều phước”. Theo Chú giải, Tôn giả nhận ra đây là cơn đau cận tử, không gì ngăn được, nói chuyện khác là vô ích, nên giảng pháp cho ông — tức chỉ cho người sắp chết chỗ buông.

2. Hai vế của một câu tập. Mỗi câu có hai vế: “không chấp thủ X” và “thức của tôi không nương vào X”. Vế thứ hai cho thấy chỗ bám không chỉ là ý muốn giữ lấy, mà là việc cái biết lấy đối tượng làm chỗ tựa. Kinh không bảo người bệnh đừng thấy, đừng nghe, đừng đau — mà tập để những thứ ấy không còn là chỗ tâm bám vào. Với người đang đau đến tột cùng, nhóm “sáu thọ” và “thân” nằm ngay trong danh sách: chính cơn đau cũng là một đối tượng không nắm giữ.

3. Đi từ gần đến xa, rồi gom tất cả. Thứ tự mười nhóm đi từ giác quan, đối tượng, cái biết, sự tiếp xúc, cảm thọ — tức toàn bộ diễn biến của một kinh nghiệm — sang các yếu tố tạo nên thân (sáu giới), các uẩn, các tầng định vô sắc, rồi đến đời này và đời sau. Đời sau đứng gần cuối là điều đáng để ý với một người sắp chết và vốn nhiều phước: theo Chú giải, đó là để bỏ cả niềm mong được sinh vào cõi trời tốt đẹp. Câu chót “những gì đã thấy, nghe, cảm, biết…” quét sạch những gì còn sót.

4. Pháp thoại “cho người xuất gia” và lời xin của người tại gia. Câu “pháp thoại như vậy không hiển lộ cho cư sĩ áo trắng” không phải một lệnh cấm, mà là ghi nhận thói quen giảng dạy theo căn cơ (Chú giải nói về sự bám víu mạnh của người tại gia). Phản ứng của Cấp Cô Độc thì rõ ràng: hãy giảng cho cư sĩ nữa, vì “có những người ít bụi trong mắt”. Cụm chữ này (apparajakkhajātikā… assavanatā dhammassa parihāyanti, bhavissanti dhammassa aññātāro) gần như trùng với lời Phạm thiên Sahampati thỉnh Đức Phật thuyết pháp sau khi thành đạo trong MN26 (mn26:20.6–20.7). Một cư sĩ trên giường bệnh dùng đúng lời thỉnh ấy để xin pháp cho người tại gia.

5. Kết cục. Kinh không nói ông chứng đắc gì sau bài giảng; chỉ nói ông sinh lên Đâu-suất, và vị thiên tử ấy lại đến tán thán Kỳ-đà-lâm, con đường thanh tịnh (Chú giải hiểu là Thánh đạo) và Sāriputta — người đã giảng cho ông lần cuối. Lời Thế Tôn xác nhận cuối kinh khép lại câu chuyện bằng một chi tiết nhỏ: Ānanda đoán được nhờ biết lòng tịnh tín của ông với Sāriputta.

Đối chiếu các tạng

Theo danh mục tương đương của SuttaCentral (tra ngày 19/10/2026), MN143 được xếp cùng các bản: EĀ 51.8 (Tăng Nhất A-hàm, T ii 819b), MA28 (Trung A-hàm, T i 458b), SĀ 1032 (Tạp A-hàm, T ii 269c), SĀ 593 (Tạp A-hàm, T ii 158b), S² 187 (Biệt dịch Tạp A-hàm, T ii 441a), mảnh Sanskrit SHT VI 1397 (SHT tr. 116–117), và ba kinh Pāḷi SN 1.48, SN 2.20, SN 55.26. Bài này chỉ đối chiếu chi tiết với MA28 (bản Hán có trong kho của site); các bản còn lại chưa đối chiếu bản gốc — thông tin về chúng dưới đây lấy từ Anālayo (thứ cấp).

MA28 chỉ tương đương một phần. Chính SuttaCentral ghi chú (ở mục EĀ 51.8) rằng MA28 khớp với SN 55.26 về lời Sāriputta dạy và ở chỗ ông Cấp Cô Độc khỏi bệnh, khác MN143 và EĀ 51.8 (ông mệnh chung), nên MA28 (cùng mảnh Sanskrit SHT VI 1397) đúng hơn là bản tương đương của SN 55.26. Anālayo nói như vậy: “The instructions given by Sāriputta to Anāthapiṇḍika in MĀ 28, however, rather parallel SN 55:26” — “Tuy nhiên, lời dạy của Sāriputta cho Anāthapiṇḍika trong MA 28 thì tương ứng với SN 55:26 hơn” (vol. 2, tr. 821, chú 1). Dịch giả Tuệ Sỹ cũng chú ngay trong bản Việt MA28: “Nội dung bài thuyết pháp sau đây không đồng nhất với bản Pāli tương đương” và “Bản Pāli, sau đó, khi Sāriputta đi khỏi, Trưởng giả Cấp Cô Độc mạng chung” (Tuệ Sỹ dịch, chú, Trung A-hàm, tập I, tr. 207, chú thích 2; tr. 208, chú thích 4). Vì vậy bảng dưới chỉ để thấy phần chung là khung mở đầu, phần còn lại là hai bài kinh khác nhau.

Sơ đồ đối chiếu MN143 và MA28: chung khung mở đầu; khác người đi thăm, cách tả cơn đau, nội dung bài giảng, kết cục bệnh, phần sau và lời Phật cuối
ĐiểmMN143 (Pāḷi)MA28 (Hán)
Nơi chốnSāvatthī, Jetavana舍衛國, rừng Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc
Người bệnhcư sĩ (gahapati) AnāthapiṇḍikaTrưởng giả 給孤獨
Lời nhắn gửi Phậtbáo bệnh, đảnh lễ; kinh không ghi Phật đáp gìhỏi thăm sức khỏe Thế Tôn; Phật chúc trưởng giả, chư thiên, a-tu-la, càn-thát-bà, la-sát… an lạc
Lời thỉnhthỉnh Sāriputta đến vì lòng từ mẫnnhư vậy, thêm “rất muốn gặp nhưng không còn sức đi”
Người đi thămSāriputta + ĀnandaXá-lợi-phất (không nhắc người đi cùng), sáng hôm sau
Đến nơingồi chỗ soạn sẵntrưởng giả muốn ngồi dậy, Xá-lợi-phất ngăn, ngồi giường khác
Tả bệnhbốn ví dụ (đầu, bụng, khắp thân)“ăn uống không được, đau chỉ tăng”
Nội dung giảngkhông chấp thủ 10 nhóm (48 đối tượng)“chớ sợ” × 10: phàm phu do bất tín, ác giới, không đa văn, xan tham, ác tuệ, tà kiến, tà chí, tà giải, tà thoát, tà trí → địa ngục; trưởng giả có đủ mặt đối lập, vốn đã là Tu-đà-hoàn
Ānanda hỏi, trưởng giả khóccókhông
Kết cụcmệnh chung, sinh Tusitakhỏi bệnh, ngồi dậy
Phần sauthiên tử đọc 4 kệ ở Kỳ-đà-lâmtrưởng giả kể chuyện nghe danh Phật ở Vương Xá, vị trời Mật-khí khuyên đi (kệ “không bằng 1/16 một bước”), thấy Tứ đế, mua vườn của Thắng Lâm Đồng tử, xây 16 dãy nhà lớn; mời Xá-lợi-phất thọ trai
Lời Phật cuốixác nhận thiên tử là Cấp Cô Độckhen tuệ Xá-lợi-phất: Ta nói lược 4 hạng Tu-đà-hoàn, Xá-lợi-phất nói rộng thành 10
KếtĀnanda hoan hỷ tín thọchư Tỳ-kheo hoan hỷ phụng hành

Các bản tương đương thật theo Anālayo (vol. 2, tr. 821–825 — thứ cấp, chưa đối chiếu bản gốc): EĀ 51.8 tương đương cả bài MN143 (nhưng phần thiên tử chỉ có bài kệ thứ nhất); phần đầu (Sāriputta đến thăm) còn tương ứng SĀ 1032; phần sau (thiên tử đến gặp Phật) còn tương ứng SN 2.20, SĀ 593 và S² 187; bốn bài kệ còn đứng riêng thành SN 1.48. Theo bảng so sánh của Anālayo (bảng 15.1): chỉ MN143 có ba nhóm sáu thức, sáu xúc, sáu thọ; SĀ 1032 có sáu căn, sáu trần, sáu giới, năm uẩn; EĀ 51.8 có ba niệm (Phật, Pháp, Tăng), sáu trần, đời này – đời sau, rồi giảng duyên khởi mười hai chi. Bốn xứ vô sắc và “thấy, nghe, cảm, biết” cũng chỉ có ở MN143. SĀ 1032 và EĀ 51.8 không chép việc sai người đi thỉnh: SĀ 1032 kể Sāriputta nghe tin rồi tự đến, EĀ 51.8 kể Sāriputta biết bằng thiên nhãn. EĀ 51.8 cho ông sinh lên cõi Ba Mươi Ba thay vì Đâu-suất. Ở S² 187, người đến thăm lại là chính Đức Phật, dạy sáu niệm.

Tra cứu trong bài

Nguồn tham khảo

  • Pāḷi (Mahāsaṅgīti): MN 143 — SuttaCentral
  • Việt — HT. Thích Minh Châu dịch (Bình Anson hiệu đính): mn143/vi/minh_chau — SuttaCentral
  • English — Bhikkhu Sujato, Advice to Anāthapiṇḍika: mn143/en/sujato — SuttaCentral
  • Danh mục kinh tương đương: MN 143 — SuttaCentral (API parallels, tra ngày 19/10/2026), kèm ghi chú của SuttaCentral ở mục EĀ 51.8 về MA28.
  • Hán tạng (tương đương một phần) — Trung A-hàm 28, 教化病經: ma28/lzh/taisho — SuttaCentral · bản Việt HT. Tuệ Sỹ: ma28/vi/tue_sy — SuttaCentral · bài trên site: MA28 - Kinh Giáo Hóa Bịnh
  • Tuệ Sỹ (dịch, chú), Trung A-hàm, tập I, tr. 207, chú thích 2; tr. 208, chú thích 4 (Kinh Giáo Hóa Bịnh).
  • Chú giải Pāḷi: Papañcasūdanī (Majjhimanikāya-aṭṭhakathā), Anāthapiṇḍikovādasuttavaṇṇanā, Ps (PTS) V 77–81 (bản VRI Chaṭṭha Saṅgāyana).
  • Chú giải Trung Bộ Kinh, bản Thái-Việt (sudhamma.net), mục Kinh số 143 — Giải thích kinh Giáo giới Anāthapiṇḍika: Chú giải Trung Bộ Kinh (sudhamma.net) — bản web không có số trang; số trang trong bài là trang PTS của bản Pāḷi.
  • Chú Giải Trung Bộ Kinh, bản Việt (vietheravada.net): chugiaitrungbokinh.pdf (vietheravada.net) — bản này chỉ gồm MN1–50, không có phần MN143; bài không trích từ bản này.
  • Anālayo, A Comparative Study of the Majjhima-nikāya, vol. 2, tr. 821–825 (Dharma Drum, 2011) — thứ cấp.
  • Đối chiếu câu thỉnh pháp: MN 26 — SuttaCentral, mn26:20.6–20.7.

📖 Nguồn / bản quyền: SuttaCentral — MN 143 (Anāthapiṇḍikovāda Sutta), Pāḷi Mahāsaṅgīti + bản Việt HT. Thích Minh Châu