MA213 - Kinh Pháp Trang Nghiêm (Trung A-hàm 213, tương đương MN89)
Tóm tắt nhanh: 法莊嚴經 là bài Trung A-hàm 213, tương đương MN89 — Kinh Pháp Trang Nghiêm. Đang ở thị trấn “Thành” cùng tướng Trường Tác, vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la thấy những gốc cây vắng lặng, nhớ đến Đức Phật và đi ba cu-lô-xá đến Di-lũ-ly, đô ấp của họ Thích. Vua cởi năm nghi trượng trao cho Trường Tác, gõ cửa ngôi nhà hướng Đông, lễ chân Phật và tự xưng tên. Được hỏi vì sao hạ mình như vậy, vua kể mười một điều (bài này đếm theo câu điệp, kinh không đánh số): mười điều vua tận mắt thấy nơi chư tỳ-kheo, nơi những người trí đến vấn nạn và nơi hai viên thần tá của mình, mỗi điều khiến vua suy ra “Pháp Như Lai giảng dạy toàn thiện, chúng đệ tử khéo thú hướng”; điều cuối là vua làm Quốc vương, Phật làm Pháp vương, cùng dòng Sát-lị, cùng người Câu-tát-la, cùng tám mươi tuổi. Vua về rồi, Thế Tôn bảo A-nan tập họp chư Tăng ở rừng Di-lũ-ly, dạy thọ trì kinh “Pháp Trang Nghiêm” vì kinh ấy dẫn đến trí tuệ, giác ngộ, Niết-bàn.
🔗 Song tạng: Bản Pāḷi tương đương — MN89 — Kinh Pháp Trang Nghiêm. Khác lớn nhất: bản Hán không có điều “hòa hợp như sữa với nước” mà có điều “tỳ-kheo hoàn tục cũng không nói xấu Phật, Pháp, Tăng”, kể người trí đến vấn nạn theo bốn kết cục, và kết kinh có A-nan triệu tập chư Tăng.
Bối cảnh
Kinh thuộc phẩm thứ 18 của Trung A-hàm, phẩm 例品 (Lệ phẩm), do Cù-đàm Tăng-già-đề-bà (僧伽提婆, Gautama Saṅghadeva) dịch đời Đông Tấn (397–398). Dòng cuối bản Hán ghi 法莊嚴經第二竟(三千三十七字) — “hết Kinh Pháp Trang Nghiêm, bài thứ hai (3.037 chữ)”. Bản Việt là của HT. Tuệ Sỹ.
- Nơi chốn. Phật trú giữa những người họ Thích, tại đô ấp Di-lũ-ly (彌婁離; HT. Tuệ Sỹ chú: Pāli Medaḷumpa). Vua thì đang ở một thị trấn tên là “Thành” (城; chú: Pāli Naṅgaraka) (Tuệ Sỹ, Trung A-hàm, tập III, chú thích 1, 3); bản Pāḷi MN89 viết medāḷupa và nagaraka.
- Nhân vật. Vua Ba-tư-nặc (波斯匿, Pasenadi) nước Câu-tát-la (拘薩羅, Kosala) và Trường Tác (長作), theo chú của HT. Tuệ Sỹ là Pāli Dīghakāryāṇa, “viên đại tướng tổng chỉ huy của vua Pasenadi” (chú thích 2). Về sau có thêm các tỳ-kheo đang kinh hành, Tôn giả A-nan và chư Tăng ở rừng Di-lũ-ly.
- Xưng hô. Trường Tác gọi vua là “Thiên vương” (天王); các tỳ-kheo và Đức Phật gọi vua là “Đại vương” (大王); vua gọi các tỳ-kheo là “các Tôn giả” (諸尊), gọi Phật là “Thế Tôn” và tự xưng “con”.
我聞如是:一時,佛遊釋中,在釋家都邑,名彌婁離。
Tôi nghe như vầy.
Một thời Phật trú giữa những người họ Thích, trú trong một đô ấp của Thích gia tên là Di-lũ-ly.
MA 213 - T26 0795b19–b20 · Việt: Tuệ Sỹ (ma213/vi/tue_sy)Những gốc cây vắng lặng gợi nhớ Thế Tôn
Vua và Trường Tác “vì có những việc cần làm” (有所為故) mà đến thị trấn Thành; kinh không nói việc gì. Đến một khu vườn, vua thấy những gốc cây được tả bằng một chuỗi nét quen thuộc của chỗ tu: vắng vẻ không tiếng động, xa lánh, không có sự dữ, không có bóng người, thích hợp cho sự tĩnh tọa (隨順燕坐). Thấy vậy vua nhớ đến Thế Tôn, nói với Trường Tác rằng tại chỗ này vua đã nhiều lần đến thăm Phật (此處我數往見佛), rồi hỏi: Thế Tôn nay ở đâu, ta muốn đến thăm.
爾時,拘薩羅王波斯匿與長作共俱有所為故,出詣邑名城。拘薩羅王波斯匿至彼園觀,見諸樹下寂無音聲,遠離,無惡,無有人民,隨順燕坐,見已,憶念世尊。拘薩羅王波斯匿告曰:「長作!今此樹下寂無音聲,遠離,無惡,無有人民,隨順燕坐,此處我數往見佛。長作!世尊今在何處?我欲往見。」
Bấy giờ Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la và Trường Tác vì có những việc cần làm nên cùng đi đến một thị trấn tên gọi là Thành. Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la, đến một khu vườn nơi ấy, nhìn thấy những gốc cây vắng vẻ, không tiếng động, xa lánh, không có sự dữ, không có bóng người, thích hợp cho sự tĩnh tọa. Sau khi nhìn thấy như vậy, nghĩ nhớ Đức Thế Tôn, Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la nói rằng:
“Này Trường Tác, ở đây, những gốc cây này vắng vẻ, không có tiếng động, xa lánh, không có sự dữ, không có bóng người, thích hợp cho sự tĩnh tọa. Tại chỗ này ta đã nhiều lần đến thăm viếng Đức Thế Tôn. Này Trường Tác, Đức Thế Tôn hiện giờ đang ở đâu? Ta muốn đến thăm.”
Chỗ này bản Hán khác cách hiểu của Chú giải Pāḷi. Câu tương ứng ở MN89 (yattha sudaṁ mayaṁ taṁ bhagavantaṁ payirupāsāma) đọc sát chữ là “nơi chúng ta từng hầu Thế Tôn”; nhưng theo Chú giải (Papañcasūdanī, Ps (PTS) III 350), vua chưa từng hầu Phật ở chính chỗ ấy mà ở những nơi giống như vậy, và bản Anh của Sujato cũng dịch là những gốc cây giống những nơi vua từng đảnh lễ (xem bài MN89). Bản Hán thì nói thẳng: chính tại chỗ này vua đã nhiều lần đến thăm Phật.
Ba cu-lô-xá đến Di-lũ-ly
Trường Tác đáp: nghe nói Thế Tôn đang ở Di-lũ-ly, cách đây ba cu-lô-xá (三拘婁舍). HT. Tuệ Sỹ chú: câu-lô-xá là “số đo dài năm trăm cung, hay khoảng cách tiếng rống của một con bò”, và ghi rằng MN89 nói ba yojana (do-tuần) (chú thích 4). Vua bảo sửa soạn xa giá; Trường Tác vâng lệnh, báo đã xong; vua lên xe ra khỏi thành, đi đến Di-lũ-ly.
長作答曰:「天王!我聞世尊遊釋中,在釋家都邑,名彌婁離。」拘薩羅王波斯匿復問曰:「長作!釋家都邑名彌婁離,去此幾許?」長作答曰:「天王!去此三拘婁舍。」拘薩羅王波斯匿告曰:「長作!可勅嚴駕,我欲詣佛。」長作受教,即勅嚴駕,白曰:「天王!嚴駕已訖,隨天王意。」拘薩羅王波斯匿即昇乘出城外,往至釋家都邑,名彌婁離。
Trường Tác trả lời:
“Tôi nghe nói Đức Thích Tôn đang trú giữa những người họ Thích, trú trong một đô ấp của Thích gia, tên gọi là Di-lũ-ly.”
Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la lại hỏi:
“Này Trường Tác, Di-lũ-ly, đô ấp của Thích gia cách đây bao xa?”
Trường Tác đáp:
“Tâu Thiên vương, cách đây ba cu-lô-xá.”
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la nói:
“Này Trường Tác, ngươi hãy ra lệnh cho sửa soạn xa giá. Ta muốn đến chỗ Thế Tôn.”
Trường Tác vâng lời cho sửa soạn xa giá, rồi tâu rằng:
“Tâu Thiên vương, xa giá đã sửa soạn xong, xin vâng ý Thiên vương.”
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la bèn lên xe, dong khỏi thành ngoài đi đến Di-lũ-ly, đô ấp của Thích gia.
Lưu ý bản dịch: ở ¶4 bản Việt ghi Trường Tác nói “Đức Thích Tôn”; Hán là 世尊 (Thế Tôn), như mọi chỗ khác trong kinh.
Ngôi nhà hướng Đông, cửa sổ mở, cửa lớn đóng
Ngoài cổng Di-lũ-ly, nhiều tỳ-kheo đang kinh hành trên khoảng đất trống. Vua đến hỏi Thế Tôn đang nghỉ ban ngày ở đâu (晝行). Các vị chỉ ngôi nhà lớn hướng Đông, cửa sổ mở, cửa lớn đóng (開窓閉戶), và dặn cách đến: đứng bên ngoài, tằng hắng rồi gõ cửa, Thế Tôn nghe tất sẽ mở.
爾時,彌婁離門外眾多比丘露地經行,拘薩羅王波斯匿往詣諸比丘所,問曰:「諸尊!世尊今在何處晝行?」眾多比丘答曰:「大王!彼東向大屋,開窓閉戶,世尊今在彼中晝行。大王!欲見便往詣彼,到已住外,謦欬敲戶,世尊聞者,必為開戶。」
Bấy giờ, ngoài cổng Di-lũ-ly, một số đông các Tỳ-kheo đang đi kinh hành trên một khoảng đất trống. Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la đến nơi các Tỳ-kheo, hỏi rằng:
“Thưa các Tôn giả, Đức Thế Tôn hiện đang nghỉ mát ban ngày ở đâu?”
Các Tỳ-kheo trả lời rằng:
“Đại vương, ngôi nhà lớn hướng Đông kia, với cửa sổ mở và cửa lớn đóng ấy, Đức Thế Tôn hiện đang nghỉ mát ban ngày tại đó. Đại vương nếu muốn đến thăm, có thể đi đến nơi đó. Đến nơi hãy đứng bên ngoài, rồi tằng hắng và gõ cửa. Đức Thế Tôn nghe tất sẽ mở cửa.”
Năm nghi trượng trao cho Trường Tác
Vua xuống xe. Kinh chen một câu giải thích: một vị vua Sát-lị Đảnh Sanh cai trị nhân dân, ban giáo lệnh cho cõi đất, thì có năm nghi trượng (五儀飾):
- kiếm (劍),
- lọng (葢),
- tràng hoa (華鬘),
- phất cán ngọc (珠柄拂),
- giày thêu (嚴飾之屣).
Vua cởi bỏ tất cả, trao cho Trường Tác. Trường Tác nghĩ: Thiên vương nay tất vào một mình, chúng ta nên đứng đây mà đợi. Rồi vua “với đám tùy tùng vây quanh” (眷屬圍遶) đi bộ đến ngôi nhà, đứng ngoài tằng hắng, gõ cửa; Thế Tôn mở cửa; vua vào, cúi đầu lễ sát chân Phật, rồi ba lần tự xưng tên họ.
拘薩羅王波斯匿即便下車。若有王剎利頂來而得人處,教令大地,有五儀飾,劍、葢、華鬘及珠柄拂、嚴飾之屣,彼盡脫已,授與長作,長作念曰:「天王今者必當獨入,我等應共住此待耳。」於是,拘薩羅王波斯匿眷屬圍遶,步往至彼東向大屋,到已住外,謦欬敲戶,世尊聞已,即為開戶,拘薩羅王波斯匿便入彼屋,前至佛所,稽首禮足,再三自稱姓名:
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la bèn xuống xe.
Khi một vị Sát-lị Đảnh Sanh xuất hiện để cai trị nhân dân, và ban hành giáo lệnh cho cõi đất, vua có năm nghi trượng. Đó là kiếm, lọng, tràng hoa, phất cán ngọc và giày thêu. Vua cởi bỏ tất cả trao cho Trường Tác. Trường Tác nghĩ rằng:
“Thiên vương nay tất chỉ đi vào một mình. Chúng ta nên đứng ở đây mà đợi vậy.”
Rồi Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la với đám tùy tùng vây quanh bước tới ngôi nhà hướng Đông kia. Đến nơi, vua đứng ngoài tằng hắng và gõ cửa. Đức Thế Tôn nghe rồi, bèn ra mở cửa. Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la đi vào trong nhà đến trước Đức Phật cúi đầu lễ sát chân, rồi ba lần tự xưng tên họ.
Hai điều đáng để ý. (1) MN89 chỉ nói vua trao “kiếm và khăn”; bản Hán kê đủ năm vật ngay trong kinh. Chú giải Pāḷi của MN89 (Papañcasūdanī, Ps (PTS) III 351) cũng nói “kiếm và khăn” chỉ là nói tóm và dẫn một câu kệ kê năm vương trượng: quạt lông (vālabījanī), khăn (uṇhīsa; bản Chú giải Thái-Việt dịch là “vương miện”), kiếm (khagga), lọng (chatta), hài (upāhana) — bốn vật trùng với bản Hán, chỉ khác “khăn” ở chỗ bản Hán là “tràng hoa”. (2) Kinh nói Trường Tác ở lại đợi vì vua “vào một mình”, nhưng câu ngay sau lại tả vua đi đến nhà “với đám tùy tùng vây quanh”; bản Hán không nói rõ đám tùy tùng dừng ở đâu.
Ba lần xưng tên và câu hỏi của Thế Tôn
Lời vua được ghi ra hai lần: “Con là Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la!” Riêng bản Hán có thêm lời Thế Tôn đáp, cũng hai lần: “Như vậy, Đại vương, ngài là Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la.” Vua lễ chân Phật lần nữa, ngồi một bên. Thế Tôn hỏi: Đại vương thấy nơi Ta có những nghĩa lợi nào (有何等義) mà tự hạ mình (自下意) đảnh lễ dưới chân, cúng dường cung kính như vậy?
「我是拘薩羅王波斯匿。我是拘薩羅王波斯匿。」世尊答曰:「如是。大王!汝是拘薩羅王波斯匿。汝是拘薩羅王波斯匿。」拘薩羅王波斯匿再三自稱姓名已,稽首佛足,却坐一面。世尊問曰:「大王!見我有何等義,而自下意稽首禮足,供養承事耶?」
“Con là Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la! Con là Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la!”
Đức Thế Tôn đáp:
“Như vậy, Đại vương, ngài là Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la. Ngài là Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la!”
Sau ba lần tự xưng tên họ, vua Ba-tư-nặc đảnh lễ dưới chân Phật và lui ngồi một bên. Đức Thế Tôn hỏi:
“Đại vương, Đại vương thấy nơi Ta có những nghĩa lợi nào mà tự hạ mình đảnh lễ dưới chân và cúng dường cung kính như vậy?”
Kinh nói “ba lần” (再三) mà chỉ chép ra hai lần — Anālayo cũng ghi nhận chỗ này (A Comparative Study of the Majjhima-nikāya, vol. 1, p. 511, chú 336). Bản Hán không có chi tiết vua hôn và xoa chân Phật như MN89; vì vậy câu hỏi của Phật cũng không nói đến “thân này” mà hỏi chung vua thấy nghĩa lợi gì nơi Ngài.
Tranh gộp các chi tiết của kinh cho dễ hình dung. Theo kinh, Trường Tác ở lại đợi từ chỗ vua xuống xe, không đứng ngay cửa; còn A-nan cầm phất đứng sau Phật là chi tiết ở cuối kinh (¶37), khi vua đã về.
Khuôn chung của mười một pháp loại suy
Vua trả lời bằng một chữ then chốt: 法靖, HT. Tuệ Sỹ dịch là “sự loại suy về pháp” và chú: Pāli dhammanvaya, “tổng tướng của pháp, loại cú của pháp, mục đích thứ tự của pháp. Đây chỉ sự suy diễn dựa trên những chứng nghiệm thực tế” (tập III, tr. 905, chú thích 5). Vua không thấy được sự giác ngộ của Phật, nhưng thấy những gì Pháp làm ra nơi con người, và từ đó suy ngược về nguồn.
Câu trả lời mở bằng công thức suy luận, rồi đi qua mười một điều theo cùng một khuôn:
- Cảnh bên ngoài (hoặc cảnh ở chính đời vua): điều vua thấy nơi gia đình, nơi các Sa-môn, Bà-la-môn khác, nơi công đường…
- Điều vua thấy nơi chư tỳ-kheo hay nơi những người đến với Phật.
- Câu điệp: “Đó là sự loại suy về pháp của con đối với Thế Tôn. Do đó con nghĩ rằng, ‘Pháp được Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác giảng dạy thật là toàn thiện. Chúng đệ tử của Thế Tôn thật là khéo thú hướng.’” Câu điệp xuất hiện đủ mười lần (điều 1–10); điều thứ mười một không kết bằng câu điệp.
Kinh không tự đánh số các điều; bài này đếm theo câu điệp, nên ra mười một (MN89 thường được đếm là mười). Công thức suy luận, trích một lần ở đây:
拘薩羅王波斯匿答曰:「世尊!我於佛而有法靖,因此故,我作是念:『如來、無所著、正盡覺所說法善,世尊弟子眾善趣向也。』
Vua Ba-tư-nặc thưa:
“Bạch Thế Tôn, con có sự loại suy về pháp đối với Thế Tôn. Do đó con nghĩ rằng, ‘Pháp được Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác giảng dạy thật là toàn thiện. Chúng đệ tử của Thế Tôn thật khéo thú hướng.’
Câu điệp của bản Hán có hai vế — Pháp do Như Lai giảng là toàn thiện, chúng đệ tử khéo thú hướng — trong khi câu điệp của MN89 có ba vế: Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được khéo giảng, chúng Tăng khéo hành trì. HT. Tuệ Sỹ chú câu Hán bằng chữ Pāli svākkhato bhagavato dhammo suppaṭipanno sāvakasaṅgho (chú thích 6).
1. Gia đình nói xấu nhau — tỳ-kheo hoàn tục vẫn không nói xấu Tam Bảo
Ngồi trên đô tọa (都坐; chú: Pāli atthakaraṇa, “công đường, pháp đình, chỗ xử kiện”, chú thích 7), vua thấy người trong nhà tranh chấp: mẹ với con, con với mẹ, cha với con, con với cha, cho đến anh em, chị em, thân bằng quyến thuộc; khi tranh chấp thì nói xấu lẫn nhau — người thân còn vậy, huống nữa người ngoài. Còn chư tỳ-kheo theo Thế Tôn tu phạm hạnh, nếu có vị nào gây ít nhiều tranh chấp rồi xả giới bỏ đạo, cũng không nói xấu Phật, Pháp, chúng Tăng, chỉ tự trách: “Tôi xấu xa, thiếu đức hạnh, vì không thể theo Thế Tôn trọn đời tu hành phạm hạnh.”
世尊!我坐都坐時,見母共子諍,子共母諍,父子、兄弟、姉妹、親屬展轉共諍,彼鬪諍時,母說子惡,子說母惡,父子、兄弟、姉妹、親屬相更說惡,況復他人?我見世尊弟子諸比丘眾從世尊行梵行,或有比丘少多起諍,捨戒罷道,不說佛惡,不說諸法惡,不說眾惡,但自責數:『我為惡,我為無德。所以者何?以我不能從世尊自盡形壽修行梵行。』是謂我於佛而有法靖,因此故,我作是念:『如來、無所著、正盡覺所說法善,世尊弟子眾善趣向也。』
Bạch Thế Tôn, khi con ngồi trên đô tọa, con nhìn thấy mẹ tranh chấp với con, con tranh chấp với mẹ; cha tranh chấp với con, con tranh chấp với cha; cho đến anh em, chị em, thân bằng quyến thuộc tranh chấp lẫn nhau. Trong khi tranh chấp, mẹ nói con xấu, con nói mẹ xấu, cha con, anh em, chị em, thân bằng quyến thuộc nói xấu lẫn nhau. Người thân thích trong nhà còn như thế, huống nữa là người ngoài. Còn ở đây, con thấy chúng Tỳ-kheo, đệ tử của Thế Tôn theo Thế Tôn tu hành phạm hạnh. Hoặc nếu có Tỳ-kheo nào gây ra ít nhiều tranh chấp, xả giới bỏ đạo cũng không nói xấu Phật, không nói xấu Pháp, không nói xấu chúng Tăng, mà chỉ tự chê trách rằng, ‘Tôi xấu xa, thiếu đức hạnh. Tại sao như vậy? Vì tôi không thể theo Thế Tôn trọn đời tu hành phạm hạnh.’ Đó là sự loại suy về pháp của con đối với Thế Tôn. Do đó con nghĩ rằng, ‘Pháp được Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác giảng dạy thật là toàn thiện. Chúng đệ tử của Thế Tôn thật là khéo thú hướng.’
MA 213 - T26 0795c27–0796a08 · Việt: Tuệ Sỹ (ma213/vi/tue_sy)Đây là điều riêng của bản Hán. MN89 cũng có cảnh tranh chấp (kể rộng hơn: vua với vua, Sát-đế-lị, Bà-la-môn, gia chủ với nhau, cho đến bạn với bạn), nhưng đặt ở điều thứ hai và đối lại bằng chư tỳ-kheo sống hòa hợp “như sữa với nước”; điều thứ nhất của MN89 là phạm hạnh có hạn kỳ. Hai bản đảo thứ tự hai điều đầu (Anālayo, vol. 1, p. 513–514, bảng 9.6). Anālayo nhận xét điều này của MA213 không ăn khớp lắm với điều kế tiếp, nói rằng tỳ-kheo không hoàn tục (vol. 1, p. 514).
2. Phạm hạnh chín, mười tháng — và phạm hạnh trọn đời
Có Sa-môn, Bà-la-môn khác học hành phạm hạnh ít nhiều, chín tháng hoặc mười tháng, rồi bỏ để theo sắc phục cũ, bị dục nhiễm ô, dính mắc, trói chặt, kiêu ngạo, sống hoan lạc trong dục mà không thấy tai họa, không thấy lối ra (xuất yếu). Còn chư tỳ-kheo trọn đời tu phạm hạnh, “cho đến ức số”; ngoài đây vua không thấy đâu có phạm hạnh thanh tịnh như vậy, “như mái nhà của Thế Tôn” (如世尊家).
復次,世尊!我見一沙門梵志,或九月或十月,少多學行梵行,捨隨本服,復為欲所染,染欲著欲,為欲所縛,憍慠受入,不見災患,不見出要而樂行欲。世尊!我見世尊弟子諸比丘眾,自盡形壽修行梵行,乃至億數。我於此外,不見如是清淨梵行,如世尊家,是謂我於佛而有法靖,因此故,我作是念:『如來、無所著、正盡覺所說法善,世尊弟子眾善趣向也。』
Bạch Thế Tôn, lại nữa, con thấy một Sa-môn, Bà-la-môn khác đã ít nhiều học hành phạm hạnh, hoặc chín tháng, hoặc mười tháng, nhưng lại xả bỏ để theo sắc phục trước kia, rồi lại bị nhiễm ô bởi dục vọng, nhiễm dục, dính trước dục, bị dục trói chặt, kiêu ngạo, chấp thủ, thâm nhập, sống hoan lạc trong sự hành dục mà không thấy tai họa, không thấy xuất yếu. Bạch Thế Tôn, con thấy ở đây chúng Tỳ-kheo đệ tử của Thế Tôn tự nguyện trọn đời tu tập phạm hạnh, cho đến ức số. Ngoài đây ra con không thấy ở đâu có phạm hạnh thanh tịnh như vậy, như mái nhà của Thế Tôn. Đó là sự loại suy về pháp của con đối với Thế Tôn. Do đó con nghĩ rằng, ‘Pháp của Đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác giảng dạy thật là toàn thiện. Chúng đệ tử của Thế Tôn thật là khéo thú hướng.’
MA 213 - T26 0796a08–a17 · Việt: Tuệ Sỹ (ma213/vi/tue_sy)MN89 (ở điều thứ nhất) nói phạm hạnh có hạn kỳ “mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi năm”; bản Hán nói “chín tháng hoặc mười tháng”.
3. Gầy còm vì “bệnh trắng” — và những vị tỳ-kheo ăn uống như nai rừng
Đây là điều dài nhất, gồm hai cảnh và một lập luận:
- Cảnh bên ngoài. Có Sa-môn, Bà-la-môn thân gầy còm tiều tụy, tướng mạo xấu xí, thân nổi vẩy trắng (白皰), không ai muốn nhìn. Vua đoán ba khả năng: họ không thích tu phạm hạnh, hoặc có bệnh, hoặc lén làm việc xấu. Vua đến hỏi; họ đáp: “Đại vương, đây là bệnh trắng!” (白病). HT. Tuệ Sỹ chú: Pāli bandhukarogo, “bệnh truyền nhiễm, (bệnh hoàng đản hay hoàng đậu?)” (tr. 906, chú thích 9).
- Cảnh chư tỳ-kheo. Hân hoan, đoan chánh, sắc mặt vui tươi, hình thể tịnh khiết, “vô vi vô cầu” (無為無求; chú: Pāli appossukka pannaloma, “thoải mái vô tư”, chú thích 10), sống đời tịnh hạnh, ăn uống như loài nai rừng, trọn đời tu phạm hạnh. Vua suy ra: các vị ấy hoặc đã đạt ly dục, hoặc chứng tăng thượng tâm, đối với hiện pháp lạc trú thì chứng đạt dễ dàng — HT. Tuệ Sỹ chú “tăng thượng tâm, hiện pháp lạc trụ” là bốn tĩnh lự (chú thích 12).
- Lập luận của vua. Nếu sống trong dục lạc mà được hân hoan đoan chánh, thì chính vua phải được như vậy, vì vua hưởng năm thứ diệu dục dễ dàng không khó. Nhưng người hân hoan đoan chánh lại là các vị tỳ-kheo đã ly dục, chứng tăng thượng tâm — vậy niềm vui ấy không đến từ dục lạc.
復次,世尊!我見一沙門梵志羸瘦憔悴,形色極惡,身生白皰,人不憙見,我作是念:『此諸尊何以羸瘦憔悴,形色極惡,身生白皰,人不憙見?此諸尊必不樂行梵行,或身有患,或屏處作惡,以是故諸尊羸瘦憔悴,形色極惡,身生白皰,人不憙見。』我往問彼:『諸尊何故羸瘦憔悴,形色極惡,身生白皰,人不憙見?諸尊不樂行梵行耶?為身有患耶?為屏處作惡耶?是故諸尊羸瘦憔悴,形色極惡,身生白皰,人不憙見。』彼答我曰:『大王!是白病。大王!是白病。』「世尊!我見世尊弟子諸比丘眾,樂行端正,面色悅澤,形體淨潔,無為無求,護他妻食如鹿,自盡形壽修行梵行,我見已,作是念:『此諸尊何故樂行端正,面色悅澤,形體淨潔,無為無求,護他妻食如鹿,自盡形壽修行梵行?此諸尊或得離欲,或得增上心,現法樂居,易不難得。』是故此諸尊樂行端正,面目悅澤,形體淨潔,無為無求,護他妻食如鹿,自盡形壽修行梵行。若行欲樂行端正者,我應樂行端正。何以故?我得五欲功德,易不難得。若此諸尊得離欲,得增上心,於現法樂居,易不難得,是故此諸尊樂行端正,面色悅澤,形體淨潔,無為無求,護他妻食如鹿,自盡形壽修行梵行,是謂我於佛而有法靖。因此故,我作是念:『如來、無所著、正盡覺所說法善,世尊弟子眾善趣向也。』
Lại nữa, bạch Thế Tôn, con thấy một Sa-môn, Bà-la-môn thân thể gầy còm tiều tụy, tướng mạo xấu xí, thân nổi vẩy trắng không ai muốn nhìn. Con tự nghĩ rằng, ‘Các Tôn giả này vì sao thân thể lại gầy còm, tiều tụy, tướng mạo xấu xí, thân nổi vẩy trắng, không ai muốn nhìn. Các Tôn giả này ắt không tu phạm hạnh, hoặc vì bệnh hoạn hay lén lút làm việc xấu xa, cho nên các Tôn giả này thân hình gầy còm, tiều tụy, hình sắc xấu xa, mình nổi vẩy trắng không ai muốn nhìn.’ Con đến hỏi họ, ‘Các Tôn giả vì sao thân hình tiều tụy gầy còm, tướng mạo xấu xí, mình nổi vẩy trắng, không ai muốn nhìn? Có phải các Tôn giả không thích tu hành phạm hạnh chăng? Hoặc vì bệnh hoạn hay lén lút làm việc xấu xa, cho nên các Tôn giả thân thể gầy còm tiều tụy?’ Những vị ấy đáp, ‘Đại vương, đây là bệnh trắng! Đại vương, đây là bệnh trắng.’
Bạch Thế Tôn, con thấy chúng Tỳ-kheo đệ tử của Thế Tôn, sống hân hoan đoan chánh, sắc mặt vui tươi, hình thể tịnh khiết, vô vi vô cầu sống đời tịnh hạnh, ăn uống như loài nai rừng, tự mình trọn đời tu hành phạm hạnh. Thấy vậy, con nghĩ rằng, ‘Các Tôn giả này vì sao được hân hoan, đoan chánh, sắc mặt vui tươi hình thể tịnh, khiết, vô vi, vô cầu, sống đời tịnh hạnh, ăn uống như loài nai rừng? Tự mình trọn đời tu hành phạm hạnh? Các Tôn giả hoặc đã đạt đến ly dục, hoặc chứng đắc tăng thượng tâm, đối với hiện pháp lạc trụ chứng đạt dễ dàng không khó. Cho nên các Tôn giả này mới được hân hoan, đoan chánh, sắc mặt vui tươi, hình thể tịnh, khiết, vô vi, vô cầu, sống đời tịnh hạnh, ăn uống như loài nai rằng, tự mình trọn đời tu hành phạm hạnh. Nếu sống trong dục lạc mà được hân hoan, đoan chánh, thì chính ta phải được đời sống hân hoan đoan chánh ấy. Vì sao? Vì ta hưởng thụ năm thứ diệu dục, một cách dễ dàng không khó. Nhưng các Tôn giả này đạt đến sự ly dục, chứng đắc tăng thượng tâm, đối với hiện pháp lạc trú thành tựu dễ dàng không khó. Vì vậy cho nên các Tôn giả này sống hân hoan, đoan chánh, sắc mặt vui tươi, hình thể tịnh khiết, vô vi vô cầu, sống đời tịnh hạnh, ăn uống như loài nai rừng, tự mình trọn đời tu hành phạm hạnh. Đó là sự loại suy về pháp của con đối với Thế Tôn, do đó con nghĩ rằng, ‘Pháp được Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác giảng dạy thật là toàn thiện. Chúng đệ tử của Thế Tôn thật là khéo thú hướng.’
MA 213 - T26 0796a17–0796b15 · Việt: Tuệ Sỹ (ma213/vi/tue_sy)Lưu ý bản dịch: (1) “ăn uống như loài nai rừng” dịch từ cụm Hán 護他妻食如鹿, nguyên chữ có thêm 護他妻 (“giữ gìn [đối với] vợ người khác”) mà bản Việt không dịch. HT. Tuệ Sỹ chú cụm này ứng với Pāli paradavutte migabhūtena, “sống do sự hỗ trợ của người khác, (…) như loài nai” (chú thích 11); Anālayo cho rằng dịch giả Hán có thể đã đọc lầm parada- thành paradāra (“vợ người khác”) (vol. 1, p. 514, chú 346). (2) Bản Việt có một chỗ gõ “ăn uống như loài nai rằng” — lỗi gõ của “nai rừng”; khối trích giữ nguyên. (3) Lập luận “nếu sống trong dục lạc mà được hân hoan…” không có trong MN89.
4. Người trí đến vấn nạn — không dám hỏi một lời
Bốn điều 4–7 dùng chung một chân dung: một Sa-môn, Bà-la-môn thông minh trí tuệ, tự xưng thông minh trí tuệ, bác văn quyết định, thuộc làu các kinh, chế phục cường địch, đàm luận thông suốt, danh tiếng đồn khắp, đi đâu cũng đả phá tông chỉ người khác để lập luận điểm của mình; họ soạn sẵn câu hỏi hai đầu (“nếu ông trả lời được thế này, ta vặn hỏi thế kia; nếu ông không trả lời được, ta cũng vặn hỏi rồi bỏ đi”). Nghe Thế Tôn ở làng nọ, họ tìm đến. Bốn điều chỉ khác nhau ở kết cục. Ở điều 4: gặp Phật rồi họ chẳng dám hỏi lời nào, huống nữa là vấn nạn. Khối dưới trích trọn chân dung một lần; các điều 5–7 chỉ trích phần kết cục.
復次,世尊!我見一沙門梵志聰明智慧,自稱聰明智慧,博聞決定,諳識諸經,制伏強敵,談論覺了,名德流布,一切世間無不聞知,所遊至處壞諸見宗,輙自立論,而作是說:『我等往至沙門瞿曇所,問如是如是事,若能答者,當難詰彼;若不能答,亦難詰已,捨之而去。』彼聞世尊遊某村邑,往至佛所,尚不敢問於世尊事,況復欲難詰耶?是謂我於佛而有法靖,因此故,我作是念:『如來、無所著、正盡覺所說法善,世尊弟子眾善趣向也。』
Lại nữa, bạch Thế Tôn, con thấy một Sa-môn, Bà-la-môn thông minh trí tuệ, tự xưng mình thông minh trí tuệ, bác văn quyết định, thuộc làu các kinh, chế phục cường dịch, đàm luận thông suốt, danh tiếng đồn khắp, mọi người ai cũng đều nghe biết, đi đến nơi nào thảy đều đả phá tông chủ của người mà tự lập luận điểm của mình, và nói rằng, ‘Chúng ta hãy đến chỗ Sa-môn Cù-đàm, mà hỏi ông những điều như vầy, như vầy. Nếu ông trả lời được như thế này, thì ta vặn hỏi thế kia. Nếu ông không trả lời được thì ta cũng vặn hỏi rồi bỏ đi.’ Họ nghe Thế Tôn trú tại làng nọ, vị này liền tìm đến, nhưng khi gặp Phật thì lại chẳng dám hỏi lời nào huống nữa là vấn nạn. Đó là sự loại suy về pháp của con đối với Thế Tôn. Do đó con nghĩ rằng, ‘Pháp được Như Lai Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác giảng dạy thật là toàn thiện. Chúng đệ tử của Thế Tôn thật là khéo thú hướng.’
MA 213 - T26 0796b15–b25 · Việt: Tuệ Sỹ (ma213/vi/tue_sy)Lưu ý bản dịch: ở điều này bản Việt gõ “chế phục cường dịch”; ba điều sau đều là “cường địch” (Hán 強敵).
5. Hỏi xong, hoan hỷ, nhiễu ba vòng rồi lui
Người trí hỏi, được Thế Tôn trả lời rõ ràng; nghe xong vui mừng hớn hở, cúi đầu lễ chân Phật, nhiễu quanh ba vòng rồi lui.
彼聞世尊遊某村邑,往至佛所,問世尊事,世尊為答,彼聞答已,便得歡喜,稽首佛足,繞三匝而去,是謂我於佛而有法靖。因此故,我作是念:『如來、無所著、正盡覺所說法善,世尊弟子眾善趣向也。』
Họ nghe Thế Tôn trú tại làng nọ, vị này liền đến tìm hỏi, được Thế Tôn trả lời rõ ràng. Nghe xong Sa-môn, Bà-la-môn này vui mừng hớn hở, cúi đầu lễ sát chân Phật, nhiễu quanh ba vòng rồi lui. Đó là sự loại suy về pháp của con đối với Thế Tôn. Do đó, con nghĩ rằng, ‘Pháp được Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác giảng dạy thật là toàn thiện. Chúng đệ tử của Thế Tôn thật là khéo thú hướng.’
MA 213 - T26 0796c02–c07 · Việt: Tuệ Sỹ (ma213/vi/tue_sy)6. Quy y, làm ưu-bà-tắc trọn đời
Người trí hỏi, được trả lời rõ ràng, vui mừng phấn khởi, tự quy y Phật, Pháp và chúng Tỳ-kheo, được Thế Tôn nhận làm Ưu-bà-tắc, quy y trọn đời cho đến tận mạng.
彼聞世尊遊某村邑,往至佛所,問世尊事,世尊為答,彼聞答已,便得歡喜,即自歸佛、法及比丘眾,世尊受彼為優婆塞,終身自歸,乃至命盡,是謂我於佛而有法靖。因此故,我作是念:『如來、無所著、正盡覺所說法善,世尊弟子眾善趣向也。』
Họ nghe Thế Tôn trú tại làng nọ, vị này liền đến hỏi, được Thế Tôn trả lời rõ ràng. Nghe xong, Sa-môn, Bà-la-môn này liền vui mừng phấn khởi, liền tự quy y Phật, Pháp và Chúng Tỳ-kheo; được Thế Tôn thọ nhận làm Ưu-bà-tắc; trọn đời quy y cho đến tận mạng. Đó là sự loại suy về pháp của con đối với Thế Tôn. Do đó, con nghĩ rằng, ‘Pháp được Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác giảng dạy thật là toàn thiện; chúng đệ tử của Thế Tôn thật là khéo thú hướng.’
MA 213 - T26 0796c13–c18 · Việt: Tuệ Sỹ (ma213/vi/tue_sy)7. Xuất gia và chứng A-la-hán
Người trí hỏi, được trả lời, vui mừng phấn khởi, xin xuất gia, thọ giới Cụ túc, được Thế Tôn độ cho; sống cô độc nơi xa vắng, tâm không buông lung, tinh cần tu tập, ngay trong đời hiện tại tự chứng biết “sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa”, chứng A-la-hán. Rồi họ nói: “Này chư Hiền, trước kia tôi gần bị suy vong, gần bị hủy diệt” (我本幾了幾失) — trước kia không phải Sa-môn mà tự xưng Sa-môn, không phải phạm hạnh mà tự xưng phạm hạnh, không phải A-la-hán mà tự xưng A-la-hán; bây giờ mới thực là Sa-môn, thực là phạm hạnh, thực là A-la-hán.
彼聞世尊遊某村邑,往至佛所,問世尊事,世尊為答。彼聞答已,便得歡喜,即從世尊求出家學,而受具足,得比丘法,佛便度彼而授具足,得比丘法。「若彼諸尊出家學道而受具足,得比丘法已,獨住遠離,心無放逸,修行精勤。彼獨住遠離,心無放逸,修行精勤已,若族姓子所為,剃除鬚髮,著袈裟衣,至信、捨家、無家、學道者,唯無上梵行訖,於現法中自知自覺,自作證成就遊,生已盡,梵行已立,所作已辦,不更受有,知如真。若彼諸尊知法已,乃至得阿羅訶,得阿羅訶已,便作是念:『諸賢!我本幾了幾失?所以者何?我本非沙門稱沙門,非梵行稱梵行,非阿羅訶稱阿羅訶,我等今是沙門,是梵行,是阿羅訶。』是謂我於佛而有法靖。因此故,我作是念:『如來、無所著、正盡覺所說法善,世尊弟子眾善趣向也。』
Họ nghe Thế Tôn trú tại làng nọ, vị này liền tìm đến hỏi, được Thế Tôn trả lời rõ ràng. Nghe xong, Sa-môn, Bà-la-môn này vui mừng phấn khởi bèn theo Thế Tôn cầu xin xuất gia thọ giới Cụ túc, đắc pháp Tỳ-kheo. Thế Tôn bèn độ cho và truyền trao giới Cụ túc, đắc pháp Tỳ-kheo. Khi các Tôn giả ấy xuất gia học đạo, thọ giới Cụ túc, đắc pháp Tỳ-kheo rồi, sống cô độc một nơi xa vắng, tâm không buông lung, tinh cần tu tập. Vị ấy sau khi sống cô độc tại một nơi xa vắng, tâm không phóng dật, tinh cần tu tập, đạt đến mục đích mà một thiện gia nam tử cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo, là duy chỉ để thành tựu vô thượng phạm hạnh, ngay trong đời hiện tại mà tự tri, tự giác, tự thân chứng ngộ an trú, biết một cách như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa.’ Khi các Tôn giả ấy biết pháp rồi, cho đến chứng đắc A-la-hán; chứng đắc A-la-hán rồi, bèn nói rằng, ‘Này chư Hiền, trước kia tôi gần bị suy vong gần bị hủy diệt. Vì sao vậy? Trước kia tôi không phải là Sa-môn tự xưng là Sa-môn; không phải phạm hạnh tự xưng phạm hạnh, không phải A-la-hán tự xưng A-la-hán. Bấy giờ chúng ta mới thực sự là Sa-môn, thực sự là phạm hạnh, thực sự là A-la-hán.’ Đó là sự loại suy về pháp của con đối với Thế Tôn. Do đó, con nghĩ rằng, ‘Pháp được Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác giảng dạy thật là toàn thiện. Chúng đệ tử của Thế Tôn thật là khéo thú hướng.’
MA 213 - T26 0796c25–0797a12 · Việt: Tuệ Sỹ (ma213/vi/tue_sy)Bộ ba tự xưng của bản Hán là Sa-môn – phạm hạnh (梵行) – A-la-hán; ở MN89 là Sa-môn – Bà-la-môn – A-la-hán.
8. Công đường ồn ào — hội chúng không dao gậy
Vua tự do trong nước mình, muốn giết kẻ không lỗi thì ra lệnh giết, muốn giết kẻ có lỗi cũng ra lệnh giết; vậy mà ngồi ở đô tọa, vua vẫn không được tự do nói “các khanh hãy giữ im, không ai hỏi các khanh, chỉ ta mới quyết đoán được việc này” — người ta vẫn bàn cãi chuyện khác, không đợi người trước nói xong. Còn khi Thế Tôn thuyết pháp với đại chúng vây quanh, có một người ngủ gật mà ngáy (鼾眠作聲); một người khác nhắc: “Ngài chớ ngáy gây tiếng động. Ngài không muốn nghe pháp được Thế Tôn nói như cam lồ chăng?” Người ấy im ngay. Vua nghĩ: Như Lai là Bậc Điều Ngự đại chúng, thật kỳ diệu, vì Ngài không dùng dao, dùng gậy (無刀杖) mà tất cả đều đúng như pháp, an ổn khoái lạc.
復次,世尊!我自若居國,無過者令殺,有過者令殺,然在都坐,我故不得作如是說:『卿等並住,無人問卿事,人問我事,卿等不能斷此事,我能斷此事。』於其中間競論餘事,不待前論訖,我數見世尊大眾圍繞說法,彼中一人鼾眠作聲,有人語彼:『君莫鼾眠作聲,君不用聞世尊說法如甘露耶?』彼人聞已,即便默然。我作是念:『如來、無所著、正盡覺、眾調御士,甚奇!甚特!所以者何?以無刀杖,皆自如法,安隱快樂。』是謂我於佛而有法靖。因此故,我作是念:『如來、無所著、正盡覺所說法善,世尊弟子眾善趣向也。』
Lại nữa, bạch Thế Tôn, con tự do trong quốc thổ của mình, muốn giết kẻ không lỗi lầm thì ra lệnh giết, muốn giết kẻ có lỗi lầm ra lệnh giết; nhưng khi con ngồi trên đô tọa, con vẫn không được tự do mà nói như vầy, ‘Các khanh hãy giữ im. Không ai hỏi việc nơi các khanh, mà chính là hỏi việc nơi ta. Các khanh không thể quyết đoán việc này, chỉ có ta mới có thể quyết đoán việc này.’ Nhưng ở trong đó vẫn có người bàn cãi việc khác, không đợi người trước nói xong. Con đã nhiều lần thấy Thế Tôn thuyết pháp với đại chúng vây quanh. Bấy giờ có một người ngủ gật mà ngáy, thấy gây tiếng động, một người khác bèn nói rằng, ‘Ngài chớ có ngáy gây tiếng động. Ngài không muốn nghe pháp được Thế Tôn nói như cam lồ chăng?’ Người ấy nghe rồi tức thì im lặng. Con nghĩ rằng, ‘Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, là Bậc Điều Ngự đại chúng. Thật kỳ diệu thay! Thật hy hữu thay! Vì sao vậy? Vì Ngài không cần dùng dao, dùng gậy, nhưng tất cả đều đúng như pháp mà được an ổn khoái lạc.’ Đó là sự loại suy về pháp của con đối với Thế Tôn. Do đó con nghĩ rằng, ‘Pháp được Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, giảng dạy thật là toàn thiện. Chúng đệ tử của Thế Tôn thật là khéo thú hướng.’
MA 213 - T26 0797a12–a24 · Việt: Tuệ Sỹ (ma213/vi/tue_sy)Ở MN89, người trong hội chúng chỉ ho và bị bạn đồng tu lấy đầu gối hích nhẹ; bản Hán là người ngáy và được nhắc bằng lời. Anālayo ghi thêm: một dị bản Hán (ký hiệu 聖) chép là “ngủ chảy nước dãi” (口汙眠作聲) (vol. 1, p. 515, chú 348).
9. Hai viên thần tá sống nhờ vua mà kính Phật hơn
Hai viên thần tá Tiên Dư (仙餘) và Túc Cựu (宿舊) — HT. Tuệ Sỹ chú: Pāli Isidatta, Purāṇa (tr. 909, chú thích 13) — được vua ban tiền tài, thường được vua khen, đời sống do nơi vua; vậy mà vua không thể khiến họ hạ ý cung kính, cúng dường, phụng sự mình như họ làm với Thế Tôn.
復次,世尊!我於仙餘及宿舊二臣出錢財賜,亦常稱譽,彼命由我,然不能令彼仙餘及宿舊二臣下意恭敬、尊重、供養、奉事於我,如為世尊下意恭敬、尊重、供養、奉事也,是謂我於佛而有法靖。因此故,我作是念:『如來、無所著、正盡覺所說法善,世尊弟子眾善趣向也。』
Lại nữa, bạch Thế Tôn, hai viên thần tá Tiên Dư và Túc Cựu được con ban phát tiền tài, và con thường khen ngợi họ; đời sống họ do nơi con. Nhưng con không thể khiến cho hai vị thần tá này hạ ý cung kính, cúng dường, phụng sự con như họ hạ ý cung kính tôn trọng cúng dường phụng sự Thế Tôn. Đó là sự loại suy về pháp của con đối với Thế Tôn. Do đó con nghĩ rằng, ‘Pháp được Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác giảng dạy thật là toàn thiện. Chúng đệ tử của Thế Tôn thật là khéo thú hướng.’
MA 213 - T26 0797a24–0797b01 · Việt: Tuệ Sỹ (ma213/vi/tue_sy)10. Một đêm thử lòng: đầu hướng về Phật, chân hướng về vua
Thuở trước, trong một lần xuất chinh, vua ngủ đêm trong một ngôi nhà nhỏ và muốn thử xem hai viên thần tá ngủ quay đầu về phía vua hay về phía Thế Tôn. Đầu hôm, hai ông ngồi kiết già, im lặng tĩnh tọa; đến nửa đêm mới nằm, đầu hướng về phía biết Thế Tôn đang ở, chân quay về phía vua. Vua nghĩ: hai người này không quan tâm đến sự thù thắng trước mắt, nên không kính vua như kính Thế Tôn.
復次,世尊!我昔出仙,宿一小屋中,欲試仙餘、宿舊二臣,知彼頭向何處眠耶?為向我,為向世尊?於是,仙餘、宿舊二臣則於初夜結跏趺坐,默然燕坐,至中夜聞世尊在某方處,便以頭向彼,以足向我。我見已,作是念:『此仙餘及宿舊二臣不在現勝事,是故彼不下意恭敬、尊重、供養、奉事於我,如為世尊下意恭敬、尊重、供養、奉事也。』是謂我於佛而有法靖。因此故,我作是念:『如來、無所著、正盡覺所說法善,世尊弟子眾善趣向也。』
Lại nữa, bạch Thế Tôn, thuở xưa trong lúc xuất chinh, ngủ đêm trong một ngôi nhà nhỏ, con muốn thử hai viên thần tá Tiên Dư và Túc Cựu khi ngủ quay đầu về phía nào, quay về phía con hay quay về phía Thế Tôn ở. Rồi hai vị thần tá Tiên Dư và Túc Cựu, vào lúc đầu hôm, ngồi kiết già im lặng tĩnh tọa. Đến nửa hôm nọ nằm ngủ, đầu hướng về phía mà họ biết Thế Tôn đang ở, còn chân thì quay về phía con. Thấy thế con suy nghĩ, ‘Hai viên thần tá Tiên Dư và Túc Cựu này không quan tâm đến sự thù thắng trước mắt, cho nên họ không hạ ý cung kính tôn trọng cúng dường phụng sự ta như hạ ý cung kính tôn trọng, cúng dường phụng sự Thế Tôn.’ Đó là sự loại suy về pháp của con đối với Thế Tôn. Do đó con nghĩ rằng, ‘Pháp được Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, giảng dạy thật là toàn thiện. Chúng đệ tử của Thế Tôn thật là khéo thú hướng.’
MA 213 - T26 0797b02–b11 · Việt: Tuệ Sỹ (ma213/vi/tue_sy)MN89 gộp hai điều 9–10 làm một và nói hai vị quan bàn chuyện pháp đến khuya; bản Hán tách thành hai điều và nói họ tĩnh tọa trong im lặng. (Chữ Hán ở đây chép 出仙; bản Việt dịch là “xuất chinh”, hợp với MN89 nói vua đang hành quân.)
11. Quốc vương và Pháp vương, cùng tám mươi tuổi
Điều cuối không phải điều vua quan sát được mà là quan hệ giữa vua và Phật, kê thành bốn cặp: vua là Quốc vương, Thế Tôn là Pháp vương; vua thuộc dòng Sát-lị, Thế Tôn cũng vậy; vua là người nước Câu-tát-la, Thế Tôn cũng vậy; vua tám mươi tuổi, Thế Tôn cũng tám mươi tuổi. Vì vậy vua có thể trọn đời hạ ý cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự Thế Tôn. Điều này không kết bằng câu điệp.
復次,世尊!我亦國王,世尊亦法王,我亦剎利,世尊亦剎利,我亦拘薩羅,世尊亦拘薩羅,我年八十,世尊亦八十。世尊以此事故,我堪耐為世尊盡形壽,下意恭敬、尊重、供養、奉事。
Lại nữa, bạch Thế Tôn, con là Quốc vương, Thế Tôn cũng là Pháp vương. Con thuộc dòng Sát-lị, Thế Tôn cũng thuộc dòng Sát-lị. Con là người nước Câu-tát-la, Thế Tôn cũng người nước Câu-tát-la. Con đã tám mươi tuổi, Thế Tôn cũng tám mươi tuổi. Con có thể trọn đời hạ ý cung kính, tôn trọng, cúng dường phụng sự Thế Tôn.
MA 213 - T26 0797b12–b16 · Việt: Tuệ Sỹ (ma213/vi/tue_sy)Cặp “Quốc vương – Pháp vương” là của riêng bản Hán (MN89 chỉ có ba cặp còn lại). Anālayo nhận xét cặp này giúp hiểu lý do kính Phật: cùng gốc gác, cùng tuổi có thể sinh tình bạn, nhưng một vị vua của đất nước gặp một vị vua của Pháp thì có lý do để cung kính (vol. 1, p. 518).
Bảng tổng hợp mười một pháp loại suy
| # | Cảnh bên ngoài / nơi đời vua | Điều vua thấy nơi Tăng / nơi người theo Phật | Đoạn |
|---|---|---|---|
| 1 | gia đình (mẹ, con, cha, anh em, chị em, thân quyến) tranh chấp, nói xấu nhau | tỳ-kheo dù xả giới hoàn tục cũng không nói xấu Phật, Pháp, Tăng, chỉ tự trách | ¶22 |
| 2 | Sa-môn, Bà-la-môn tu 9–10 tháng rồi bỏ, đắm dục | tỳ-kheo tu trọn đời, “cho đến ức số” | ¶23 |
| 3 | Sa-môn, Bà-la-môn gầy, vẩy trắng: “bệnh trắng” | tỳ-kheo tươi vui, ăn uống như nai rừng; niềm vui không do dục lạc | ¶24–25 |
| 4 | người trí soạn câu hỏi vấn nạn | không dám hỏi lời nào | ¶26 |
| 5 | người trí đến hỏi | được đáp, hoan hỷ, nhiễu ba vòng rồi lui | ¶27 |
| 6 | người trí đến hỏi | quy y, làm ưu-bà-tắc trọn đời | ¶28 |
| 7 | người trí đến hỏi | xuất gia, chứng A-la-hán | ¶29 |
| 8 | công đường: vua có quyền giết mà không bảo được ai im | người ngáy được nhắc thì im; không dao gậy | ¶30 |
| 9 | Tiên Dư, Túc Cựu sống nhờ vua | kính Phật hơn kính vua | ¶31 |
| 10 | đêm xuất chinh, vua thử hai thần tá | tĩnh tọa đầu hôm; nằm đầu về Phật, chân về vua | ¶32 |
| 11 | — | Quốc vương / Pháp vương, Sát-lị, Câu-tát-la, 80 tuổi → trọn đời cung kính (không câu điệp) | ¶33 |
Vua từ biệt
Nói xong, vua thưa: “Hôm nay có nhiều công việc, con xin phép lui về.” Thế Tôn bảo: “Đại vương, mong Đại vương tự biết đúng thời.” Vua nghe lời Phật dạy, khéo ghi nhớ (善受持誦), đứng dậy cúi đầu lễ chân Phật, nhiễu quanh ba vòng rồi ra về.
世尊!我今多事,欲還請辭。」世尊告曰:「大王!自知時。」於是,拘薩羅王波斯匿聞佛所說,善受持誦,即從坐起,稽首佛足,繞三匝而去。
Bạch Thế Tôn, hôm nay có nhiều công việc, con xin phép lui về.”
Đức Thế Tôn bảo:
“Đại vương, mong Đại vương tự biết đúng thời.”
Rồi thì Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la, sau khi nghe những lời Phật dạy, khéo léo ghi nhớ, bèn rời chỗ ngồi đứng dậy, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu quanh ba vòng rồi lui ra về.
A-nan triệu tập chư Tăng ở rừng Di-lũ-ly
Lúc ấy Tôn giả A-nan đứng hầu sau Phật. Thế Tôn quay lại (迴顧) bảo A-nan tập họp tất cả tỳ-kheo đang sống ở rừng Di-lũ-ly về giảng đường. A-nan làm xong, trở lại bạch Phật: chư Tăng đã tụ tập, xin Thế Tôn tự biết thời. Thế Tôn cùng A-nan đến giảng đường, trải chỗ ngồi trước đại chúng.
爾時,尊者阿難住世尊後,執拂侍佛。於是,世尊迴顧告曰:「阿難!若有比丘依彌婁離林住者,令彼一切集在講堂。」於是,尊者阿難受佛教已,若諸比丘依彌婁離林住者,令彼一切集在講堂,還詣佛所,白曰:「世尊!若有比丘依彌婁離林住者,彼一切已集講堂,唯願世尊自當知時。」於是,世尊將尊者阿難往至講堂比丘眾前,敷座而坐,
Lúc đó ngài A-nan cầm quạt đứng hầu sau Phật. Thế Tôn bảo:
“A-nan, nếu có Tỳ-kheo nào đang sống ở rừng Di-lũ-ly này, hãy tập họp tất cả về giảng đường.”
Rồi thì, Tôn giả A-nan sau khi vâng lời Phật dạy, tập họp tất cả Tỳ-kheo đang sống trong rừng Di-lũ-ly tất cả cùng vào giảng đường. Rồi trở lại bạch Phật:
“Bạch Thế Tôn, những Tỳ-kheo tại rừng Di-lũ-ly này, tất cả đều đã tụ tập tại giảng đường này rồi, mong Thế Tôn tự biết thời.”
Bấy giờ Thế Tôn cùng Tôn giả A-nan đi đến giảng đường. Đến nơi Ngài trải chỗ ngồi trước đại chúng và nói:
Lưu ý bản dịch: bản Việt ghi A-nan “cầm quạt”; Hán là 執拂 — cầm phất (phất trần, cây phẩy bụi đuổi ruồi), cùng chữ 拂 với “phất cán ngọc” trong năm nghi trượng của vua. Bản Việt cũng không dịch chữ 迴顧 (“quay lại nhìn”).
Kết kinh
Trước chư Tăng, Thế Tôn kể lại: hôm nay vua Ba-tư-nặc đã nói kinh “Pháp Trang Nghiêm” trước Ta, rồi đứng dậy lễ chân Ta, nhiễu ba vòng mà về. Ngài dạy các tỳ-kheo thọ trì kinh ấy, khéo tụng đọc, vì kinh Pháp Trang Nghiêm như pháp, như nghĩa, là căn bản của phạm hạnh, dẫn đến trí tuệ, dẫn đến giác ngộ, dẫn đến Niết-bàn; thiện gia nam tử nào đã chí tín xuất gia học đạo cũng nên thọ trì, khéo tụng tập kinh này. Các tỳ-kheo hoan hỷ phụng hành.
告曰:「比丘!今拘薩羅王波斯匿在我前說此法莊嚴經已,即從座起,稽首我足,繞三匝而去。比丘!汝等當受持此法莊嚴經,善誦善習。所以者何?比丘!此法莊嚴經,如義如法,為梵行本,趣智趣覺,趣至涅槃。若族姓子至信、捨家、無家、學道者,亦當受持,當誦當習此法莊嚴經。」佛說如是。彼諸比丘聞佛所說,歡喜奉行。
“Này các Tỳ-kheo, hôm nay Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la đã đứng trước Ta nói kinh ‘Pháp Trang Nghiêm’ xong, liền đứng dậy cúi đầu đảnh lễ dưới chân Ta, nhiễu quanh ba vòng rồi lui về. Này các Tỳ-kheo, các ngươi nên thọ trì kinh Pháp Trang Nghiêm đó, hãy khéo léo tụng đọc. Vì sao vậy? Này các Tỳ-kheo, vì kinh Pháp Trang Nghiêm này là như pháp, là như nghĩa, là căn bản của phạm hạnh, dẫn đến trí tuệ, dẫn đến giác ngộ, dẫn đến Niết-bàn. Nếu một thiện gia nam tử đã chí tín lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo, hãy nên thọ trì, hãy khéo léo tụng tập kinh Pháp Trang Nghiêm này.”
Phật thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Về tên kinh: HT. Tuệ Sỹ chú 法莊嚴 (Pháp trang nghiêm) là Pāli dhammacetiya, “linh miếu Pháp, tháp thờ phụng Chánh pháp” (tr. 911, chú thích 14). Bản Việt dịch 如義如法 thành “như pháp, như nghĩa” — thứ tự Hán là nghĩa trước, pháp sau.
Giải thích
1. Niềm tin có lý do. Vua Ba-tư-nặc không nói về thần thông hay giáo lý cao siêu. Mười điều đầu đều là những gì người ngoài nhìn thấy được: người tu đã hoàn tục mà vẫn không nói xấu Phật, Pháp, Tăng, người tu giữ phạm hạnh đến trọn đời, gương mặt tươi vui, người trí quy phục, hội chúng im lặng nghe pháp, quan hầu của vua kính Phật hơn kính vua. Từ những quả thấy được ấy, vua suy ra điều không thấy được: Pháp do Như Lai giảng là toàn thiện. Đó là nghĩa của 法靖 mà HT. Tuệ Sỹ chú là “sự suy diễn dựa trên những chứng nghiệm thực tế”.
2. Niềm vui không đến từ dục lạc. Lập luận ở điều 3 là phần riêng đáng chú ý của bản Hán. Vua hưởng năm thứ diệu dục “dễ dàng không khó”, vậy mà người có sắc mặt vui tươi, thân thể tịnh khiết lại là những vị tỳ-kheo đã lìa dục và chứng các tầng thiền. Vua tự lấy mình làm bằng chứng phản đề: nếu sống trong dục lạc mà được hân hoan đoan chánh, thì chính vua phải được như thế.
3. Bốn kết cục của người trí. Các điều 4–7 có thể đọc như những bậc tăng dần (kinh chỉ kể lần lượt, không tự nói vậy): không dám hỏi → hỏi xong hoan hỷ ra về → quy y làm cư sĩ → xuất gia chứng A-la-hán. Ở kết cục đầu, người đến để bắt bẻ không dám mở lời; ở ba kết cục sau, họ lại thành người được lợi, ở các mức khác nhau. Lời của các vị A-la-hán ở điều 7 — “trước kia tôi gần bị suy vong” — cho thấy họ tự nhận ra danh xưng cũ của mình là rỗng.
4. Quyền lực và Pháp. Điều 8 đặt hai thứ cạnh nhau: vua có quyền giết người mà không khiến được triều đình im lặng nghe mình; trong hội chúng của Thế Tôn, không dao không gậy, chỉ một lời nhắc của một người trong hội chúng là đủ làm người ngáy im. Điều 9–10 nói cùng ý từ phía khác: tiền tài và danh vọng vua ban không mua được lòng kính của hai viên thần tá. Đến điều 11, vua tự đặt mình làm “Quốc vương” cạnh “Pháp vương” — và chọn trọn đời cung kính.
5. Vì sao Thế Tôn dặn thọ trì lời một vị vua. Bản Hán nhấn mạnh việc này hơn MN89: Thế Tôn không chỉ nói với những vị có mặt mà sai A-nan tập họp tất cả tỳ-kheo trong rừng, rồi nêu lý do cụ thể — kinh này như pháp, như nghĩa, là căn bản của phạm hạnh, dẫn đến trí tuệ, giác ngộ, Niết-bàn. Có thể hiểu: qua lời vua, chư Tăng nghe được người đời đang nhìn mình bằng những tiêu chuẩn nào; giữ được những điều ấy thì chính đời sống của Tăng trở thành lý do để người khác tin Pháp.
Đối chiếu các tạng
Theo danh mục tương đương của SuttaCentral (API parallels, tra ngày 18/10/2026), MA213 có các bản song song: Pāḷi MN89 (Dhammacetiya Sutta) và AN10.30 (Dutiyakosalasutta), Hán EA38.10 (Tăng nhất A-hàm), T1451.8 (Luật Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ, Tạp sự) và bản Tạng D6 (Vinaya-kṣudraka-vastu). Bài này chỉ đối chiếu chi tiết với MN89 (bài song tạng trên site); EA38.10, T1451.8, D6 chưa đối chiếu (không có trong kho corpus của site) — các nhận xét về chúng dưới đây lấy từ Anālayo, thứ cấp. Riêng AN10.30, Anālayo nhận xét nó khác MN89 nhiều đến mức khó xem là ghi chép của cùng một sự kiện (vol. 1, p. 519); cũng theo Anālayo, ở AN10.30 vua đến gặp Phật sau một trận đánh và không nêu lý do nào trùng với MN89 (p. 511–512, bảng 9.6); bài này không xem AN10.30 là song tạng đầy đủ.
| Điểm | MA213 (Hán, Tuệ Sỹ dịch) | MN89 (Pāḷi) |
|---|---|---|
| Nơi Phật trú | Di-lũ-ly, đô ấp họ Thích | Medāḷupa, thị trấn họ Sakya |
| Vua đang ở | thị trấn “Thành” | Nagaraka |
| Người đi cùng | Trường Tác | Dīgha Kārāyana |
| Gốc cây | “tại chỗ này ta đã nhiều lần đến thăm” | giống những nơi từng đảnh lễ (theo Chú giải, Sujato) |
| Khoảng cách | 3 cu-lô-xá | 3 do-tuần |
| Chỗ Phật ở | nhà lớn hướng Đông, cửa sổ mở, cửa lớn đóng | trú xá cửa đóng |
| Vật vua trao | năm nghi trượng: kiếm, lọng, tràng hoa, phất cán ngọc, giày thêu | kiếm và khăn |
| Đảnh lễ | lễ chân, “ba lần” xưng tên (chép 2), Phật đáp xác nhận | hôn và xoa chân, xưng tên 2 lần |
| Câu hỏi | thấy nơi Ta nghĩa lợi gì | vì sao kính “thân này” tột bậc |
| Câu điệp | Pháp toàn thiện · đệ tử khéo thú hướng | Phật · Pháp · Tăng |
| Hai điều đầu | (1) tỳ-kheo hoàn tục không nói xấu Tam Bảo · (2) phạm hạnh trọn đời | (1) phạm hạnh trọn đời · (2) tỳ-kheo hòa hợp như sữa với nước |
| Phạm hạnh bên ngoài | 9–10 tháng | 10–40 năm |
| Người gầy yếu | “bệnh trắng” | “bệnh dòng họ” |
| Tỳ-kheo an vui | ăn uống như nai rừng; thêm lập luận về dục lạc | tâm như nai rừng |
| Người trí | Sa-môn, Bà-la-môn; 4 kết cục | Sát-đế-lị, Bà-la-môn, gia chủ, Sa-môn |
| Tự xưng | Sa-môn · phạm hạnh · A-la-hán | Sa-môn · Bà-la-môn · A-la-hán |
| Hội chúng | người ngủ ngáy, được nhắc bằng lời | người ho, bị hích đầu gối |
| Hai vị quan | 2 điều; đầu hôm tĩnh tọa | 1 điều; bàn pháp đến khuya |
| Điều cuối | thêm Quốc vương – Pháp vương | Sát-đế-lị · Kosala · 80 tuổi |
| Kết | A-nan cầm phất, triệu tập Tăng; thêm “dẫn đến trí tuệ, giác ngộ, Niết-bàn” | Phật nói ngay với tỳ-kheo |
Phần cốt lõi hai bản giống nhau: một vị vua tám mươi tuổi cởi bỏ dấu hiệu vương quyền để vào gặp Phật, trình bày niềm tin bằng những điều thấy tận mắt nơi Tăng, kết bằng sự giống nhau giữa vua và Phật; Thế Tôn dặn chư Tăng thọ trì những lời ấy. Khác nhau ở cách sắp và nội dung từng điều: theo bảng so sánh của Anālayo, điều “hòa hợp như sữa với nước” và hai hạng Sát-đế-lị, gia chủ của MN89 không có trong MA213, còn MA213 có thêm điều “tỳ-kheo hoàn tục không nói xấu” (vol. 1, p. 513–514, bảng 9.6). Theo Anālayo (thứ cấp, chưa đối chiếu bản gốc): bản Tăng nhất A-hàm EA38.10 chỉ có một lý do chung với MN89 (người trí đến vấn nạn mà không thắng được); bản Luật T1451 và bản Tạng có chung với MA213 điều “hoàn tục không nói xấu” và cặp “Pháp vương”, nhưng ở vài điểm lại gần MN89 (Anālayo nói bản Luật “ở nhiều điểm” gần MN89 hơn MA213): người trong hội chúng chỉ ho, chuyện hai vị quan là một điều, và hai vị khen Phật, bàn về Pháp, Tăng; và hai bản Luật còn kể rằng trong lúc vua ở với Phật, vị tướng giữ vương trượng đã giúp thái tử cướp ngôi, vua qua đời khi đi cầu viện (vol. 1, p. 512–519, chú 340, 349, 352, 355, 367–368). MA213 không kể chuyện này.
Tra cứu trong bài
- Nhân vật: Vua Ba-tư-nặc (Pasenadi) · Đức Phật · A-nan
- Thuật ngữ: A-la-hán · Tam Bảo · Tăng-già · Hòa hợp
- Dịch giả: HT. Tuệ Sỹ
Nguồn tham khảo
- Hán — Trung A-hàm 213, Kinh Pháp Trang Nghiêm (Taishō T26, tr. 795b19–797c05): ma213/lzh/taisho (SuttaCentral)
- Việt — HT. Tuệ Sỹ dịch: ma213/vi/tue_sy (SuttaCentral). (Dòng ghi dịch giả cuối bản Việt trên SuttaCentral ghi nhầm “KINH TRƯỜNG A-HÀM”; nội dung là Trung A-hàm.)
- Tuệ Sỹ (dịch, chú), Kinh Trung A-hàm, tập III, Kinh số 213: chú thích 1–4 (trang đầu kinh), tr. 905 (chú thích 5–7), tr. 906 (chú thích 8–12), tr. 909 (chú thích 13), tr. 911 (chú thích 14).
- Bản Pāḷi tương đương: MN89 — Kinh Pháp Trang Nghiêm · mn89 (SuttaCentral)
- Danh mục kinh tương đương: parallels ma213 (SuttaCentral) (API parallels, tra ngày 18/10/2026)
- Anālayo, A Comparative Study of the Majjhima-nikāya, vol. 1, p. 510–519 (Dharma Drum, 2011) — tham khảo đối chiếu (thứ cấp).
- Chú giải Pāḷi MN89 (Papañcasūdanī, Dhammacetiyasuttavaṇṇanā, bản VRI Chaṭṭha Saṅgāyana trong kho corpus) — chỉ dùng hai chỗ: cách hiểu câu “những gốc cây” (Ps (PTS) III 350) và câu kệ kê năm vương trượng (Ps (PTS) III 351); chi tiết khác xem bài MN89. Bản Việt: Chú giải Trung Bộ Kinh (bản Thái-Việt), sudhamma.net, mục “Giải thích Kinh Pháp Trang Nghiêm” (bản web không có số trang).
- Chú Giải Trung Bộ Kinh, bản Việt (vietheravada.net) — bản PDF chỉ gồm MN1–50; phần MN89 dùng bản Thái-Việt ở dòng trên.
📖 Nguồn / bản quyền: SuttaCentral — MA 213 法莊嚴經 (Taishō T26, tr. 795b19–797c05) + bản Việt Tuệ Sỹ