MN62 - Đại Kinh Giáo Giới La-hầu-la (Mahārāhulovāda Sutta)
Tóm tắt nhanh: Trên đường vào Sāvatthī khất thực, Đức Phật quay lại dạy Tôn giả Rāhula (La-hầu-la) đi sau lưng rằng mọi sắc — và cả thọ, tưởng, hành, thức, tức năm uẩn — phải được thấy “cái này không phải của ta, không phải là ta, không phải tự ngã của ta”. Rāhula bỏ cả bữa khất thực, quay về ngồi dưới gốc cây; Tôn giả Sāriputta đi ngang khuyên tu niệm hơi thở. Buổi chiều Rāhula đến hỏi Phật cách tu niệm hơi thở, và Phật trả lời theo thứ tự: năm giới (đất, nước, lửa, gió, hư không) trong thân đều không phải của ta; năm cách tu “như” đất, nước, lửa, gió, hư không để xúc ưa hay không ưa không chiếm được tâm; sáu pháp tu (từ, bi, hỷ, xả, bất tịnh, tưởng vô thường) đoạn sáu phiền não; rồi mới đến mười sáu bước niệm hơi thở. Kinh kết rằng người tu niệm hơi thở như vậy thì cả những hơi thở cuối cùng cũng diệt đi trong sự biết rõ, và Rāhula hoan hỷ tín thọ.
Bối cảnh
Kinh mở đầu tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jetavana (Kỳ Viên), tinh xá của ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Buổi sáng, Thế Tôn đắp y, cầm bát vào thành khất thực; Tôn giả Rāhula — con trai của Đức Phật — cũng đắp y, cầm bát, đi theo sát sau lưng (piṭṭhito piṭṭhito anubandhi, “theo sau, theo sau”). Đây là bài kinh thứ hai của phẩm Tỳ-khưu, đứng ngay sau MN61 — bài Thế Tôn dạy Rāhula “dù nói đùa cũng không nói dối”; dòng cuối bản Pāḷi ghi dutiyaṁ, “thứ hai”.
Kinh không nói Rāhula bao nhiêu tuổi và cũng không nói vì sao Thế Tôn dạy giữa đường. Chú giải (Papañcasūdanī, Ps III 130–133) kể phần lý do ấy: Rāhula đi sau, ngắm thân tướng Thế Tôn từ bàn chân lên đỉnh đầu, rồi nhìn lại mình mà nghĩ “ta cũng đẹp; nếu Thế Tôn làm vua Chuyển luân cai trị bốn châu, hẳn ta được trao ngôi Tướng quân báu”, và khởi lòng dục tham nương vào thân mình (attabhāvaṁ nissāya gehassitaṁ chandarāgaṁ). Cũng theo Chú giải, Thế Tôn đi phía trước nghĩ rằng thân Rāhula nay “đã đầy đủ da thịt và máu”, đã đến lúc tâm dễ bị cuốn theo các đối tượng khả ái; Ngài biết được ý nghĩ của Rāhula và nghĩ: như chiếc thuyền lớn chở đầy châu báu bị hở ván, nước tràn vào thì không được bỏ mặc dù chỉ một khoảnh khắc; phải chặn phiền não này trước khi nó phá hoại giới hạnh của Rāhula. Về tuổi: Chú giải MN61 (Ps III 126) ghi MN62 được nói khi Rāhula là sa-di mười tám tuổi, còn MN61 được nói khi Rāhula là sa-di bảy tuổi.
Trong kinh, Thế Tôn gọi thẳng “Rāhula”; Rāhula thưa bhagavā và sugata — bản Việt dịch “Thế Tôn”, “Thiện Thệ” — và ở đoạn sau thưa bhante, “bạch Thế Tôn”.
Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pāvisi. Āyasmāpi kho rāhulo pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya bhagavantaṁ piṭṭhito piṭṭhito anubandhi.
Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn ở Sāvatthi , Jetavana , tại tịnh xá Anāthapiṇḍika (Cấp Cô độc).
Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sāvatthi để khất thực. Tôn giả Rāhula vào buổi sáng cũng đắp y, cầm y bát, đi sau lưng Thế Tôn.
Pāḷi: mn62:1.1–2.2 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn62/vi/minh_chau)
Lời dạy giữa đường: năm uẩn không phải của ta
Thế Tôn dừng lại, nhìn về phía Rāhula (apaloketvā) và dạy: bất cứ sắc nào — quá khứ, vị lai, hiện tại; trong hay ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao quý; xa hay gần — tất cả sắc đều phải được thấy như thật bằng chánh trí tuệ: “Cái này không phải của ta (netaṁ mama), cái này không phải là ta (nesohamasmi), cái này không phải tự ngã của ta (na meso attā)”. Rāhula hỏi lại hai lần, một lần gọi “Thế Tôn”, một lần gọi “Thiện Thệ”: “Chỉ sắc thôi sao?” Thế Tôn đáp: cả sắc, cả thọ, cả tưởng, cả hành, cả thức — tức đủ năm uẩn, mỗi uẩn đều gọi tên “này Rāhula”.
Atha kho bhagavā apaloketvā āyasmantaṁ rāhulaṁ āmantesi: “yaṁ kiñci, rāhula, rūpaṁ—atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā—sabbaṁ rūpaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabban”ti. “Rūpameva nu kho, bhagavā, rūpameva nu kho, sugatā”ti? “Rūpampi, rāhula, vedanāpi, rāhula, saññāpi, rāhula, saṅkhārāpi, rāhula, viññāṇampi, rāhulā”ti.
Rồi Thế Tôn, sau khi đưa mắt ngó xung quanh, bảo Tôn giả Rāhula
—Này Rāhula , bất cứ sắc pháp nào, quá khứ, vị lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả sắc pháp phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự ngã của ta”.
—Bạch Thế Tôn, có phải chỉ sắc mà thôi? Bạch Thiện Thệ, có phải chỉ sắc mà thôi?
—Cả sắc, này Rāhula ; cả thọ, này Rāhula ; cả tưởng, này Rāhula ; cả hành, này Rāhula ; và cả thức, này Rāhula .
Pāḷi: mn62:3.1–3.4 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn62/vi/minh_chau)Lưu ý bản dịch: “đưa mắt ngó xung quanh” dịch apaloketvā, nghĩa là nhìn lại (bản Anh của Bhikkhu Sujato: looked back) — Thế Tôn đi trước nên quay lại nhìn người đi sau. Chú giải (Ps III 133) gọi đó là “cái nhìn của voi chúa” (nāgavilokana): Thế Tôn xoay trọn cả thân như pho tượng vàng xoay trên trục, rồi mới gọi Rāhula.
Về câu hỏi “chỉ sắc thôi sao?”, Chú giải (Ps III 133–134) giải rằng Rāhula vốn giỏi suy theo cách thức (nayakusala): nghe dạy một điều thì tự suy ra trăm điều, nghìn điều; nghe dạy về sắc thì nghĩ ngay “còn thọ và các uẩn kia thì thực hành thế nào?”. Chú giải cũng kể Rāhula là người ham học (sikkhākāma): sáng sớm rải cát ở sân Hương thất, nguyện “hôm nay mong được nghe từ Thế Tôn và từ thầy tế độ ngần này lời dạy, ngần này lời răn”, và được Thế Tôn xếp đứng đầu các tỳ-khưu ham học (dẫn AN 1.209).
Rāhula quay về gốc cây, Sāriputta khuyên tu niệm hơi thở
Rāhula nghĩ: “Ai hôm nay được chính Thế Tôn trực tiếp giáo giới mà còn đi vào làng khất thực?” Ông quay trở lại, ngồi xuống một gốc cây, kiết già, lưng thẳng, an trú niệm trước mặt. Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) trông thấy và khuyên: “Này Rāhula, hãy tu tập niệm hơi thở vô, hơi thở ra (ānāpānassati); tu tập và làm cho sung mãn thì được quả lớn, lợi ích lớn.”
Atha kho āyasmā rāhulo “ko najja bhagavatā sammukhā ovādena ovadito gāmaṁ piṇḍāya pavisissatī”ti tato paṭinivattitvā aññatarasmiṁ rukkhamūle nisīdi pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā. Addasā kho āyasmā sāriputto āyasmantaṁ rāhulaṁ aññatarasmiṁ rukkhamūle nisinnaṁ pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā. Disvāna āyasmantaṁ rāhulaṁ āmantesi: “ānāpānassatiṁ, rāhula, bhāvanaṁ bhāvehi. Ānāpānassati, rāhula, bhāvanā bhāvitā bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṁsā”ti.
Rồi Tôn giả Rāhula tự nghĩ: “Ai có thể hôm nay được Thế Tôn trực tiếp giảng dạy với bài giáo giới, còn có thể đi vào làng để khất thực?” Rồi Tôn giả từ chỗ ấy đi trở lui về, ngồi xuống một gốc cây, kiết già, lưng thẳng, an trú niệm trước mặt. Tôn giả Sāriputta thấy Tôn giả Rāhula đang ngồi dưới một gốc cây, kiết già, lưng thẳng, an trú niệm trước mặt. Sau khi thấy vậy, Ngài nói với Tôn giả Rāhula
—Này Rāhula , hãy tu tập sự tu tập nhập tức xuất tức niệm (niệm hơi thở vô, hơi thở ra). Này Rāhula , tu tập niệm hơi thở vô hơi thở ra, làm cho sung mãn, được quả lớn, được lợi ích lớn.
Pāḷi: mn62:4.1–5.4 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn62/vi/minh_chau)
Chú giải thêm mấy chi tiết quanh cảnh này:
- Thế Tôn thấy Rāhula quay về mà không gọi lại để nhắc giờ khất thực, vì nghĩ: “hôm nay hãy để Rāhula dùng món ăn bất tử là thân hành niệm” (Ps III 135).
- Vì sao Sāriputta đi sau cùng. Khi ở cùng Thế Tôn, sau khi Thế Tôn và chúng tăng đi khất thực, Sāriputta mới đi khắp trú xứ quét chỗ chưa quét, đổ rác, đặt bình nước uống, hỏi thăm tỳ-khưu bệnh, khích lệ các tỳ-khưu trẻ chưa đủ hạ, rồi mới đi sau cùng — như vị Tướng quân báu sắp xếp quân xong mới theo sau vua Chuyển luân (Ps III 135–136). Theo Chú giải, Sāriputta là thầy tế độ (upajjhāya) của Rāhula.
- Vì sao khuyên niệm hơi thở. Chú giải Pāḷi (Ps III 136) nói: vì đề mục ấy hợp với tư thế ngồi bất động của Rāhula, và trưởng lão nói vậy anāvajjitvāva — “không để tâm đến” việc Thế Tôn đã trao cho Rāhula đề mục về sắc. Bản Việt Chú giải trên sudhamma.net dịch câu này thành “trưởng lão đã suy nghĩ rằng: ‘Đức Thế Tôn đã thuyết sắc nghiệp xứ cho Rāhula’”, sót chữ phủ định; Anālayo (vol. 1, tr. 347, chú thích 39) cũng hiểu là Sāriputta không biết Rāhula đã nhận đề mục của Thế Tôn.
- “Quả lớn” lớn đến đâu. Chú giải (Ps III 136–137) kể năm mức: ngồi một chỗ mà đoạn tận lậu hoặc, chứng A-la-hán; không được thì lúc lâm chung chứng A-la-hán cùng lúc mạng sống dứt (samasīsī); không được nữa thì sinh lên cõi trời, nghe một vị thiên tử thuyết pháp mà chứng A-la-hán; lỡ nữa thì vào thời không có Phật ra đời, chứng quả Độc Giác; không được vậy thì khi gặp chư Phật sẽ chứng nhanh (khippābhiñña) như trưởng lão Bāhiya.
Buổi chiều: Rāhula đến hỏi cách tu niệm hơi thở
Chiều tối, Rāhula xuất khỏi chỗ độc cư (paṭisallānā), đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và hỏi: niệm hơi thở vô, hơi thở ra phải tu tập thế nào, làm cho sung mãn thế nào, để được quả lớn, lợi ích lớn?
Atha kho āyasmā rāhulo sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā rāhulo bhagavantaṁ etadavoca: “kathaṁ bhāvitā nu kho, bhante, ānāpānassati, kathaṁ bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṁsā”ti?
Rồi Tôn giả Rāhula , vào buổi chiều, sau khi từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Rāhula bạch Thế Tôn
—Bạch Thế Tôn, niệm hơi thở vô hơi thở ra được tu tập như thế nào? Làm cho sung mãn, (pháp môn này) như thế nào là để được quả lớn, được lợi ích lớn?
Pāḷi: mn62:6.1–7.1 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn62/vi/minh_chau)Theo Chú giải (Ps III 137–138), cả Thế Tôn và Sāriputta dạy xong đều đi khất thực, Rāhula ở lại tinh xá và nhịn bữa hôm ấy (chinnabhatta). Thế Tôn biết mà không mang đồ ăn về, không gửi tay Tôn giả Ānanda, cũng không ra dấu cho vua Pasenadi hay ông Anāthapiṇḍika; Sāriputta cũng vậy. Rāhula không hề khởi ý trách móc. Suốt trước và sau giờ ăn, ông quán đề mục Thế Tôn đã dạy — “sắc là vô thường, là khổ, là bất tịnh, là vô ngã” — rồi chiều đến nghĩ: thầy tế độ bảo ta tu niệm hơi thở, không làm theo thì thành kẻ khó dạy (dubbaca), nên đến hỏi Thế Tôn cách tu.
Câu trả lời của Thế Tôn không đi thẳng vào hơi thở. Ngài nói lần lượt bốn phần: năm giới trong thân, năm cách tu “như” các đại, sáu pháp tu đối trị, rồi mới đến mười sáu bước niệm hơi thở. Bốn phần ấy được trình bày theo đúng thứ tự dưới đây.
Khuôn chung của năm giới
Phần thứ nhất (§8–12) phân tích thân thành năm giới (dhātu): đất (địa), nước (thủy), lửa (hỏa), gió (phong) và hư không. Theo Chú giải (Ps III 138), vì dục tham của Rāhula khởi lên nương vào thân, mà giữa đường Thế Tôn mới dạy về sắc vắn tắt, nên bây giờ Ngài phân tích thân ra từng phần (Chú giải nói: bằng bốn mươi hai phương diện, dvicattālīsāya ākārehi; bản Việt Chú giải sudhamma ghi “bốn mươi”) để dục tham ấy không sinh lại. Năm giới đi theo cùng một khuôn năm bước:
- Câu hỏi: “Thế nào là X giới? X giới có nội, có ngoại. Thế nào là nội X giới?” (Riêng địa giới, kinh vào thẳng bước 2 — cả bản Pāḷi lẫn bản Việt đều không có câu hỏi này.)
- Định nghĩa và liệt kê: cái gì thuộc nội thân, thuộc cá nhân, mang tính chất X, bị chấp thủ (upādinna) — kê các phần trong thân — “và bất cứ gì khác” cùng tính chất.
- Nội và ngoại là một: nội X giới và ngoại X giới đều chỉ là X giới.
- Quán vô ngã: thấy như thật bằng chánh trí tuệ “Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự ngã của ta” — đúng câu Thế Tôn đã dạy giữa đường.
- Kết quả: thấy như vậy thì nhàm chán (nibbindati) đối với X giới, tâm ly tham (virājeti) đối với X giới (bản Việt: “sanh yểm ly…, tâm từ bỏ…”).
Khuôn được trích nguyên văn một lần dưới đây, lấy địa giới làm mẫu.
“Yaṁ kiñci, rāhula, ajjhattaṁ paccattaṁ kakkhaḷaṁ kharigataṁ upādinnaṁ, seyyathidaṁ— kesā lomā nakhā dantā taco maṁsaṁ nhāru aṭṭhi aṭṭhimiñjaṁ vakkaṁ hadayaṁ yakanaṁ kilomakaṁ pihakaṁ papphāsaṁ antaṁ antaguṇaṁ udariyaṁ karīsaṁ, yaṁ vā panaññampi kiñci ajjhattaṁ paccattaṁ kakkhaḷaṁ kharigataṁ upādinnaṁ— ayaṁ vuccati, rāhula, ajjhattikā pathavīdhātu. Yā ceva kho pana ajjhattikā pathavīdhātu yā ca bāhirā pathavīdhātu, pathavīdhāturevesā. Taṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti—evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ. Evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā pathavīdhātuyā nibbindati, pathavīdhātuyā cittaṁ virājeti.
—Này Rāhula , cái gì thuộc nội thân, thuộc cá nhân, kiên cứng, thô phù, bị chấp thủ, như tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bao tử, phân và bất cứ vật gì khác, thuộc nội thân, thuộc cá nhân, kiên cứng, thô phù, bị chấp thủ; như vậy, này Rāhula , được gọi là nội địa giới. Những gì thuộc nội địa giới và những gì thuộc ngoại địa giới đều thuộc về địa giới. Ðịa giới ấy phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ như sau: “Cái này không phải là của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự là ngã của ta”. Sau khi như thật quán sát địa giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với địa giới, tâm từ bỏ địa giới.
Pāḷi: mn62:8.1–8.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn62/vi/minh_chau)
Năm giới trong thân
1. Địa giới — mười chín phần cứng chắc
Tính chất: cứng, thô cứng (kakkhaḷaṁ kharigataṁ). Mười chín phần kinh kê: tóc (kesā), lông (lomā), móng (nakhā), răng (dantā), da (taco), thịt (maṁsaṁ), gân (nhāru), xương (aṭṭhi), tủy (aṭṭhimiñjaṁ), thận (vakkaṁ), tim (hadayaṁ), gan (yakanaṁ), hoành cách mô (kilomakaṁ), lá lách (pihakaṁ), phổi (papphāsaṁ), ruột (antaṁ), màng ruột (antaguṇaṁ), bao tử (udariyaṁ — Sujato dịch là “thức ăn chưa tiêu”), phân (karīsaṁ). (Khung trích ở trên.)
2. Thủy giới — mười hai chất lỏng
Tính chất: nước, thuộc chất lỏng (āpo āpogataṁ). Mười hai thứ theo thứ tự Pāḷi: mật (pittaṁ), đàm (semhaṁ), mủ (pubbo), máu (lohitaṁ), mồ hôi (sedo), mỡ (medo), nước mắt (assu), mỡ da (vasā), nước miếng (kheḷo), nước mũi (siṅghāṇikā), nước ở khớp xương (lasikā), nước tiểu (muttaṁ).
Katamā ca, rāhula, āpodhātu? Āpodhātu siyā ajjhattikā, siyā bāhirā. Katamā ca, rāhula, ajjhattikā āpodhātu? Yaṁ ajjhattaṁ paccattaṁ āpo āpogataṁ upādinnaṁ, seyyathidaṁ— pittaṁ semhaṁ pubbo lohitaṁ sedo medo assu vasā kheḷo siṅghāṇikā lasikā muttaṁ, yaṁ vā panaññampi kiñci ajjhattaṁ paccattaṁ āpo āpogataṁ upādinnaṁ— ayaṁ vuccati, rāhula, ajjhattikā āpodhātu.
Và này Rāhula , thế nào là thủy giới? Có nội thủy giới, có ngoại thủy giới. Và này Rāhula , thế nào là nội thủy giới? Cái gì thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ, như mật, đàm, niêm dịch, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước ở khớp xương, nước tiểu, và bất cứ vật gì khác, thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ; như vậy, này Rāhula , được gọi là thủy giới.
Pāḷi: mn62:9.1–9.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn62/vi/minh_chau)Lưu ý bản dịch: bản Việt đặt “niêm dịch” ở vị trí thứ ba và không có “nước mũi” ở vị trí thứ mười — rất có thể “niêm dịch” ở đây ứng với siṅghāṇikā bị dời chỗ (cùng là mười hai thứ). Câu kết “được gọi là thủy giới” sót chữ “nội”; Pāḷi là ajjhattikā āpodhātu, “nội thủy giới”.
3. Hỏa giới — bốn thứ nhiệt trong thân
Tính chất: lửa, thuộc chất nóng (tejo tejogataṁ). Kinh kê bốn: cái làm cho thân ấm nóng (santappati), cái làm cho già đi (jīrīyati), cái làm cho thân nóng rực, như khi sốt (pariḍayhati), và cái làm cho những gì đã ăn, uống, nhai, nếm được tiêu hoá đúng cách.
Katamā ca, rāhula, tejodhātu? Tejodhātu siyā ajjhattikā, siyā bāhirā. Katamā ca, rāhula, ajjhattikā tejodhātu? Yaṁ ajjhattaṁ paccattaṁ tejo tejogataṁ upādinnaṁ, seyyathidaṁ— yena ca santappati yena ca jīrīyati yena ca pariḍayhati yena ca asitapītakhāyitasāyitaṁ sammā pariṇāmaṁ gacchati, yaṁ vā panaññampi kiñci ajjhattaṁ paccattaṁ tejo tejogataṁ upādinnaṁ— ayaṁ vuccati, rāhula, ajjhattikā tejodhātu.
Và này Rāhula , thế nào là hỏa giới? Có nội hỏa giới, có ngoại hỏa giới. Và này Rāhula , thế nào là nội hỏa giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc về cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ; như cái gì khiến cho hâm nóng, khiến cho hủy hoại, khiến cho thiêu cháy, cái gì khiến cho những vật được ăn, uống, nhai, nếm, có thể khéo tiêu hóa, hay tất cả những vật gì khác, thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ; này Rāhula , như vậy được gọi là nội hỏa giới.
Pāḷi: mn62:10.1–10.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn62/vi/minh_chau)Bản Việt dịch jīrīyati là “khiến cho hủy hoại”; nghĩa sát chữ là “khiến cho già đi” (Sujato: that which ages).
4. Phong giới — sáu loại gió
Tính chất: gió, thuộc tánh động (vāyo vāyogataṁ). Kinh kê: gió đi lên (uddhaṅgamā vātā), gió đi xuống (adhogamā vātā), gió trong bụng (kucchisayā), gió trong ruột (koṭṭhāsayā), gió chạy khắp các chi (aṅgamaṅgānusārino), và hơi thở vô, hơi thở ra (assāso passāso). Như vậy chính hơi thở mà Rāhula hỏi cách tu cũng được kể ở đây như một phần của phong giới, và cũng phải thấy “không phải của ta”.
Katamā ca, rāhula, vāyodhātu? Vāyodhātu siyā ajjhattikā, siyā bāhirā. Katamā ca, rāhula, ajjhattikā vāyodhātu? Yaṁ ajjhattaṁ paccattaṁ vāyo vāyogataṁ upādinnaṁ, seyyathidaṁ— uddhaṅgamā vātā, adhogamā vātā, kucchisayā vātā, koṭṭhāsayā vātā, aṅgamaṅgānusārino vātā, assāso passāso iti, yaṁ vā panaññampi kiñci ajjhattaṁ paccattaṁ vāyo vāyogataṁ upādinnaṁ— ayaṁ vuccati, rāhula, ajjhattikā vāyodhātu.
Và này Rāhula , thế nào là phong giới? Có nội phong giới, có ngoại phong giới. Và này Rāhula , thế nào là nội phong giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc tánh động, bị chấp thủ, như gió thổi lên, gió thổi xuống, gió trong ruột, gió trong bụng dưới, gió thổi ngang các đốt, các khớp, hơi thở vô, hơi thở ra, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc tánh động, bị chấp thủ; này Rāhula , như vậy được gọi là nội phong giới.
Pāḷi: mn62:11.1–11.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn62/vi/minh_chau)5. Hư không giới — sáu khoảng trống
Tính chất: hư không, khoảng trống (ākāsaṁ ākāsagataṁ). Kinh kê: lỗ tai, lỗ mũi, cửa miệng, chỗ mà đồ ăn uống được nuốt vào, chỗ đồ ăn uống dừng lại, chỗ đồ ăn uống được thải ra phía dưới — và mọi khoảng trống khác, chỗ hở, chỗ không bị thịt máu chạm tới.
Katamā ca, rāhula, ākāsadhātu? Ākāsadhātu siyā ajjhattikā, siyā bāhirā. Katamā ca, rāhula, ajjhattikā ākāsadhātu? Yaṁ ajjhattaṁ paccattaṁ ākāsaṁ ākāsagataṁ upādinnaṁ, seyyathidaṁ— kaṇṇacchiddaṁ nāsacchiddaṁ mukhadvāraṁ, yena ca asitapītakhāyitasāyitaṁ ajjhoharati, yattha ca asitapītakhāyitasāyitaṁ santiṭṭhati, yena ca asitapītakhāyitasāyitaṁ adhobhāgaṁ nikkhamati, yaṁ vā panaññampi kiñci ajjhattaṁ paccattaṁ ākāsaṁ ākāsagataṁ, aghaṁ aghagataṁ, vivaraṁ vivaragataṁ, asamphuṭṭhaṁ, maṁsalohitehi upādinnaṁ— ayaṁ vuccati, rāhula, ajjhattikā ākāsadhātu.
Và này Rāhula , thế nào là hư không giới? Có nội hư không giới, có ngoại hư không giới. Và này Rāhula , thế nào là nội hư không giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc hư không, thuộc hư không tánh, bị chấp thủ, như lỗ tai, lỗ mũi, cửa miệng, do cái gì người ta nuốt, những gì được nhai, được uống, được ăn và được nếm, và tại chỗ mà những gì được nhai, được uống, được ăn và được uống được giữ lại, và ngang qua chỗ mà những gì được nhai, được uống, được ăn và được tống xuất xuống phần dưới để ra ngoài, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc hư không, thuộc hư không tánh, bị chấp thủ; này Rāhula , như vậy được gọi là nội hư không giới.
Pāḷi: mn62:12.1–12.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn62/vi/minh_chau)Bản Việt có chỗ lặp “được uống… được uống” (“tại chỗ mà những gì được nhai, được uống, được ăn và được uống được giữ lại”); Pāḷi ở cả ba chỗ đều là bộ bốn asita-pīta-khāyita-sāyita — ăn, uống, nhai, nếm. Ở câu cuối đoạn hư không giới (§12.9), bản Pāḷi Mahāsaṅgīti có thêm chữ cittaṁ (“tâm nhàm chán hư không giới”), khác với bốn giới trước.
Chú giải (Ps III 138–139) giải vì sao hư không giới được nói rộng: bốn giới đầu là bốn đại (mahābhūta), còn hư không giới được nêu để chỉ ra sắc y đại sinh (upādārūpa) — sắc nương bốn đại mà có; và vì sắc được hư không phân ranh giới thì mới hiện rõ. Chú giải còn tả cụ thể: lỗ tai là khoảng trống không chạm thịt máu; chỗ nuốt dài chừng một gang tay và bốn ngón; chỗ chứa là lớp màng bao tử; chỗ thải ra là ruột dài chừng ba mươi hai hattha (khuỷu tay), cong ở hai mươi mốt chỗ; “khoảng trống khác” là những kẽ nhỏ giữa da thịt và ở lỗ chân lông. Về bốn giới đầu, Chú giải chỉ sang Đại kinh Dụ dấu chân voi (MN28).
Bảng tổng hợp năm giới
| # | Giới | Tính chất | Số phần kinh kê | Ví dụ |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Địa (pathavī) | cứng, thô cứng | 19 | tóc, xương, tim, phổi, phân |
| 2 | Thủy (āpo) | lỏng | 12 | mật, máu, nước mắt, nước tiểu |
| 3 | Hỏa (tejo) | nóng | 4 | làm ấm, làm già, làm nóng rực, tiêu hoá |
| 4 | Phong (vāyo) | động | 6 | gió lên, gió xuống, hơi thở vô-ra |
| 5 | Hư không (ākāsa) | khoảng trống | 6 | lỗ tai, lỗ mũi, miệng, đường ăn uống |
Cả năm giới cùng một kết luận: nội giới và ngoại giới chỉ là một giới; thấy như thật “không phải của ta, không phải là ta, không phải tự ngã của ta” thì nhàm chán và tâm ly tham đối với giới ấy.
Khuôn chung của năm cách tu “như” đất, nước, lửa, gió, hư không
Phần thứ hai (§13–17) dùng chính năm giới vừa phân tích làm năm ảnh dụ cho tâm. Bốn ảnh dụ đầu cùng một khuôn bốn bước:
- Lời dạy: “Này Rāhula, hãy tu tập như X” (pathavīsamaṁ bhāvanaṁ bhāvehi — tu tập ngang bằng đất).
- Lợi ích: do tu như vậy, các xúc khả ái và không khả ái (manāpāmanāpā phassā) đã khởi lên sẽ không chiếm lấy tâm mà đứng lại đó.
- Ảnh dụ: người ta [quăng lên đất / rửa trong nước / lửa đốt / gió thổi] bảy thứ: đồ sạch, đồ không sạch, phân, nước tiểu, nước miếng, mủ, máu — mà X không vì thế mà bức bách, hổ thẹn hay ghê tởm.
- Kết: “cũng vậy, hãy tu tập như X”, nhắc lại lợi ích.
Khuôn được trích một lần, lấy ảnh dụ đất làm mẫu.
Pathavīsamaṁ, rāhula, bhāvanaṁ bhāvehi. Pathavīsamañhi te, rāhula, bhāvanaṁ bhāvayato uppannā manāpāmanāpā phassā cittaṁ na pariyādāya ṭhassanti. Seyyathāpi, rāhula, pathaviyā sucimpi nikkhipanti, asucimpi nikkhipanti, gūthagatampi nikkhipanti, muttagatampi nikkhipanti, kheḷagatampi nikkhipanti, pubbagatampi nikkhipanti, lohitagatampi nikkhipanti, na ca tena pathavī aṭṭīyati vā harāyati vā jigucchati vā; evameva kho tvaṁ, rāhula, pathavīsamaṁ bhāvanaṁ bhāvehi. Pathavīsamañhi te, rāhula, bhāvanaṁ bhāvayato uppannā manāpāmanāpā phassā cittaṁ na pariyādāya ṭhassanti.
Này Rāhula , hãy tu tập sự tu tập như đất. Này Rāhula , do tu tập sự tu tập như đất, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại. Này Rāhula , ví như trên đất người ta quăng đồ tịnh, quăng đồ không tịnh, quăng phân uế, quăng nước tiểu, nhổ nước miếng, quăng mủ và quăng máu; tuy vậy đất không lo âu, không dao động, hay không nhàm chán;
cũng vậy, này Rāhula , hãy tu tập như đất. Này Rāhula , do tu tập sự tu tập như đất, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại.
Pāḷi: mn62:13.1–13.5 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn62/vi/minh_chau)Lưu ý bản dịch: cụm “không có nắm giữ tâm, không có tồn tại” dịch một ý của Pāḷi, cittaṁ na pariyādāya ṭhassanti — “sẽ không chiếm lấy tâm mà trụ lại” (Sujato: will not occupy your mind). Ba động từ “không lo âu, không dao động, không nhàm chán” dịch na aṭṭīyati, na harāyati, na jigucchati, nghĩa sát hơn là “không thấy bức bách, không hổ thẹn, không ghê tởm” (Sujato: horrified, repelled, disgusted). Đáng chú ý: ba chữ này trùng với ba chữ trong MN61, nơi Rāhula được dạy phải “lo âu, tàm quý, nhàm chán” (aṭṭīyitabbaṁ harāyitabbaṁ jigucchitabbaṁ) đối với ý nghiệp bất thiện mình đã làm.
Năm ảnh dụ cho tâm
1. Như đất — người ta quăng lên đất bảy thứ
Đất nhận cả đồ sạch lẫn phân, nước tiểu, nước miếng, mủ, máu mà không bức bách, không hổ thẹn, không ghê tởm. (Khung trích ở trên.)
2. Như nước — người ta rửa trong nước bảy thứ
Điểm riêng: động từ đổi thành rửa (dhovanti). Ở câu kết đoạn này, bản Việt in “hãy tu tập sự tụ tập như nước” — “tụ tập” là lỗi in của “tu tập”.
Seyyathāpi, rāhula, āpasmiṁ sucimpi dhovanti, asucimpi dhovanti, gūthagatampi dhovanti, muttagatampi dhovanti, kheḷagatampi dhovanti, pubbagatampi dhovanti, lohitagatampi dhovanti, na ca tena āpo aṭṭīyati vā harāyati vā jigucchati vā;
Này Rāhula , ví như trong nước người ta rửa đồ tịnh, rửa đồ không tịnh, rửa sạch phân uế, rửa sạch nước tiểu, rửa sạch nước miếng, rửa sạch mủ, rửa sạch máu; tuy vậy nước không lo âu, không dao động, không nhàm chán;
Pāḷi: mn62:14.3 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn62/vi/minh_chau)3. Như lửa — lửa đốt bảy thứ
Điểm riêng: lửa đốt (dahati) cả đồ sạch lẫn đồ dơ mà không vì thế bức bách, hổ thẹn, ghê tởm.
Seyyathāpi, rāhula, tejo sucimpi dahati, asucimpi dahati, gūthagatampi dahati, muttagatampi dahati, kheḷagatampi dahati, pubbagatampi dahati, lohitagatampi dahati, na ca tena tejo aṭṭīyati vā harāyati vā jigucchati vā;
Này Rāhula , ví như lửa đốt các đồ tịnh, đốt các đồ không tịnh, đốt phân uế, đốt nước tiểu, đốt nước miếng, đốt mủ, đốt máu; tuy vậy lửa không lo âu, không dao động, không nhàm chán;
Pāḷi: mn62:15.3 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn62/vi/minh_chau)4. Như gió — gió thổi qua bảy thứ
Điểm riêng: gió thổi qua (upavāyati) cả đồ sạch lẫn đồ dơ.
Seyyathāpi, rāhula, vāyo sucimpi upavāyati, asucimpi upavāyati, gūthagatampi upavāyati, muttagatampi upavāyati, kheḷagatampi upavāyati, pubbagatampi upavāyati, lohitagatampi upavāyati, na ca tena vāyo aṭṭīyati vā harāyati vā jigucchati vā;
Này Rāhula , như gió thổi các đồ tịnh, thổi các đồ không tịnh, thổi phân uế, thổi nước tiểu, thổi nước miếng, thổi mủ, thổi máu, tuy vậy gió không lo âu, không dao động, không nhàm chán;
Pāḷi: mn62:16.3 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn62/vi/minh_chau)5. Như hư không — không trú ở bất cứ đâu
Ảnh dụ cuối khác hẳn bốn ảnh dụ trước: không có bảy thứ sạch dơ, mà chỉ một câu — “ví như hư không không trú ở bất cứ đâu” (ākāso na katthaci patiṭṭhito). Chú giải (Ps III 140) giải: hư không không đứng trên đất, núi hay cây nào; nếu đứng trên đất thì đất vỡ nó cũng vỡ theo, núi sụp nó sụp theo, cây đổ nó đổ theo.
Ākāsasamaṁ, rāhula, bhāvanaṁ bhāvehi. Ākāsasamañhi te, rāhula, bhāvanaṁ bhāvayato uppannā manāpāmanāpā phassā cittaṁ na pariyādāya ṭhassanti. Seyyathāpi, rāhula, ākāso na katthaci patiṭṭhito; evameva kho tvaṁ, rāhula, ākāsasamaṁ bhāvanaṁ bhāvehi. Ākāsasamañhi te, rāhula, bhāvanaṁ bhāvayato uppannā manāpāmanāpā phassā cittaṁ na pariyādāya ṭhassanti.
Này Rāhula , hãy tu tập sự tu tập như hư không. Này Rāhula , do tu tập sự tu tập như hư không, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại. Này Rāhula , ví như hư không không bị trú tại một chỗ nào;
cũng vậy, này Rāhula , hãy tu tập sự tu tập như hư không. Này Rāhula , do tu tập sự tu tập như hư không, các xúc khả ái không, khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại.
Pāḷi: mn62:17.1–17.5 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn62/vi/minh_chau)(Ở câu cuối, bản Việt in “các xúc khả ái không, khả ái” — dấu phẩy đặt nhầm chỗ; đúng là “khả ái, không khả ái” như các đoạn trước.)
Bảng tổng hợp năm ảnh dụ
| # | Tu tập như | Việc người ta làm / tính chất | Đối tượng | Không bị lay động thế nào |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Đất | quăng lên (nikkhipanti) | 7 thứ: sạch, không sạch, phân, nước tiểu, nước miếng, mủ, máu | không bức bách, không hổ thẹn, không ghê tởm |
| 2 | Nước | rửa trong (dhovanti) | 7 thứ như trên | như trên |
| 3 | Lửa | đốt (dahati) | 7 thứ như trên | như trên |
| 4 | Gió | thổi qua (upavāyati) | 7 thứ như trên | như trên |
| 5 | Hư không | không trú ở đâu | — | không có chỗ nào để bị bám |
Kết quả chung của cả năm: xúc khả ái và không khả ái khởi lên sẽ không chiếm được tâm. Chú giải (Ps III 139–140) gọi phần này là “tướng của người vững vàng” (tādī): người không tham đắm trước đối tượng ưa thích, không sân hận trước đối tượng không ưa; xúc “khả ái” là xúc đi cùng tám tâm tham, xúc “không khả ái” là xúc đi cùng hai tâm ưu; và khi xúc không còn nắm được tâm như nắm vật trong lòng tay, thì dục tham nương vào thân — “ta đẹp, sắc da ta trong sáng” — sẽ không sinh lại.
Khuôn chung của sáu pháp tu đối trị
Phần thứ ba (§18–23) là sáu pháp tu, mỗi pháp đoạn một phiền não, theo một khuôn hai bước:
- Lời dạy: “Này Rāhula, hãy tu tập X.”
- Kết quả: “Do tu tập X, cái gì là Y sẽ được đoạn trừ (pahīyissati).”
Chú giải (Ps III 140) giải vì sao Thế Tôn chuyển sang tâm từ: phần trước đã chỉ tướng của người vững vàng, phần này chỉ nguyên nhân — không ai thành người vững vàng nhờ dòng dõi cao, học rộng, nhiều lợi lộc hay được vua quan thân cận, mà nhờ tu tâm từ và các pháp kế tiếp. Theo Chú giải, “tu tập” ở đây là đưa pháp ấy đến cận định hoặc an chỉ định. Khuôn được trích một lần, lấy tâm từ làm mẫu.
Mettaṁ, rāhula, bhāvanaṁ bhāvehi. Mettañhi te, rāhula, bhāvanaṁ bhāvayato yo byāpādo so pahīyissati.
Này Rāhula , hãy tu tập sự tu tập về lòng từ. Này Rāhula , do tu tập sự tu tập về lòng từ, cái gì thuộc sân tâm sẽ được trừ diệt.
Pāḷi: mn62:18.1–18.2 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn62/vi/minh_chau)
Sáu pháp tu và sáu phiền não được đoạn
1. Từ (mettā) → đoạn sân (byāpāda)
Tâm từ đoạn sân; Chú giải giải byāpāda là sự nổi giận đối với chúng sinh. (Khung trích ở trên.)
2. Bi (karuṇā) → đoạn hại (vihesā)
Chú giải giải vihesā là làm hại chúng sinh bằng tay và những thứ khác (pāṇiādīhi). Bản Việt: “hại tâm”.
Karuṇaṁ, rāhula, bhāvanaṁ bhāvehi. Karuṇañhi te, rāhula, bhāvanaṁ bhāvayato yā vihesā sā pahīyissati.
Này Rāhula , hãy tu tập sự tu tập về lòng bi. Này Rāhula , do tu tập sự tu tập về lòng bi, cái gì thuộc hại tâm sẽ được trừ diệt.
Pāḷi: mn62:19.1–19.2 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn62/vi/minh_chau)3. Hỷ (muditā) → đoạn bất lạc (arati)
Chú giải giải arati là sự chán nản đối với chỗ ở xa vắng và đối với các thiện pháp cao thượng.
Muditaṁ, rāhula, bhāvanaṁ bhāvehi. Muditañhi te, rāhula, bhāvanaṁ bhāvayato yā arati sā pahīyissati.
Này Rāhula , hãy tu tập sự tu tập về hỷ. Này Rāhula , do tu tập sự tu tập về hỷ, cái gì thuộc bất lạc sẽ được trừ diệt.
Pāḷi: mn62:20.1–20.2 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn62/vi/minh_chau)4. Xả (upekkhā) → đoạn đối ngại (paṭigha)
Bản Việt dịch paṭigha là “hận tâm”; Chú giải giải đó là phiền não va chạm, chống đối với chúng sinh và các hành ở bất cứ đâu.
Upekkhaṁ, rāhula, bhāvanaṁ bhāvehi. Upekkhañhi te, rāhula, bhāvanaṁ bhāvayato yo paṭigho so pahīyissati.
Này Rāhula , hãy tu tập sự tu tập về xả. Này Rāhula , do tu tập sự tu tập về xả, cái gì thuộc hận tâm sẽ được trừ diệt.
Pāḷi: mn62:21.1–21.2 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn62/vi/minh_chau)5. Bất tịnh (asubha) → đoạn tham (rāga)
Theo Chú giải, tu bất tịnh là đưa đến cận định hay an chỉ định trên các đề mục như tử thi trương phình (chi tiết trong Thanh Tịnh Đạo); rāga là lòng tham đắm năm dục.
Asubhaṁ, rāhula, bhāvanaṁ bhāvehi. Asubhañhi te, rāhula, bhāvanaṁ bhāvayato yo rāgo so pahīyissati.
Này Rāhula , hãy tu tập sự tu tập về bất tịnh. Này Rāhula , do tu tập sự tu tập về bất tịnh, cái gì thuộc tham ái được trừ diệt.
Pāḷi: mn62:22.1–22.2 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn62/vi/minh_chau)6. Tưởng vô thường (aniccasaññā) → đoạn mạn “tôi là” (asmimāna)
Pāḷi là aniccasaññā, tưởng về vô thường — bản Việt chỉ ghi “tu tập về vô thường”. Phiền não được đoạn là asmimāna, mạn “tôi là” (bản Việt: “ngã mạn”); Chú giải giải là mạn “tôi là” đối với sắc và các uẩn khác, và nói tưởng vô thường là tưởng đi cùng sự quán vô thường, hay chính là tuệ quán (vipassanā).
Aniccasaññaṁ, rāhula, bhāvanaṁ bhāvehi. Aniccasaññañhi te, rāhula, bhāvanaṁ bhāvayato yo asmimāno so pahīyissati.
Này Rāhula , hãy tu tập sự tu tập về vô thường. Này Rāhula , do tu tập sự tu tập về vô thường, cái gì thuộc ngã mạn được trừ diệt.
Pāḷi: mn62:23.1–23.2 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn62/vi/minh_chau)Bảng tổng hợp sáu pháp tu
| # | Pháp tu | Pāḷi | Phiền não được đoạn | Pāḷi | Bản Việt ghi |
|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Từ | mettā | sân | byāpāda | sân tâm |
| 2 | Bi | karuṇā | hại | vihesā | hại tâm |
| 3 | Hỷ | muditā | bất lạc | arati | bất lạc |
| 4 | Xả | upekkhā | đối ngại | paṭigha | hận tâm |
| 5 | Bất tịnh | asubha | tham | rāga | tham ái |
| 6 | Tưởng vô thường | aniccasaññā | mạn “tôi là” | asmimāna | ngã mạn |
Niệm hơi thở: chỗ ngồi và hơi thở đầu tiên
Đến đây Thế Tôn mới trở lại câu Rāhula hỏi. Ngài nhắc lại lời khuyên — tu tập niệm hơi thở thì được quả lớn, lợi ích lớn — rồi tự hỏi “tu tập thế nào?” và trả lời: vị tỳ-khưu đi đến khu rừng, gốc cây hay ngôi nhà trống, ngồi kiết già, lưng thẳng, an trú niệm trước mặt (parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā); rồi chánh niệm thở vô, chánh niệm thở ra.
Ānāpānassatiṁ, rāhula, bhāvanaṁ bhāvehi. Ānāpānassati hi te, rāhula, bhāvitā bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṁsā. Kathaṁ bhāvitā ca, rāhula, ānāpānassati, kathaṁ bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṁsā? Idha, rāhula, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdati pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā. So satova assasati satova passasati.
Này Rāhula , hãy tu tập sự tu tập về niệm hơi thở vô hơi thở ra. Này Rāhula , do tu tập niệm hơi thở vô hơi thở ra, làm cho sung mãn, nên được quả lớn, được lợi ích lớn. Và này Rāhula , thế nào là tu tập niệm hơi thở vô hơi thở ra, làm cho sung mãn nên được quả lớn, được lợi ích lớn?
Ở đây, này Rāhula , vị Tỷ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra.
Pāḷi: mn62:24.1–25.2 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn62/vi/minh_chau)Bản Việt dịch satova assasati, satova passasati là “tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra”; chữ sato là “có niệm” (chánh niệm), Sujato dịch mindful.
Khuôn chung của mười sáu bước niệm hơi thở
Phần thứ tư (§26–29) là mười sáu bước, mỗi bước là một cặp “thở vô… / thở ra…”. Khuôn có hai dạng:
- Bước 1–2 — “biết”: thở vô dài thì biết “tôi thở vô dài”, thở ra dài thì biết “tôi thở ra dài”; ngắn cũng vậy (pajānāti). Đây là nhận biết hơi thở như nó đang là.
- Bước 3–16 — “tập”: vị ấy tập (sikkhati) với chủ ý ”… tôi sẽ thở vô”, ”… tôi sẽ thở ra” (assasissāmi / passasissāmi, thì tương lai) — tức chủ động rèn luyện.
Kinh trình bày mười sáu bước thành bốn đoạn, mỗi đoạn bốn bước (§26, §27, §28, §29); bài này giữ đúng cách chia đoạn ấy. Kinh này không đặt tên cho bốn nhóm; việc gắn mỗi nhóm với một niệm xứ (thân, thọ, tâm, pháp) là ở Kinh Quán niệm hơi thở (MN118 — SuttaCentral), không phải ở MN62. Khuôn được trích một lần với nhóm đầu.
Dīghaṁ vā assasanto ‘dīghaṁ assasāmī’ti pajānāti, dīghaṁ vā passasanto ‘dīghaṁ passasāmī’ti pajānāti; rassaṁ vā assasanto ‘rassaṁ assasāmī’ti pajānāti, rassaṁ vā passasanto ‘rassaṁ passasāmī’ti pajānāti. ‘Sabbakāyappaṭisaṁvedī assasissāmī’ti sikkhati; ‘sabbakāyappaṭisaṁvedī passasissāmī’ti sikkhati; ‘passambhayaṁ kāyasaṅkhāraṁ assasissāmī’ti sikkhati; ‘passambhayaṁ kāyasaṅkhāraṁ passasissāmī’ti sikkhati.
Hay thở vô dài, vị ấy biết: “Tôi thở vô dài”; hay thở ra dài, vị ấy biết “Tôi thở ra dài”; hay thở vô ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở vô ngắn”; hay thở ra ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở ra ngắn”. “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô,” vị ấy tập. “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.
Pāḷi: mn62:26.1–26.4 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn62/vi/minh_chau)
Mười sáu bước, bốn đoạn
1–4. Dài, ngắn, cảm giác toàn thân, an tịnh thân hành
(1) Thở dài thì biết dài; (2) thở ngắn thì biết ngắn; (3) tập thở vô, thở ra “cảm giác toàn thân” (sabbakāyappaṭisaṁvedī); (4) tập thở vô, thở ra “làm an tịnh thân hành” (passambhayaṁ kāyasaṅkhāraṁ). Bản Anh của Sujato dịch dīgha / rassa là “nặng / nhẹ” (heavily / lightly) thay vì “dài / ngắn”. (Khung trích ở trên.)
5–8. Hỷ, lạc, tâm hành, an tịnh tâm hành
(5) cảm giác hỷ (pīti); (6) cảm giác lạc (sukha); (7) cảm giác tâm hành (cittasaṅkhāra); (8) làm an tịnh tâm hành.
‘Pītippaṭisaṁvedī assasissāmī’ti sikkhati; ‘pītippaṭisaṁvedī passasissāmī’ti sikkhati; ‘sukhappaṭisaṁvedī assasissāmī’ti sikkhati; ‘sukhappaṭisaṁvedī passasissāmī’ti sikkhati; ‘cittasaṅkhārappaṭisaṁvedī assasissāmī’ti sikkhati; ‘cittasaṅkhārappaṭisaṁvedī passasissāmī’ti sikkhati; ‘passambhayaṁ cittasaṅkhāraṁ assasissāmī’ti sikkhati; ‘passambhayaṁ cittasaṅkhāraṁ passasissāmī’ti sikkhati.
“Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác tâm hành (Cittasankhara), tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.
Pāḷi: mn62:27.1–27.4 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn62/vi/minh_chau)Lưu ý bản dịch: ở bước 6, bản Việt chỉ có “Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô” mà sót câu “Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở ra”; Pāḷi có đủ cả hai (sukhappaṭisaṁvedī assasissāmī… passasissāmī).
9–12. Cảm giác tâm, làm tâm hân hoan, định tâm, giải thoát tâm
(9) cảm giác về tâm (citta); (10) làm cho tâm hân hoan (abhippamodayaṁ cittaṁ); (11) làm cho tâm định (samādahaṁ cittaṁ); (12) làm cho tâm giải thoát (vimocayaṁ cittaṁ).
‘Cittappaṭisaṁvedī assasissāmī’ti sikkhati; ‘cittappaṭisaṁvedī passasissāmī’ti sikkhati; ‘abhippamodayaṁ cittaṁ assasissāmī’ti sikkhati; ‘abhippamodayaṁ cittaṁ passasissāmī’ti sikkhati; ‘samādahaṁ cittaṁ assasissāmī’ti sikkhati; ‘samādahaṁ cittaṁ passasissāmī’ti sikkhati; ‘vimocayaṁ cittaṁ assasissāmī’ti sikkhati; ‘vimocayaṁ cittaṁ passasissāmī’ti sikkhati.
“Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập. “Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập. “Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.
Pāḷi: mn62:28.1–28.4 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn62/vi/minh_chau)Bản Việt dịch ba bước 10–12 là “với tâm hân hoan / định tĩnh / giải thoát”, như thể tâm đã ở trạng thái ấy; Pāḷi dùng phân từ chủ động — abhippamodayaṁ, samādahaṁ, vimocayaṁ — nghĩa là đang làm cho tâm hân hoan, định, giải thoát.
13–16. Quán vô thường, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ
(13) quán vô thường (aniccānupassī); (14) quán ly tham (virāgānupassī); (15) quán đoạn diệt (nirodhānupassī); (16) quán từ bỏ (paṭinissaggānupassī).
‘Aniccānupassī assasissāmī’ti sikkhati; ‘aniccānupassī passasissāmī’ti sikkhati; ‘virāgānupassī assasissāmī’ti sikkhati; ‘virāgānupassī passasissāmī’ti sikkhati; ‘nirodhānupassī assasissāmī’ti sikkhati; ‘nirodhānupassī passasissāmī’ti sikkhati; ‘paṭinissaggānupassī assasissāmī’ti sikkhati; ‘paṭinissaggānupassī passasissāmī’ti sikkhati.
“Quán vô thường, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán vô thường, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Quán ly tham, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán ly tham, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.
Pāḷi: mn62:29.1–29.4 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn62/vi/minh_chau)Bảng tổng hợp mười sáu bước
| Đoạn | Bước | Thở vô / thở ra… | Pāḷi | Động từ |
|---|---|---|---|---|
| §26 | 1 | dài | dīghaṁ | biết |
| §26 | 2 | ngắn | rassaṁ | biết |
| §26 | 3 | cảm giác toàn thân | sabbakāyappaṭisaṁvedī | tập |
| §26 | 4 | làm an tịnh thân hành | passambhayaṁ kāyasaṅkhāraṁ | tập |
| §27 | 5 | cảm giác hỷ | pītippaṭisaṁvedī | tập |
| §27 | 6 | cảm giác lạc | sukhappaṭisaṁvedī | tập |
| §27 | 7 | cảm giác tâm hành | cittasaṅkhārappaṭisaṁvedī | tập |
| §27 | 8 | làm an tịnh tâm hành | passambhayaṁ cittasaṅkhāraṁ | tập |
| §28 | 9 | cảm giác tâm | cittappaṭisaṁvedī | tập |
| §28 | 10 | làm tâm hân hoan | abhippamodayaṁ cittaṁ | tập |
| §28 | 11 | làm tâm định | samādahaṁ cittaṁ | tập |
| §28 | 12 | làm tâm giải thoát | vimocayaṁ cittaṁ | tập |
| §29 | 13 | quán vô thường | aniccānupassī | tập |
| §29 | 14 | quán ly tham | virāgānupassī | tập |
| §29 | 15 | quán đoạn diệt | nirodhānupassī | tập |
| §29 | 16 | quán từ bỏ | paṭinissaggānupassī | tập |
Về phần này, Chú giải MN62 (Ps III 141) không giải từng bước mà chỉ nói đề mục, cách tu, nghĩa văn Pāḷi và lợi ích đã được giảng đủ trong phần tùy niệm của Thanh Tịnh Đạo; bài này chưa đối chiếu phần ấy.
Quả lớn: biết rõ cả những hơi thở cuối cùng
Thế Tôn kết phần niệm hơi thở: tu tập, làm cho sung mãn như vậy thì được quả lớn, lợi ích lớn; và khi niệm hơi thở được tu như vậy, thì ngay cả những hơi thở cuối cùng (carimakā assāsā) cũng diệt đi trong sự biết rõ, chứ không phải không được biết.
Evaṁ bhāvitā kho, rāhula, ānāpānassati, evaṁ bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṁsā. Evaṁ bhāvitāya, rāhula, ānāpānassatiyā, evaṁ bahulīkatāya yepi te carimakā assāsā tepi viditāva nirujjhanti no aviditā”ti.
Tu tập niệm hơi thở vô hơi thở ra như vậy, này Rāhula , làm cho sung mãn như vậy, có quả lớn, có lợi ích lớn. Này Rāhula , tu tập niệm hơi thở vô hơi thở ra như vậy, làm cho sung mãn như vậy, thời khi những hơi thở vô, hơi thở ra tối hậu chấm dứt, chứng được giác tri, không phải không được giác tri.
Pāḷi: mn62:30.1–30.2 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn62/vi/minh_chau)Bản Pāḷi Mahāsaṅgīti ở đây chỉ ghi assāsā (“hơi thở”), bản Việt ghi “những hơi thở vô, hơi thở ra”; theo Anālayo (vol. 1, tr. 352, chú thích 64), bản PTS ghi assāsapassāsā, còn bản Miến Điện chỉ ghi assāsā. Kinh không nói thêm hơi thở cuối cùng là lúc nào; Chú giải MN62 cũng không giải câu này.
Kết kinh
Thế Tôn nói xong, Tôn giả Rāhula hoan hỷ, tín thọ lời dạy. Dòng cuối bản Pāḷi ghi tên kinh và cho biết đây là bài kinh thứ hai của phẩm.
Idamavoca bhagavā. Attamano āyasmā rāhulo bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti. Mahārāhulovādasuttaṁ niṭṭhitaṁ dutiyaṁ.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Rāhula hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Pāḷi: mn62:30.3–30.5 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn62/vi/minh_chau)Giải thích
1. Hỏi một đằng, trả lời theo một lộ trình. Rāhula hỏi về hơi thở, nhưng Thế Tôn đi qua bốn chặng rồi mới đến hơi thở. Chú giải nối các chặng ấy thành một mạch: lời dạy giữa đường nhắm vào lòng dục tham nương nơi thân của Rāhula; năm giới là phần giảng rộng lời dạy về sắc ấy (Ps III 138); năm ảnh dụ chỉ ra tướng của người vững vàng trước xúc ưa và không ưa (Ps III 139); sáu pháp tu chỉ ra nguyên nhân làm nên sự vững vàng ấy (Ps III 140); cuối cùng mới giảng rộng câu Rāhula hỏi (Ps III 141). Đó là cách Chú giải đọc; Anālayo thì nêu một khả năng khác (xem mục Đối chiếu).
2. Từ “ta đẹp” đến “không phải của ta”. Chi tiết rất đời thường — tóc, móng, răng, mật, đàm, nước tiểu, lỗ tai, lỗ mũi — là cách tháo rời cái thân mà người ta dễ tự hào. Kinh còn nói thêm một điều dễ bị bỏ qua: nội giới và ngoại giới chỉ là một giới. Chất cứng trong thân và đất ngoài kia là một thứ; hơi thở trong ngực và gió ngoài trời là một thứ. Không có phần nào trong năm giới là “của ta” theo nghĩa riêng tư cả.
3. Tu tập như đất. Ảnh dụ đất, nước, lửa, gió không bảo người tu trở nên vô cảm, mà bảo đừng để xúc ưa hay không ưa chiếm lấy tâm. Đất vẫn nhận cả đồ sạch lẫn phân, nước tiểu, mủ, máu; nó chỉ không vì thế mà bức bách, hổ thẹn hay ghê tởm. Hư không còn đi xa hơn: không đứng trên vật gì, nên không có gì kéo nó đổ theo.
4. Sáu pháp tu — mỗi bệnh một thuốc. Kinh ghép từng pháp tu với đúng một phiền não: từ với sân, bi với hại, hỷ với bất lạc, xả với đối ngại, bất tịnh với tham, tưởng vô thường với mạn “tôi là”. Có thể thấy pháp cuối nối trở lại đầu kinh (đây là cách hiểu của bài, kinh không nói): ý nghĩ “ta đẹp” mà Chú giải kể ở đầu kinh dựa trên cái “tôi là”, và kinh chỉ tưởng vô thường là pháp đoạn mạn “tôi là”.
5. Niệm hơi thở và giây phút cuối. Mười sáu bước đi từ chỗ đơn giản nhất — biết hơi thở dài hay ngắn — đến quán vô thường, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ. Lời kết của kinh nói: người tu tập như vậy thì cả những hơi thở cuối cùng (carimakā assāsā) cũng diệt đi trong sự biết rõ. Kinh không nói “cuối cùng” là lúc nào; Chú giải MN62 chỉ sang Thanh Tịnh Đạo mà bài này chưa đối chiếu, nên bài không tự gán cho câu ấy nghĩa “lúc lâm chung”.
6. Cho người tại gia. Có thể thử ba việc nhỏ: khi soi gương, nhớ câu “cái này không phải của ta”; khi gặp lời khen hay lời chê, nhớ hình ảnh mặt đất nhận cả đồ sạch lẫn đồ dơ; và mỗi ngày dành một lúc ngồi yên, chỉ biết hơi thở vô dài hay ngắn, hơi thở ra dài hay ngắn.
Đối chiếu các tạng
Theo danh mục tương đương của SuttaCentral (API parallels, tra ngày 18/10/2026), MN62 có một bản tương đương đầy đủ: EA 17.1 — Tăng Nhất A-hàm, kinh 羅雲 (T ii 581c01). Kho dữ liệu dùng để viết bài này không có Tăng Nhất A-hàm, nên bài này chưa đối chiếu bản Hán ấy; các điểm khác nhau dưới đây lấy từ Anālayo, A Comparative Study of the Majjhima-nikāya, vol. 1, tr. 347–353 (thứ cấp).
Ngoài ra SuttaCentral còn liệt kê:
- Cho riêng phần niệm hơi thở (§24–30): MN118 (Kinh Quán niệm hơi thở), SN 54.1, SA 803, Luật tạng Pārājika 3 (Bu Pj 3); và các bản “tương tự” SA 815, SA3 15, Arv 20, mảnh Sanskrit SHT Sutta 84. Tất cả chưa đối chiếu.
- Hai chỗ chỉ được nhắc đến: Mil 7.4.3 (ảnh dụ lửa, §15) và Mil 7.4.6 (ảnh dụ hư không, §17) trong Milindapañha — chưa đối chiếu.
Để khỏi nhầm: bản Trung A-hàm MA14 (羅云經) là bản tương đương của MN61, không phải của MN62; Trung A-hàm không có bản tương đương với MN62. Anālayo còn nêu AN 4.177 và SA 465 (Thế Tôn dạy Rāhula về các giới) là chỗ có thể liên quan đến phần năm giới — hai kinh này SuttaCentral không xếp vào danh mục tương đương của MN62.
| Điểm | MN62 (Pāḷi) | EA 17.1 (Hán, theo Anālayo) |
|---|---|---|
| Nơi chốn | Jetavana, Sāvatthī | như vậy |
| Lời dạy giữa đường | sắc phải thấy “không phải của ta, không phải là ta, không phải tự ngã của ta” | quán sắc là vô thường (汝今當觀色為無常) |
| Mở rộng sang năm uẩn | do Rāhula hỏi “chỉ sắc thôi sao?” | Thế Tôn cũng mở rộng sang bốn uẩn kia (Anālayo chỉ nêu câu hỏi của Rāhula ở bản Pāḷi) |
| Rāhula bỏ khất thực, ngồi thiền | có | có, thêm đoạn Rāhula tự hỏi vì sao Thế Tôn dạy mình lúc sắp vào thành |
| Người khuyên niệm hơi thở | Sāriputta | chính Đức Phật, khi khất thực về; kèm dạy quán bất tịnh và bốn tâm vô lượng |
| Trước câu hỏi của Rāhula | — | có trao đổi kệ giữa Rāhula và Đức Phật |
| Phần năm giới | có (khoảng nửa bài kinh) | không có |
| Pháp đối trị | 6: từ–sân, bi–hại, hỷ–bất lạc, xả–đối ngại, bất tịnh–tham, tưởng vô thường–mạn “tôi là” | 5: bất tịnh–tham, từ–sân, bi–hại, hỷ–ganh tị, xả–mạn; không có tưởng vô thường |
| Chỗ đặt niệm | “trước mặt” (parimukhaṁ) | buộc ý nơi đầu mũi (繫意鼻頭) |
| Các bước niệm hơi thở | 16 bước | dài/ngắn, lạnh/ấm (冷/暖), toàn thân, hơi thở có/không, hơi thở từ “tâm” ra vào |
| Quả của niệm hơi thở | biết rõ cả những hơi thở cuối cùng | được vị cam lộ (得甘露味) |
| Kết | Rāhula hoan hỷ tín thọ | Rāhula thực hành, chứng bốn thiền và ba minh, đến trình Thế Tôn; Thế Tôn tuyên bố Rāhula đứng đầu về giữ giới |
Vài nhận xét của Anālayo (thứ cấp, chưa đối chiếu bản Hán):
- Phần năm giới. Vì bản Hán không có, và vì Thế Tôn “trả lời vòng” trước khi nói đến hơi thở, Anālayo (tr. 348) nêu khả năng phần năm giới vốn thuộc một dịp dạy Rāhula khác (như AN 4.177 / SA 465) rồi được ghép vào MN62 trong quá trình truyền tụng; nhưng ông cũng ghi lại cách giải của Chú giải — năm giới là phần giảng rộng lời dạy về sắc giữa đường — và nhận rằng cách giải ấy giải thích được thứ tự của bản Pāḷi.
- Xả và mạn. Bản Hán ghép xả với mạn; Anālayo (tr. 349–350) cho rằng có thể đây là chỗ hai ý — xả đối trị đối ngại, tưởng vô thường đối trị mạn “tôi là” — bị gộp lẫn khi truyền bản.
- “Đầu mũi.” Anālayo (tr. 350) cho rằng chữ “buộc ý nơi đầu mũi” có thể là lời giải thích của người truyền dạy hay dịch giả lẫn vào kinh văn, vì các kinh khác của Tăng Nhất A-hàm khi tả tư thế ngồi chỉ nói “niệm ở trước mặt”.
- Rāhula chứng quả. Theo kinh tạng Pāḷi, Rāhula chứng A-la-hán vào một dịp khác — sau Tiểu kinh Giáo giới La-hầu-la (MN147) (Anālayo, tr. 353).
Giống nhau: nơi chốn, lời dạy về sắc và năm uẩn giữa đường, việc Rāhula bỏ khất thực để ngồi thiền, câu hỏi về niệm hơi thở, phần lớn các cặp pháp đối trị, và lời khẳng định niệm hơi thở có quả lớn. Khác nhau: người khuyên niệm hơi thở, phần năm giới và năm ảnh dụ (chỉ có ở Pāḷi), số bước niệm hơi thở, và phần kết.
Tra cứu trong bài
- Nhân vật: Đức Phật · Tôn giả Rāhula (La-hầu-la) · Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất)
- Địa danh: Sāvatthī (Xá-vệ) · Kỳ Viên (Jetavana)
- Thuật ngữ: Năm uẩn · Vô ngã · Vô thường · Tứ đại · Từ bi · Niệm hơi thở (ānāpānassati) · Chánh niệm · A-la-hán
- Dịch giả: HT. Thích Minh Châu
Nguồn tham khảo
- Pāḷi (Mahāsaṅgīti): MN 62 — SuttaCentral
- Việt — HT. Thích Minh Châu dịch (Bình Anson hiệu đính): mn62/vi/minh_chau — SuttaCentral
- English — Bhikkhu Sujato, The Longer Advice to Rāhula: mn62/en/sujato — SuttaCentral
- Danh mục kinh tương đương: MN 62 — SuttaCentral (API parallels, tra ngày 18/10/2026); bản tương đương Hán: EA 17.1 — SuttaCentral — chưa đối chiếu.
- Chú giải Pāḷi: Papañcasūdanī (Majjhimanikāya-aṭṭhakathā), Mahārāhulovādasuttavaṇṇanā, Ps (PTS) III 130–141 (bản VRI Chaṭṭha Saṅgāyana).
- Chú giải Trung Bộ Kinh, bản Thái-Việt (sudhamma.net), mục Kinh số 62 – Giải thích Đại kinh Giáo giới Rāhula: Chú giải Trung Bộ Kinh (sudhamma.net) — bản web không có số trang.
- Chú Giải Trung Bộ Kinh, bản Việt (vietheravada.net): chugiaitrungbokinh.pdf (vietheravada.net) — bản này chỉ gồm MN1–50, không có phần MN62; bài không trích từ bản này.
- Anālayo, A Comparative Study of the Majjhima-nikāya, vol. 1, tr. 347–353 (Dharma Drum, 2011) — thứ cấp.
- Bài liên quan trên site: MN61 - Kinh Giáo Giới La-hầu-la ở Rừng Āmala.
📖 Nguồn / bản quyền: SuttaCentral — MN 62 (Mahārāhulovāda Sutta), Pāḷi Mahāsaṅgīti + bản Việt HT. Thích Minh Châu