MN48 — Kinh Kosambiya (Kosambiya Sutta)

Kinh Kosambiya — sáu pháp khả niệm, chánh kiến là chóp mái của ngôi nhà

Tóm tắt nhanh: Ở Kosambī, các Tỷ-kheo chia phe cãi vã, “đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi”, không ai thuyết phục được ai, không ai chịu hòa giải. Đức Phật cho gọi họ đến, hỏi một câu: lúc tranh cãi, các ông có giữ được thân, khẩu, ý từ hòa với nhau không? — Không. Ngài quở họ là “kẻ rồ dại” vì việc ấy chỉ đem lại khổ lâu dài, rồi dạy sáu pháp khả niệm (sāraṇīya dhamma, thường gọi là lục hòa): thân, khẩu, ý từ hòa; chia sẻ lợi dưỡng; đồng giới; đồng kiến. Trong sáu pháp, chánh kiến cao thượng đưa đến diệt khổ là tối thượng, như chóp mái gom giữ cả ngôi nhà. Phần sau kinh nêu bảy trí mà vị Thánh đệ tử tự kiểm và tự biết nơi mình; ai đủ bảy chi ấy là đã thành tựu quả Dự lưu.

Bối cảnh

Kinh được nói tại Kosambī, trong tịnh xá Ghosita (Ghositārāma). Chú giải kể nguồn gốc vụ tranh chấp: hai vị Tỷ-kheo cùng ở một trú xứ — một vị thông Kinh, một vị thông Luật. Vị thông Kinh dùng nhà vệ sinh xong để lại chút nước trong ca. Vị thông Luật bảo đó là phạm lỗi, rồi lại nói nếu không cố ý thì không phạm; sau đó vị thông Luật lại nói với đệ tử rằng vị kia phạm lỗi mà không biết. Hai nhóm đệ tử đem lời nhau đi truyền, gọi nhau là “người nói dối”, và từ chuyện nhỏ ấy cả Tăng chúng Kosambī chia làm hai phe (theo Chú giải, Papañcasūdanī, tr. 910).

Lưu ý: đoạn trên là lời Chú giải, không phải lời kinh. Chánh tạng MN48 chỉ ghi các Tỷ-kheo gây gổ, cãi vã, tranh luận, không nói nguyên nhân.

Tranh cãi ở Kosambī

Tăng chúng Kosambī bất hòa — MN48 §1–2

Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ bhagavā kosambiyaṁ viharati ghositārāme. Tena kho pana samayena kosambiyaṁ bhikkhū bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharanti. Te na ceva aññamaññaṁ saññāpenti na ca saññattiṁ upenti, na ca aññamaññaṁ nijjhāpenti, na ca nijjhattiṁ upenti.

Một thời Thế Tôn ở Kosambi , tại tịnh xá Ghosita. Lúc bấy giờ, các Tỷ-kheo ở Kosambi sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh nhau, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Họ không tự thông cảm nhau, không chấp nhận thông cảm; họ không tự hòa giải, không chấp nhận hòa giải.

Pāḷi: mn48:1.1–2.2 · Việt (HT. Thích Minh Châu): mn48/vi/minh_chau

Kinh tả trận cãi vã bằng một chuỗi chữ dồn dập: bhaṇḍana (gây gổ), kalaha (cãi vã), vivāda (tranh luận), và hình ảnh mukhasatti — “giáo mác nơi miệng”, tức lời nói làm tổn thương như vũ khí. Điểm nặng nhất là câu sau: họ không thuyết phục được nhau và cũng không chịu để ai thuyết phục, không làm nhau nguôi và cũng không chịu nguôi. Cuộc tranh cãi đã đóng kín mọi lối ra.

Một vị Tỷ-kheo đến đảnh lễ và trình lên Đức Phật đúng như vậy. Theo Chú giải, vị này đi báo không vì muốn lấy lòng hay muốn chia rẽ, mà vì mong cho Tăng hòa hợp, biết rằng ngoài Đức Phật không ai dàn xếp được.

Một Tỷ-kheo bạch Phật — MN48 §3

Atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “idha, bhante, kosambiyaṁ bhikkhū bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharanti, te na ceva aññamaññaṁ saññāpenti, na ca saññattiṁ upenti, na ca aññamaññaṁ nijjhāpenti, na ca nijjhattiṁ upentī”ti.

Rồi một Tỷ-kheo đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên. Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn […] —Ở đây, bạch Thế Tôn, các Tỷ-kheo ở Kosambi sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh nhau, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Họ không tự thông cảm nhau, không chấp nhận thông cảm; họ không tự hòa giải nhau, không chấp nhận hòa giải.

Pāḷi: mn48:3.1–3.2 · Việt (HT. Thích Minh Châu): mn48/vi/minh_chau

Đức Phật không xét ai đúng ai sai trong chuyện chiếc ca nước. Ngài sai một vị Tỷ-kheo đi gọi: “Bậc Đạo Sư cho gọi các Tôn giả”. Khi họ đến, Ngài hỏi thẳng để họ tự xác nhận sự việc.

Đức Phật cho gọi và hỏi thẳng — MN48 §4

Atha kho bhagavā aññataraṁ bhikkhuṁ āmantesi: “ehi tvaṁ, bhikkhu, mama vacanena te bhikkhū āmantehi: ‘satthā vo āyasmante āmantetī’”ti. […] “saccaṁ kira tumhe, bhikkhave, bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharatha, te na ceva aññamaññaṁ saññāpetha, na ca saññattiṁ upetha, na ca aññamaññaṁ nijjhāpetha, na ca nijjhattiṁ upethā”ti? “Evaṁ, bhante”.

Rồi Thế Tôn cho gọi một Tỷ-kheo và bảo như sau […] —Này các Tỷ-kheo, hãy đi, và nhân danh Ta, bảo các Tỷ-kheo ấy như sau: “Bậc Ðạo Sư cho gọi chư Tôn giả”. […] —Này các Tỷ-kheo, có đúng sự thật chăng, các Ông sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Và các Ông không tự thông cảm nhau, không chấp nhận thông cảm, không tự hòa giải nhau, không chấp nhận hòa giải? […] —Bạch Thế Tôn, có vậy.

Pāḷi: mn48:4.1–4.9 · Việt (HT. Thích Minh Châu): mn48/vi/minh_chau

”Do biết gì, do thấy gì?”

Câu hỏi then chốt của Đức Phật không bàn chuyện Luật mà quay về chính tâm người đang cãi: trong lúc tranh cãi, các ông có giữ được thân hành từ, khẩu hành từ, ý hành từ đối với các vị đồng phạm hạnh, cả trước mặt lẫn sau lưng không? Họ thừa nhận là không. Đức Phật bèn gọi họ là moghapurisa (“kẻ rồ dại”, người để đời tu thành vô ích) và hỏi lại: vậy các ông biết gì, thấy gì mà cãi nhau như thế? Lối sống ấy sẽ đem lại bất lợi và khổ đau lâu dài cho chính họ.

“Do biết gì, do thấy gì?” — MN48 §5

“Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, yasmiṁ tumhe samaye bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharatha, api nu tumhākaṁ tasmiṁ samaye mettaṁ kāyakammaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca, mettaṁ vacīkammaṁ …pe… mettaṁ manokammaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho cā”ti? “No hetaṁ, bhante”. “Iti kira, bhikkhave, yasmiṁ tumhe samaye bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharatha, neva tumhākaṁ tasmiṁ samaye mettaṁ kāyakammaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca, na mettaṁ vacīkammaṁ …pe… na mettaṁ manokammaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca. Atha kiñcarahi tumhe, moghapurisā, kiṁ jānantā kiṁ passantā bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharatha, te na ceva aññamaññaṁ saññāpetha, na ca saññattiṁ upetha, na ca aññamaññaṁ nijjhāpetha, na ca nijjhattiṁ upetha? Tañhi tumhākaṁ, moghapurisā, bhavissati dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā”ti.

—Này các Tỷ-kheo, các ông nghĩ thế nào? Trong khi các Ông sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi; trong khi ấy các Ông có an trú từ thân hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng không, các Ông có an trú từ khẩu hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng không, các Ông có an trú từ ý hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng không? —Bạch Thế Tôn, không. […] —Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông đã chấp nhận rằng, trong khi các Ông sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi, trong khi ấy, không có an trú từ thân hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng, không có an trú từ khẩu hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng, không có an trú từ ý hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Như vậy, này các kẻ mê mờ kia, do biết gì, do thấy gì, các Ông sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau với những binh khí miệng lưỡi; và các Ông không tự thông cảm nhau, không chấp nhận thông cảm, không tự hòa giải nhau, không chấp nhận hòa giải. Như vậy, này các kẻ mê mờ kia, các Ông sẽ phải chịu bất hạnh, đau khổ trong một thời gian dài.

Pāḷi: mn48:5.1–5.6 · Việt (HT. Thích Minh Châu): mn48/vi/minh_chau

Sáu pháp khả niệm (sāraṇīya dhamma)

Sau lời quở, Đức Phật không giảng thêm về lỗi mà chỉ cách sống chung. Sāraṇīya nghĩa là “đáng được ghi nhớ” — những điều khiến người cùng tu nhớ đến nhau với lòng quý mến. Mỗi pháp đều “tạo thành tương ái, tương kính, đưa đến hòa đồng, không tranh luận, hòa hợp, nhất trí”. Ba pháp đầu là từ biểu hiện qua thân, lời và ý, cả trước mặt lẫn sau lưng — nghĩa là không có hai bộ mặt.

Sáu pháp khả niệm (1–3): từ thân, khẩu, ý — MN48 §6

Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “chayime, bhikkhave, dhammā sāraṇīyā piyakaraṇā garukaraṇā saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattanti. Katame cha? Idha, bhikkhave, bhikkhuno mettaṁ kāyakammaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca. Ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattati. Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhuno mettaṁ vacīkammaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca. Ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattati. Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhuno mettaṁ manokammaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca. Ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattati.

Rồi Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo […] —Này các Tỷ-kheo, có sáu pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến vô tranh luận, hòa hợp, nhất trí. Thế nào là sáu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo an trú từ thân hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí. […] Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo an trú từ khẩu hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí. […] Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo an trú từ ý hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí.

Pāḷi: mn48:6.1–6.9 · Việt (HT. Thích Minh Châu): mn48/vi/minh_chau

Ba pháp sau mở rộng từ tâm ra đời sống chung:

  • Chia sẻ lợi dưỡng: những gì nhận được đúng pháp, dù chỉ là thức ăn trong bình bát, cũng không giữ riêng mà dùng chung với các vị đồng phạm hạnh có giới.
  • Đồng giới: sống cùng các vị đồng phạm hạnh trong những giới không sứt mẻ, không tì vết, đem lại tự do, được người trí khen, không bị chấp thủ sai lạc và đưa đến định.
  • Đồng kiến: sống cùng các vị đồng phạm hạnh trong cái thấy cao thượng, có khả năng dẫn ra khỏi, đưa người thực hành đến diệt tận khổ đau.
Sáu pháp khả niệm (4–6): lợi dưỡng, giới, kiến — MN48 §6

Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu ye te lābhā dhammikā dhammaladdhā antamaso pattapariyāpannamattampi, tathārūpehi lābhehi appaṭivibhattabhogī hoti sīlavantehi sabrahmacārīhi sādhāraṇabhogī. Ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattati. Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu yāni tāni sīlāni akhaṇḍāni acchiddāni asabalāni akammāsāni bhujissāni viññuppasatthāni aparāmaṭṭhāni samādhisaṁvattanikāni tathārūpesu sīlesu sīlasāmaññagato viharati sabrahmacārīhi āvi ceva raho ca. Ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattati. Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu yāyaṁ diṭṭhi ariyā niyyānikā niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāya tathārūpāya diṭṭhiyā diṭṭhisāmaññagato viharati sabrahmacārīhi āvi ceva raho ca. Ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattati. Ime kho, bhikkhave, cha sāraṇīyā dhammā piyakaraṇā garukaraṇā saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattanti.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối với các tài vật nhận được đúng pháp, hợp pháp, cho đến những tài vật thâu nhận chỉ trong bình bát, Tỷ-kheo không phải là người không san sẻ, các tài vật nhận được như vậy, phải là người san sẻ dùng chung với các vị đồng phạm hạnh có giới đức. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí. […] Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối với các giới luật không có vi phạm, không có tỳ vết, không có vẩn đục, không có uế tạp, giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp trước, đưa đến thiền định, Tỷ-kheo sống thành tựu trong các giới luật ấy với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí. […] Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối với các tri kiến thuộc về bậc Thánh có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chân chánh diệt tận khổ đau, Tỷ-kheo, sống thành tựu tri kiến như vậy, cùng với các đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí. […] Này các Tỷ-kheo, có sáu pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí.

Pāḷi: mn48:6.10–6.16 · Việt (HT. Thích Minh Châu): mn48/vi/minh_chau

Chánh kiến là chóp mái

Trong sáu pháp, Đức Phật chỉ ra một pháp tối thượng, gom giữ và kết nối tất cả: chính cái thấy cao thượng dẫn đến diệt khổ (pháp thứ sáu). Ví dụ là một ngôi nhà mái nhọn: chóp mái (kūṭa) là chỗ cao nhất, nơi các xà kèo quy về và được giữ chặt. Từ hòa nơi thân, khẩu, ý, sự chia sẻ và giới hạnh chung đều cần được giữ lại bằng cái thấy chung về con đường thoát khổ. Thiếu điểm ấy, sự hòa hợp dễ chỉ còn là xã giao.

Kiến là chóp mái — MN48 §7

Imesaṁ kho, bhikkhave, channaṁ sāraṇīyānaṁ dhammānaṁ etaṁ aggaṁ etaṁ saṅgāhikaṁ etaṁ saṅghāṭanikaṁ—yadidaṁ yāyaṁ diṭṭhi ariyā niyyānikā niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāya. Seyyathāpi, bhikkhave, kūṭāgārassa etaṁ aggaṁ etaṁ saṅgāhikaṁ etaṁ saṅghāṭanikaṁ yadidaṁ kūṭaṁ; evameva kho, bhikkhave, imesaṁ channaṁ sāraṇīyānaṁ dhammānaṁ etaṁ aggaṁ etaṁ saṅgāhikaṁ etaṁ saṅghāṭanikaṁ yadidaṁ yāyaṁ diṭṭhi ariyā niyyānikā niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāya.

Này các Tỷ-kheo, trong sáu pháp cần phải ghi nhớ này, có một pháp tối thượng, thâu nhiếp tất cả, làm giềng mối cho tất cả, chính là tri kiến này, thuộc về bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chân chánh diệt tận khổ đau. Này các Tỷ-kheo, ví như một căn nhà có mái nhọn như ngọn tháp, có một pháp tối thượng, thâu nhiếp tất cả, làm giềng mối cho tất cả, chính là mái nhọn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong sáu pháp cần phải ghi nhớ này, có một pháp tối thượng, thâu nhiếp tất cả, làm giềng mối cho tất cả, chính là tri kiến này, thuộc về bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chân chánh diệt tận khổ đau.

Pāḷi: mn48:7.1–7.3 · Việt (HT. Thích Minh Châu): mn48/vi/minh_chau

Bảy trí của vị Thánh đệ tử thành tựu kiến

Đức Phật hỏi tiếp: cái thấy ấy dẫn đến diệt khổ như thế nào? Câu trả lời là bảy trí (ñāṇa). Mỗi trí là một lần vị Thánh đệ tử tự quán xét và tự biết rõ một điều nơi mình. Kinh gọi đó là trí “thuộc bậc Thánh, siêu thế, phàm phu không có được”. Bảy trí ấy đồng thời là bảy dấu hiệu của người thành tựu kiến (diṭṭhisampanna), tức bậc Dự lưu.

Trí thứ nhất — tâm không bị triền nào trói buộc

Vị Tỷ-kheo vào rừng, đến gốc cây hay một chỗ vắng và tự xét: trong ta có còn triền (pariyuṭṭhāna, trạng thái chiếm ngự tâm) nào chưa đoạn khiến ta không thể biết và thấy như thật không? Kinh kể tám thứ: tham dục, sân, hôn trầm thụy miên, trạo hối, nghi (năm triền cái), cộng thêm bận tâm việc đời này, bận tâm việc đời sau, và — đúng chủ đề của kinh — sống cãi vã, đả thương nhau bằng miệng lưỡi. Hễ còn một thứ ấy thì “tâm bị triền phược”. Vị ấy biết: “Ta không còn triền nào chưa đoạn; ý ta đã khéo hướng đến giác ngộ các sự thật.”

Trí thứ nhất: không còn triền nào che tâm — MN48 §8

Kathañca, bhikkhave, yāyaṁ diṭṭhi ariyā niyyānikā niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāya? Idha, bhikkhave, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā iti paṭisañcikkhati: ‘atthi nu kho me taṁ pariyuṭṭhānaṁ ajjhattaṁ appahīnaṁ, yenāhaṁ pariyuṭṭhānena pariyuṭṭhitacitto yathābhūtaṁ nappajāneyyaṁ na passeyyan’ti? Sace, bhikkhave, bhikkhu kāmarāgapariyuṭṭhito hoti, pariyuṭṭhitacittova hoti. Sace, bhikkhave, bhikkhu byāpādapariyuṭṭhito hoti, pariyuṭṭhitacittova hoti. Sace, bhikkhave, bhikkhu thinamiddhapariyuṭṭhito hoti, pariyuṭṭhitacittova hoti. Sace, bhikkhave, bhikkhu uddhaccakukkuccapariyuṭṭhito hoti, pariyuṭṭhitacittova hoti. Sace, bhikkhave, bhikkhu vicikicchāpariyuṭṭhito hoti, pariyuṭṭhitacittova hoti. Sace, bhikkhave, bhikkhu idhalokacintāya pasuto hoti, pariyuṭṭhitacittova hoti. Sace, bhikkhave, bhikkhu paralokacintāya pasuto hoti, pariyuṭṭhitacittova hoti. Sace, bhikkhave, bhikkhu bhaṇḍanajāto kalahajāto vivādāpanno aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudanto viharati, pariyuṭṭhitacittova hoti. So evaṁ pajānāti: ‘natthi kho me taṁ pariyuṭṭhānaṁ ajjhattaṁ appahīnaṁ, yenāhaṁ pariyuṭṭhānena pariyuṭṭhitacitto yathābhūtaṁ nappajāneyyaṁ na passeyyaṁ. Suppaṇihitaṁ me mānasaṁ saccānaṁ bodhāyā’ti. Idamassa paṭhamaṁ ñāṇaṁ adhigataṁ hoti ariyaṁ lokuttaraṁ asādhāraṇaṁ puthujjanehi.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là tri kiến thuộc về bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chân chánh diệt tận khổ đau? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi đến ngôi rừng, hay đi đến dưới gốc cây, hay đi đến chỗ trống vắng và suy nghĩ như sau: “Không biết ta có nội triền nào chưa đoạn trừ không? Do nội triền này nếu tâm ta bị triền phược, thì ta không thể biết như thật, không thể thấy như thật?” Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo bị tham dục triền phược, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo bị sân triền phược, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo bị hôn trầm thụy miên triền phược, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo bị trạo hối triền phược, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo bị nghi triền phược, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có tâm bị thế sự đời này ràng buộc, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo có tâm bị thế sự đời sau ràng buộc, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Tỷ-kheo sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau với những binh khí miệng lưỡi, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. […] Vị ấy biết rõ như sau: “Ta không có nội triền chưa được đoạn trừ, do nội triền này nếu tâm ta bị triền phược, ta không thể biết như thật, không thể thấy như thật. Ý của ta được khéo hướng đến sự giác ngộ các sự thật”. Ðó là trí thứ nhất mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không thể cọng chứng.

Pāḷi: mn48:8.1–8.15 · Việt (HT. Thích Minh Châu): mn48/vi/minh_chau

Trí thứ hai — tự thân được tịch chỉ, được an tịnh

Vị Thánh đệ tử xét: thực hành, tu tập, làm cho sung mãn cái thấy này, ta có tự mình đạt được sự lắng dịu (samatha) và sự an tịnh (nibbuti) không? Vị ấy biết là có. Cái thấy ở đây không phải lý thuyết, vì chính người thực hành tự thấy nó làm tâm mình lắng xuống.

Trí thứ hai: tự thân được tịch chỉ — MN48 §9

Puna caparaṁ, bhikkhave, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘imaṁ nu kho ahaṁ diṭṭhiṁ āsevanto bhāvento bahulīkaronto labhāmi paccattaṁ samathaṁ, labhāmi paccattaṁ nibbutin’ti? So evaṁ pajānāti: ‘imaṁ kho ahaṁ diṭṭhiṁ āsevanto bhāvento bahulīkaronto labhāmi paccattaṁ samathaṁ, labhāmi paccattaṁ nibbutin’ti. Idamassa dutiyaṁ ñāṇaṁ adhigataṁ hoti ariyaṁ lokuttaraṁ asādhāraṇaṁ puthujjanehi.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Trong khi ta thực tập, tu tập, luyện tập nhiều lần tri kiến này; ta tự đạt được tịch chỉ, ta tự đạt được tịnh chỉ”. Vị này biết rõ như sau: “Trong khi ta thực tập, tu tập, luyện tập nhiều lần tri kiến này; ta tự đạt được tịch chỉ, ta tự đạt được tịch chỉ”. Ðó là trí thứ hai mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không thể cọng chứng.

Pāḷi: mn48:9.1–9.5 · Việt (HT. Thích Minh Châu): mn48/vi/minh_chau

Trí thứ ba — cái thấy này không có ở ngoài

Vị ấy xét: ngoài Giáo pháp này, có Sa-môn hay Bà-la-môn nào thành tựu cái thấy như ta không? Và biết là không có. Đây là xác tín từ chính kinh nghiệm chứng nghiệm, không phải ý khinh chê người khác.

Trí thứ ba: kiến này không có ở ngoài — MN48 §10

Puna caparaṁ, bhikkhave, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘yathārūpāyāhaṁ diṭṭhiyā samannāgato, atthi nu kho ito bahiddhā añño samaṇo vā brāhmaṇo vā tathārūpāya diṭṭhiyā samannāgato’ti? So evaṁ pajānāti: ‘yathārūpāyāhaṁ diṭṭhiyā samannāgato, natthi ito bahiddhā añño samaṇo vā brāhmaṇo vā tathārūpāya diṭṭhiyā samannāgato’ti. Idamassa tatiyaṁ ñāṇaṁ adhigataṁ hoti ariyaṁ lokuttaraṁ asādhāraṇaṁ puthujjanehi.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Tri kiến như ta đã thành tựu có thể có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào ngoài tổ chức này, thành tựu tri kiến như vậy không?” Vị ấy hiểu rõ như sau: “Tri kiến như ta đã thành tựu không có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác, ngoài tổ chức này, thành tựu tri kiến như vậy”. Ðó là tri thứ ba mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không thể cọng chứng.

Pāḷi: mn48:10.1–10.5 · Việt (HT. Thích Minh Châu): mn48/vi/minh_chau

Trí thứ tư — phạm lỗi thì phát lộ ngay

Vị ấy xét xem mình có tánh chất (dhammatā) của người thành tựu kiến không. Tánh chất ấy là: nếu có lỡ phạm một lỗi thuộc loại có thể sám hối để ra khỏi tội, vị ấy liền nói ra, trình bày, làm rõ trước bậc Đạo Sư hay các vị đồng phạm hạnh có trí, rồi giữ gìn về sau. Ví dụ: đứa bé còn nằm ngửa, tay hay chân chạm phải than hồng thì lập tức rút lại. Kinh không nói bậc Dự lưu không bao giờ phạm lỗi; kinh nói vị ấy không che giấu lỗi. Đặt cạnh chuyện Kosambī — nơi cả hai phe cãi nhau quanh một lỗi nhỏ — đây là cách giải quyết ngay từ gốc.

Trí thứ tư: phạm lỗi thì phát lộ ngay — MN48 §11

Puna caparaṁ, bhikkhave, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘yathārūpāya dhammatāya diṭṭhisampanno puggalo samannāgato, ahampi tathārūpāya dhammatāya samannāgato’ti. Kathaṁrūpāya ca, bhikkhave, dhammatāya diṭṭhisampanno puggalo samannāgato? Dhammatā esā, bhikkhave, diṭṭhisampannassa puggalassa: kiñcāpi tathārūpiṁ āpattiṁ āpajjati, yathārūpāya āpattiyā vuṭṭhānaṁ paññāyati, atha kho naṁ khippameva satthari vā viññūsu vā sabrahmacārīsu deseti vivarati uttānīkaroti; desetvā vivaritvā uttānīkatvā āyatiṁ saṁvaraṁ āpajjati. Seyyathāpi, bhikkhave, daharo kumāro mando uttānaseyyako hatthena vā pādena vā aṅgāraṁ akkamitvā khippameva paṭisaṁharati; evameva kho, bhikkhave, dhammatā esā diṭṭhisampannassa puggalassa: kiñcāpi tathārūpiṁ āpattiṁ āpajjati yathārūpāya āpattiyā vuṭṭhānaṁ paññāyati, atha kho naṁ khippameva satthari vā viññūsu vā sabrahmacārīsu deseti vivarati uttānīkaroti; desetvā vivaritvā uttānīkatvā āyatiṁ saṁvaraṁ āpajjati. So evaṁ pajānāti: ‘yathārūpāya dhammatāya diṭṭhisampanno puggalo samannāgato, ahampi tathārūpāya dhammatāya samannāgato’ti. Idamassa catutthaṁ ñāṇaṁ adhigataṁ hoti ariyaṁ lokuttaraṁ asādhāraṇaṁ puthujjanehi.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Pháp tánh (Dhammata) mà một vị chứng được tri kiến thành tựu, pháp tánh như vậy ta có thành tựu hay không?” Và này các Tỷ-kheo, pháp tánh ấy là gì mà một vị chứng được tri kiến thành tựu? Ðây là pháp tánh, này các Tỷ-kheo, mà một vị chứng được tri kiến thành tựu. Bất cứ giới tội nào vị này vi phạm, giới tội ấy liền được xuất tội. Vị này lập tức phát lộ, tỏ bày, trình bày trước bậc Ðạo Sư hay trước các vị đồng phạm hạnh có trí. Sau khi phát lộ, tỏ bày, trình bày, vị ấy phòng hộ gìn giữ trong tương lai. Này các Tỷ-kheo, ví như một đứa trẻ con, ngây thơ, nằm ngửa, lập tức rút lui tay hay chân nếu tay hay chân của nó chạm phải than đỏ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đây là pháp tánh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu. Bất cứ giới tội nào vị này vi phạm, giới tội ấy liền được xuất tội. Vị này lập tức phát lộ, tỏ bày, trình bày trước bậc Ðạo Sư hay trước các vị đồng phạm hạnh có trí. Sau khi phát lộ, tỏ bày, trình bày, vị ấy phòng hộ gìn giữ trong tương lai. Vị ấy biết rõ như sau: “Pháp tánh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu, pháp tánh như vậy ta có thành tựu”. Như vậy là trí thứ tư mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không thể cọng chứng.

Pāḷi: mn48:11.1–11.13 · Việt (HT. Thích Minh Châu): mn48/vi/minh_chau

Trí thứ năm — lo việc chung mà vẫn tha thiết ba học

Tánh chất thứ hai: dù bận rộn với đủ việc lớn nhỏ cần làm cho các vị đồng phạm hạnh, vị ấy vẫn tha thiết hướng về tăng thượng giới, tăng thượng tâm, tăng thượng tuệ. Ví dụ: con bò mẹ có con bê non vừa gặm cỏ vừa luôn để mắt đến con.

Trí thứ năm: lo việc chung mà vẫn tha thiết ba học — MN48 §12

Puna caparaṁ, bhikkhave, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘yathārūpāya dhammatāya diṭṭhisampanno puggalo samannāgato, ahampi tathārūpāya dhammatāya samannāgato’ti. Kathaṁrūpāya ca, bhikkhave, dhammatāya diṭṭhisampanno puggalo samannāgato? Dhammatā esā, bhikkhave, diṭṭhisampannassa puggalassa: kiñcāpi yāni tāni sabrahmacārīnaṁ uccāvacāni kiṅkaraṇīyāni tattha ussukkaṁ āpanno hoti, atha khvāssa tibbāpekkhā hoti adhisīlasikkhāya adhicittasikkhāya adhipaññāsikkhāya. Seyyathāpi, bhikkhave, gāvī taruṇavacchā thambañca ālumpati vacchakañca apacinati; evameva kho, bhikkhave, dhammatā esā diṭṭhisampannassa puggalassa: kiñcāpi yāni tāni sabrahmacārīnaṁ uccāvacāni kiṅkaraṇīyāni tattha ussukkaṁ āpanno hoti, atha khvāssa tibbāpekkhā hoti adhisīlasikkhāya adhicittasikkhāya adhipaññāsikkhāya. So evaṁ pajānāti: ‘yathārūpāya dhammatāya diṭṭhisampanno puggalo samannāgato, ahampi tathārūpāya dhammatāya samannāgato’ti. Idamassa pañcamaṁ ñāṇaṁ adhigataṁ hoti ariyaṁ lokuttaraṁ asādhāraṇaṁ puthujjanehi.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Pháp tánh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu, pháp tánh như vậy ta có thành tựu hay không?” Và này các Tỷ-kheo, pháp tánh ấy là gì mà một vị chứng được tri kiến thành tựu? Ðây là pháp tánh, này các Tỷ-kheo, mà một vị chứng được tri kiến thành tựu. Bất luận sự việc cần phải làm dầu lớn nhỏ gì, giúp cho các vị đồng phạm hạnh; vị này nỗ lực thực hiện, nhưng tha thiết hướng đến tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học. Này các Tỷ-kheo, ví như con bò có các con bê, khi đang nhổ lùm cỏ lên (ăn), vẫn coi chừng con bê. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đây là pháp tánh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu. Bất luận sự việc cần phải làm dầu lớn nhỏ gì, giúp cho các vị đồng phạm hạnh; vị này nỗ lực thực hiện, nhưng tha thiết hướng đến tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học. Vị này biết rõ như sau: “Pháp tánh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu, pháp tánh như vậy ta có thành tựu”. Như vậy là trí thứ năm mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không thể cọng chứng.

Pāḷi: mn48:12.1–12.11 · Việt (HT. Thích Minh Châu): mn48/vi/minh_chau

Trí thứ sáu — sức mạnh lắng nghe Pháp

Tiếp theo là sức mạnh (balatā) của người thành tựu kiến: khi Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết được giảng dạy, vị ấy chú tâm, để hết tâm trí vào và lắng tai nghe Pháp.

Trí thứ sáu: sức mạnh lắng nghe Pháp — MN48 §13

Puna caparaṁ, bhikkhave, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘yathārūpāya balatāya diṭṭhisampanno puggalo samannāgato, ahampi tathārūpāya balatāya samannāgato’ti. Kathaṁrūpāya ca, bhikkhave, balatāya diṭṭhisampanno puggalo samannāgato? Balatā esā, bhikkhave, diṭṭhisampannassa puggalassa yaṁ tathāgatappavedite dhammavinaye desiyamāne aṭṭhiṁ katvā manasikatvā sabbacetasā samannāharitvā ohitasoto dhammaṁ suṇāti. So evaṁ pajānāti: ‘yathārūpāya balatāya diṭṭhisampanno puggalo samannāgato, ahampi tathārūpāya balatāya samannāgato’ti. Idamassa chaṭṭhaṁ ñāṇaṁ adhigataṁ hoti ariyaṁ lokuttaraṁ asādhāraṇaṁ puthujjanehi.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Sức mạnh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu, sức mạnh như vậy ta có thành tựu hay không?” Và này các Tỷ-kheo, sức mạnh ấy là gì mà một vị chứng được tri kiến thành tựu? Ðây là sức mạnh, này các Tỷ-kheo, một vị chứng được tri kiến thành tựu. Trong khi Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết được giảng dạy, sau khi chú tâm chú ý, chuyên chú toàn tâm trí, vị này lóng tai nghe Pháp. Vị này biết rõ như sau: “Sức mạnh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu, sức mạnh như vậy ta có thành tựu”. Như vậy là trí thứ sáu mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không có thể cọng chứng.

Pāḷi: mn48:13.1–13.7 · Việt (HT. Thích Minh Châu): mn48/vi/minh_chau

Trí thứ bảy — được nghĩa, được pháp, được hân hoan

Sức mạnh thứ hai: khi nghe Pháp, vị ấy hiểu được ý nghĩa (atthaveda), hiểu được giáo pháp (dhammaveda), và có niềm hân hoan gắn với Pháp (dhammūpasaṁhita pāmojja). Việc nghe Pháp đem lại hiểu biết và niềm vui thật sự.

Trí thứ bảy: được nghĩa, được pháp, được hân hoan — MN48 §14

Puna caparaṁ, bhikkhave, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘yathārūpāya balatāya diṭṭhisampanno puggalo samannāgato, ahampi tathārūpāya balatāya samannāgato’ti. Kathaṁrūpāya ca, bhikkhave, balatāya diṭṭhisampanno puggalo samannāgato? Balatā esā, bhikkhave, diṭṭhisampannassa puggalassa yaṁ tathāgatappavedite dhammavinaye desiyamāne labhati atthavedaṁ, labhati dhammavedaṁ, labhati dhammūpasaṁhitaṁ pāmojjaṁ. So evaṁ pajānāti: ‘yathārūpāya balatāya diṭṭhisampanno puggalo samannāgato, ahampi tathārūpāya balatāya samannāgato’ti. Idamassa sattamaṁ ñāṇaṁ adhigataṁ hoti ariyaṁ lokuttaraṁ asādhāraṇaṁ puthujjanehi.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Sức mạnh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu, sức mạnh như vậy ta có thành tựu hay không?” Và này các Tỷ-kheo, sức mạnh ấy là gì mà một vị chứng được tri kiến thành tựu? Ðây là sức mạnh, này các Tỷ-kheo, mà một vị chứng được tri kiến thành tựu. Trong khi Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết được giảng dạy, vị này chứng được nghĩa tín thọ (atthaveda), Pháp tín thọ (Dhammaveda), và sự hân hoan tương ứng với pháp; vị này hiểu rõ như sau: “Sức mạnh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu, sức mạnh như vậy ta có thành tựu”. Như vậy là trí thứ bảy mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không thể cọng chứng.

Pāḷi: mn48:14.1–14.7 · Việt (HT. Thích Minh Châu): mn48/vi/minh_chau

Bảy chi và quả Dự lưu

Kinh kết: vị Thánh đệ tử có đủ bảy chi này là người đã khéo xét kỹ tánh chất của mình để chứng quả Dự lưu — nói cách khác, đã thành tựu quả Dự lưu. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Phật dạy.

Bảy chi và quả Dự lưu — MN48 §15

Evaṁ sattaṅgasamannāgatassa kho, bhikkhave, ariyasāvakassa dhammatā susamanniṭṭhā hoti sotāpattiphalasacchikiriyāya. Evaṁ sattaṅgasamannāgato kho, bhikkhave, ariyasāvako sotāpattiphalasamannāgato hotī”ti. Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, pháp tánh được khéo an trú đối với vị Thánh đệ tử thành tựu bảy chi này để chứng được quả Dự Lưu. Như vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu bảy chi này tức là đã thành tựu Dự Lưu quả. […] Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

Pāḷi: mn48:15.1–15.4 · Việt (HT. Thích Minh Châu): mn48/vi/minh_chau

Giải thích (biên soạn)

Từ “ai đúng” đến “mình là người thế nào”. Theo Chú giải, cuộc tranh cãi bắt đầu từ một câu hỏi Luật nhỏ. Đức Phật không phân xử câu hỏi ấy. Ngài đưa từng người về lại câu hỏi về chính mình: lúc cãi nhau, thân, khẩu, ý của ta có còn từ hòa không? Sáu pháp khả niệm không phải quy tắc để thắng một cuộc tranh luận; đó là điều kiện để cuộc tranh luận không xảy ra.

Vì sao chánh kiến đứng trên cùng. Năm pháp đầu đều có thể bị giữ một cách hình thức. Chỉ khi mọi người cùng hướng về một mục đích — diệt khổ — thì sự hòa hợp mới có chỗ quy về, như các xà kèo quy về chóp mái. Cũng vì thế, trí thứ nhất kể “cãi vã, đả thương nhau bằng miệng lưỡi” ngang hàng với các triền cái: tranh cãi không chỉ làm hại Tăng chúng mà còn che mờ chính cái thấy của người tranh cãi.

Bảy trí là phép tự kiểm. Bảy trí đều có dạng “vị ấy tự xét… và biết rõ…”. Người tu không cần ai chứng nhận mà tự soi: tâm còn bị chiếm ngự không, có an tịnh không, phạm lỗi có phát lộ ngay không, bận việc có quên ba học không, nghe Pháp có hết lòng và có được niềm vui không. Hai ví dụ trong kinh — đứa bé rụt tay khỏi than hồng và bò mẹ trông con bê — cho thấy những phẩm chất ấy đã trở thành phản xạ tự nhiên chứ không còn là cố gắng gượng ép.

Các thuật ngữ liên quan: người chưa thấy Pháp là phàm phu (puthujjana); bậc Dự lưu đứng đầu hàng hữu học (sekha). Về đời sống chung của Tăng, xem thêm hòa hợp.

Đối chiếu các tạng

  • Hán tạng: SuttaCentral không ghi bản Hán tương đương cho MN48 (danh sách parallels của MN48 trống; kho corpus cũng không có mục này). Bản trước của bài ghi “Trung A-hàm 141” là sai và đã được gỡ. Cùng bối cảnh tranh chấp ở Kosambī có thể đọc ở Trung A-hàm 72 — Kinh Trường Thọ Vương Bổn Khởi (tương đương MN128, không phải MN48), mở đầu: 一時,佛遊拘舍彌,在瞿師羅園。爾時,拘舍彌諸比丘數共鬪諍。 — “Một thời Đức Phật trú tại Câu-xá-di, trong vườn Cù-sư-la. Bấy giờ các Tỳ-kheo ở Câu-xá-di đã nhiều lần cãi vã nhau.” (bản Việt HT. Thích Tuệ Sỹ; tham khảo học thuật).
  • Pāḷi: sáu pháp khả niệm còn được nhắc lại ở những chỗ khác trong Nikāya; đời sống hòa hợp mẫu mực của Tăng chúng có trong MN31 — Tiểu Kinh Rừng Sừng Bò.
  • English: The Mendicants of Kosambī, Bhikkhu Sujato (SuttaCentral).

Tra cứu trong bài

Nguồn tham khảo

📖 Nguồn / bản quyền: SuttaCentral — MN 48 (Kosambiya Sutta)