MN31 — Tiểu Kinh Rừng Sừng Bò (Cūḷagosiṅga Sutta)
Tóm tắt nhanh: Đức Phật ghé khu rừng ta-la Gosiṅga, nơi ba vị Anuruddha, Nandiya và Kimbila cùng tu. Ngài hỏi ba điều: sống có hòa hợp không, có tinh cần không, và đã chứng đắc gì. Câu trả lời trở thành khuôn mẫu cho đời sống tăng đoàn: giữ thân – khẩu – ý từ hòa cả trước mặt lẫn sau lưng, buông ý mình để thuận theo ý bạn đồng tu — “khác thân mà đồng một tâm”.
🔗 Song tạng: Bài này có bản Hán tạng tương đương — MA185 — Kinh Ngưu Giác Sa-la Lâm (Trung A-hàm 185).
Bối cảnh
Một thời Thế Tôn ở Nādika (Ñātika), tại nhà gạch Giñjakāvasatha. Ba vị Tôn giả Anuruddha, Nandiya, Kimbila trú ở khu vườn rừng ta-la Gosiṅga. Chiều tối, Đức Phật đi đến; người giữ vườn ngăn lại vì sợ phiền ba vị đang tu, nhưng Anuruddha nhận ra: “Thế Tôn, bậc Đạo Sư của chúng tôi đã đến.” Ba vị ra đón — một người cầm y bát, một người soạn chỗ ngồi, một người đặt nước rửa chân. Thế Tôn ngồi xuống, rửa chân, rồi trước hết hỏi thăm: các vị có kham nhẫn, có đủ sống, có mệt nhọc vì đi khất thực không — ba vị đáp: kham nhẫn, đủ sống, không mệt nhọc vì khất thực.
Câu hỏi về sự hòa hợp
“Kacci pana vo, anuruddhā, samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṁ piyacakkhūhi sampassantā viharathā”ti?
—Này các Anuruddha, các Ông có sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, không có cãi nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm không?
Pāḷi: mn31/pli/ms · Việt (HT. Thích Minh Châu): mn31/vi/minh_chauĐức Phật không hỏi họ đã chứng gì trước — Ngài hỏi chuyện sống chung. Với Ngài, sự hòa hợp của Tăng đoàn là nền của mọi tu tập.
Bí quyết: khác thân mà đồng một tâm
Tassa mayhaṁ, bhante, imesu āyasmantesu mettaṁ kāyakammaṁ paccupaṭṭhitaṁ āvi ceva raho ca; mettaṁ vacīkammaṁ paccupaṭṭhitaṁ āvi ceva raho ca; mettaṁ manokammaṁ paccupaṭṭhitaṁ āvi ceva raho ca.
So kho ahaṁ, bhante, sakaṁ cittaṁ nikkhipitvā imesaṁyeva āyasmantānaṁ cittassa vasena vattāmi. Nānā hi kho no, bhante, kāyā ekañca pana maññe cittan”ti.
Bạch Thế Tôn, do vậy, đối với các vị đồng phạm hạnh này, con khởi lên từ thân nghiệp trước mặt và sau lưng, con khởi lên từ khẩu nghiệp, trước mặt và sau lưng, con khởi lên từ ý nghiệp, trước mặt và sau lưng. […] Bạch Thế Tôn, con từ bỏ tâm của con, và sống thuận theo tâm của những Tôn giả ấy. Bạch Thế Tôn, chúng con tuy khác thân nhưng giống như đồng một tâm.
Pāḷi: mn31:7.4–7.10 · Việt (HT. Thích Minh Châu): mn31/vi/minh_chau
Tinh cần trong im lặng
Khi Đức Phật hỏi về sự không phóng dật, ba vị kể nếp sống thường ngày: ai khất thực về trước thì soạn chỗ ngồi, nước uống; ai về sau thì dọn dẹp, quét nhà ăn; thấy ghè nước cạn thì lo đầy lại, nếu nặng quá thì ra hiệu bằng tay gọi người thứ hai cùng khiêng — không vì việc ấy mà phá sự im lặng.
Pañcāhikaṁ kho pana mayaṁ, bhante, sabbarattikaṁ dhammiyā kathāya sannisīdāma.
Và đến ngày thứ năm, bạch Thế Tôn, suốt cả đêm, chúng con ngồi đàm luận về đạo pháp.
Pāḷi: mn31:9.8 · Việt (HT. Thích Minh Châu): mn31/vi/minh_chauCác tầng chứng đắc — chín bậc an trú
Sau cùng Đức Phật hỏi về pháp thượng nhân (uttari manussadhamma). Kinh đi theo một khuôn lặp lại: mỗi lần ba vị trình một tầng, Đức Phật khen “Lành thay, lành thay” rồi hỏi tiếp — có vượt qua, làm cho khinh an sự an trú kia, và chứng một pháp thượng nhân khác không? Cứ thế, kinh dẫn lên đủ chín bậc: bốn tầng Thiền sắc giới, bốn xứ vô sắc, và sau cùng là Diệt thọ tưởng định cùng sự đoạn tận lậu hoặc.
Bốn tầng Thiền
Idha mayaṁ, bhante, yāvadeva ākaṅkhāma vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharāma.
Ở đây, bạch Thế Tôn, lâu cho đến khi chúng con muốn, chúng con ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ.
Pāḷi: mn31:10.4 · Việt (HT. Thích Minh Châu): mn31/vi/minh_chauIdha mayaṁ, bhante, yāvadeva ākaṅkhāma vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharāma.
Ở đây, bạch Thế Tôn, lâu cho đến khi chúng con muốn, chúng con diệt tầm diệt tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm.
Pāḷi: mn31:11-13.4 · Việt (HT. Thích Minh Châu): mn31/vi/minh_chauIdha mayaṁ, bhante, yāvadeva ākaṅkhāma pītiyā ca virāgā upekkhakā ca viharāma, satā ca sampajānā, sukhañca kāyena paṭisaṁvedema, yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti: ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharāma.
Ở đây, lâu cho đến khi chúng con muốn, chúng con ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba
Pāḷi: mn31:14.4 · Việt (HT. Thích Minh Châu): mn31/vi/minh_chauIdha mayaṁ, bhante, yāvadeva ākaṅkhāma sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā, pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā, adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharāma.
Ở đây, lâu cho đến khi chúng con muốn, chúng con xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Pāḷi: mn31:15.4 · Việt (HT. Thích Minh Châu): mn31/vi/minh_chauBốn xứ vô sắc
Idha mayaṁ, bhante, yāvadeva ākaṅkhāma sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharāma.
Idha mayaṁ, bhante, yāvadeva ākaṅkhāma sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharāma …pe…
sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharāma …pe…
sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharāma.
Ở đây lâu cho đến khi chúng con muốn, chúng con vượt lên mọi sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, không tác ý đối với dị tưởng; chúng con nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ. […] Ở đây, lâu cho đến khi chúng con muốn; chúng con vượt qua mọi Không vô biên xứ, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ … (như trên) … Ở đây, lâu cho đến khi chúng con muốn; chúng con vượt qua mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ … (như trên) … Ở đây, lâu cho đến khi chúng con muốn; chúng con vượt qua mọi Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Pāḷi: mn31:16.4, 17.4–17.6 · Việt (HT. Thích Minh Châu): mn31/vi/minh_chauDiệt thọ tưởng định và lậu tận
Idha mayaṁ, bhante, yāvadeva ākaṅkhāma sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharāma, paññāya ca no disvā āsavā parikkhīṇā.
Imamhā ca mayaṁ, bhante, phāsuvihārā aññaṁ phāsuvihāraṁ uttaritaraṁ vā paṇītataraṁ vā na samanupassāmā”ti.
Ở đây, lâu cho đến khi chúng con muốn; chúng con vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng định. Sau khi đã thấy nhờ trí tuệ, các lậu hoặc của chúng con được đoạn trừ. […] Bạch Thế Tôn, chúng con không thấy một lạc trú nào khác cao thượng hơn, thù thắng hơn sự lạc trú này.
—Lành thay, lành thay, các Anuruddha ! Này các Anuruddha , ngoài lạc trú này, không có một lạc trú nào khác cao thượng hơn, thù thắng hơn.
Pāḷi: mn31:18.4–18.8 · Việt (HT. Thích Minh Châu): mn31/vi/minh_chau| Bậc | Tầng an trú | Pāḷi |
|---|---|---|
| 1 | Thiền thứ nhất | paṭhama jhāna |
| 2 | Thiền thứ hai | dutiya jhāna |
| 3 | Thiền thứ ba | tatiya jhāna |
| 4 | Thiền thứ tư | catuttha jhāna |
| 5 | Không vô biên xứ | ākāsānañcāyatana |
| 6 | Thức vô biên xứ | viññāṇañcāyatana |
| 7 | Vô sở hữu xứ | ākiñcaññāyatana |
| 8 | Phi tưởng phi phi tưởng xứ | nevasaññānāsaññāyatana |
| 9 | Diệt thọ tưởng định + lậu tận | saññāvedayitanirodha, āsavakkhaya |
Anuruddha biết tâm bạn tu
Đức Phật thuyết pháp, khích lệ rồi ra về. Tiễn Ngài xong, Nandiya và Kimbila hỏi lại Anuruddha: chúng tôi chưa từng nói với Tôn giả mình chứng những gì, sao Tôn giả lại trình trước Thế Tôn đến tận sự đoạn trừ lậu hoặc?
api ca me āyasmantānaṁ cetasā ceto paricca vidito: ‘imāsañca imāsañca vihārasamāpattīnaṁ ime āyasmanto lābhino’ti. Devatāpi me etamatthaṁ ārocesuṁ
với tâm của tôi, tôi biết được tâm của các Tôn giả: “Chư Tôn giả này là Người đã chứng và an trú quả này, an trú quả này”. Và chư Thiên có nói với tôi về vấn đề này
Pāḷi: mn31:20.5–20.7 · Việt (HT. Thích Minh Châu): mn31/vi/minh_chauChi tiết này khép lại chủ đề “đồng một tâm”: ba vị không khoe chứng đắc với nhau, nhưng tâm đã thông nhau đến mức không cần nói.
Dạ-xoa Dīgha Parajana và tiếng tán thán lan đến Phạm thiên
Dạ-xoa Dīgha Parajana đến đảnh lễ Đức Phật và nói: thật lợi ích thay cho dân Vajjī, nơi có Như Lai và ba thiện nam tử này cư trú. Nghe vậy, các địa thần truyền tiếng ấy lên — qua Tứ Thiên vương, Ba mươi ba, Dạ-ma, Đâu-suất, Hóa lạc, Tha hóa tự tại — đến tận Phạm chúng thiên.
Itiha te āyasmanto tena khaṇena tena layena tena muhuttena yāva brahmalokā viditā ahesuṁ.
Passa, dīgha, yāva ete tayo kulaputtā bahujanahitāya paṭipannā bahujanasukhāya lokānukampāya, atthāya hitāya sukhāya devamanussānan”ti.
Như vậy, trong giờ phút này, trong sát-na này, các Tôn giả ấy được biết cho đến Phạm thiên.
Này Dīgha , hãy xem ba Thiện nam tử này sống như thế nào? —Vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
Pāḷi: mn31:21.19, 22.13 · Việt (HT. Thích Minh Châu): mn31/vi/minh_chauĐức Phật xác nhận và mở rộng: gia đình, họ hàng, làng, thị trấn, thành phố, quốc độ — cho đến cả thế gian với chư Thiên, Ma, Phạm thiên — nếu nhớ đến ba vị với tâm hoan hỷ thì được an lạc, hạnh phúc lâu dài.
Giải thích (biên soạn)
Bài kinh đặt thứ tự rất đáng chú ý: hòa hợp → tinh cần → chứng đắc (trọn chín bậc, đến lậu tận) → lợi ích lan ra cả thế gian. Thiền định không mọc lên giữa một cộng đồng bất hòa. Cách ba vị giữ hòa hợp cũng rất cụ thể: không chỉ tử tế khi có mặt nhau mà cả sau lưng (āvi ceva raho ca); và chủ động đặt ý mình xuống (sakaṁ cittaṁ nikkhipitvā) để thuận theo bạn tu. Đây không phải là đánh mất mình, mà là buông cái “ta muốn” — chính là thực tập từ bi trong đời sống thường nhật. Hình ảnh nước với sữa (khīrodakībhūtā) về sau trở thành cách nói kinh điển cho một Tăng đoàn hòa hợp.
Đối chiếu các tạng
- Hán tạng: Trung A-hàm 185 牛角娑羅林經 (Ngưu Giác Sa-la Lâm kinh). Đọc trên site: MA185. Cả hai bản đều kết bằng tiếng tán thán lan đến cõi Phạm thiên; bản Hán thêm đoạn tứ vô lượng tâm trong phần chứng đắc.
- Hán tạng (tương tự): Tăng nhất A-hàm 24.8.
- Luật tạng Pāḷi: chuyện ba vị cũng được kể trong Kosambakakkhandhaka (Mahāvagga X), đặt cạnh câu chuyện Tăng chúng Kosambī bất hòa.
- English: The Shorter Discourse at Gosiṅga (Bhikkhu Sujato).
Tra cứu trong bài
- Thuật ngữ: Hòa hợp (samagga) · Pháp thượng nhân · Thiền (jhāna) · Từ bi
- Nhân vật: Anuruddha · Nandiya · Kimbila · Đức Phật
- Địa danh: Rừng ta-la Gosiṅga
Nguồn tham khảo
- Pāḷi: suttacentral.net/mn31/pli/ms
- Việt — HT. Thích Minh Châu: suttacentral.net/mn31/vi/minh_chau
- English — Bhikkhu Sujato: suttacentral.net/mn31/en/sujato
- Hán — Trung A-hàm 185: suttacentral.net/ma185/lzh/taisho · bài trên site: MA185
- Trang kinh: suttacentral.net/mn31 .net/ma185/lzh/taisho) · bài trên site: MA185
- Trang kinh: suttacentral.net/mn31
📖 Nguồn / bản quyền: SuttaCentral — MN 31 (Cūḷagosiṅga Sutta)