Phật giáo Việt Nam thời kỳ Mâu Tử: Lý hoặc luận nói gì, học giả nghĩ gì?

Mâu Tử ngồi bên án thư ở Giao Chỉ cuối đời Hán, đối đáp với một nho sĩ — Phật giáo Việt Nam thời kỳ Mâu Tử và Lý hoặc luận

Tóm tắt nhanh: Lý hoặc luận (牟子理惑論) gồm lời tự thuật của Mâu Tử, người đưa mẹ tránh loạn sang Giao Chỉ cuối đời Hán, cùng 37 điều hỏi đáp đáp lại những người chê ông “bỏ năm kinh mà theo đạo khác”; bản còn lại nằm trong Hoằng minh tập của Tăng Hựu. Niên đại sách đã bị tranh luận từ thế kỷ XVI: Lương Khải Siêu, Tokiwa, Matsumoto cho là ngụy tác thế kỷ IV–V; Maspéro, Fukui, Zürcher đặt sau năm 251; Pelliot, Hồ Thích, Dư Gia Tích xếp vào cuối đời Hán. Lê Mạnh Thát đề nghị khoảng năm 198 và cho Mâu Tử là người Việt; Nguyễn Lang cũng đặt sách vào cuối thế kỷ II nhưng cho rằng có đoạn thêm về sau, còn các sách giáo khoa trong kho gọi Mâu Tử là người Hán. Theo phần lớn các sách đã dẫn, Lý hoặc luận là tư liệu chính để hình dung Phật giáo Giao Chỉ cuối thế kỷ II: có sa-môn giữ 250 giới, kinh sách nhiều, truyện tiền thân phổ biến, đạo Phật phải đối thoại với Nho học và thuật thần tiên. Bài này tách riêng lời văn bản, luận điểm của từng học giả và các điểm còn tranh luận.

Bối cảnh: Giao Chỉ cuối đời Hán và lời tự thuật của Mâu Tử

Cuối thế kỷ II, nhà Hậu Hán rối loạn. Hán Linh đế mất năm 189, rồi Đổng Trác chuyên quyền và các tướng cát cứ khắp nơi (Lê Mạnh Thát, tr. 234). Giao Chỉ, nơi Sĩ Nhiếp làm thái thú hơn bốn mươi năm, trở thành chỗ trú chân của nhiều sĩ nhân phương Bắc. Lê Mạnh Thát dịch truyện Sĩ Nhiếp trong Ngô chí:

“Nhiếp tính khí khoan hậu, khiêm hư hạ sĩ, sĩ nhân Trung Quốc đến dựa tị nạn kể cả số trăm” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 234

Trong số đó có những tên tuổi như Hứa Tĩnh, Viên Huy, Lưu Hy, Trình Bỉnh, Tiết Tôn (tr. 239–242). Cùng thời ấy, Ngô chí còn tả cảnh anh em Sĩ Nhiếp ra vào có “người Hồ đi sát xe đốt hương”, một chi tiết mà Hồ Thích, Fukui, Nguyễn Lang và Lê Mạnh Thát đều đem ra bàn khi nói về Phật giáo Giao Chỉ (Lê Mạnh Thát, tr. 280–283; Nguyễn Lang, tr. 31–32).

Lý hoặc luận mở đầu bằng một đoạn tự thuật mà các nhà nghiên cứu thường gọi là phần “tự truyện”. Theo bản dịch của Lê Mạnh Thát:

“Thời ấy, sau khi Linh đế băng hà, thiên hạ nhiễu loạn, chỉ có Giao Châu tạm yên. Người lạ phương Bắc đều đến để ở, phần lớn luyện phép tịch cốc trường sinh của thần tiên. Người bấy giờ phần nhiều là kẻ có học. Mâu Tử thường đem năm kinh vặn hỏi. Đạo gia thuật sĩ không ai dám đáp, ví ông với Mạnh Kha cụ Dương Chu, Mặc Địch.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 222

Câu “người lạ phương Bắc đều đến để ở” ứng với nguyên văn 「北方異人咸來在焉」 (CBETA T52n2102, tờ 1b04). Tự thuật kể tiếp: ông đưa mẹ tránh loạn ở Giao Chỉ, 26 tuổi về Thương Ngô cưới vợ, hai lần từ chối làm quan, rồi nhận lời châu mục đi mượn đường Linh Lăng, Quế Dương khi em châu mục bị Trức Dung giết, nhưng mẹ mất nên không đi. Đoạn cuối nói lý do viết sách:

“Do thế ông dốc chí vào đạo Phật, gồm ngâm Lão Tử năm ngàn chữ, ngậm huyền diệu làm rượu ngon, chơi năm kinh làm đàn sáo. Bọn thế tục phần nhiều cho là không phải, bảo là bỏ năm kinh mà theo đạo khác. Muốn cãi thì không phải đạo, mà muốn im thì không thể, nên đã lấy bút mực, gọn dẫn lời thánh hiền để chứng giải, đề tên Mâu Tử Lý hoặc luận” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 223

Tên sách, theo Nguyễn Lang, có nghĩa là những luận lý “để làm tiêu tan mối nghi hoặc về Phật Giáo” (tr. 42). Như vậy, ngay từ lời tự thuật, sách đã cho biết người đọc mà nó nhắm tới là giới có học thuộc Nho và Lão, chứ không phải người đã theo Phật.

Cách đọc bài này. Chúng tôi tách ba lớp:

  1. Văn bản: Lý hoặc luận nói gì, bản còn lại đến với chúng ta qua đường nào.
  2. Luận điểm học giả: mỗi nhà nghiên cứu định niên đại, xác định tác giả và đọc nội dung sách ra sao.
  3. Điểm còn tranh luận: những chỗ các nguồn trong kho chưa thống nhất hoặc chưa có cứ liệu độc lập.

Lời dịch Lý hoặc luận chỉ có trong kho tư liệu qua những đoạn trích của Lê Mạnh Thát và Nguyễn Lang; kho không có trọn bản dịch. Vì vậy, với những điều không có bản dịch trong kho, chúng tôi chỉ tóm ý theo nguyên văn Hán (CBETA) và ghi rõ người viết tóm. Lời trích sách chép nguyên văn từ bản OCR trong kho, giữ cả chính tả OCR.

Minh hoạ bối cảnh: phố thị Giao Chỉ cuối đời Hán, cỗ xe ngựa có lọng của quan thái thú đi qua, người thổi sáo đi trước, hai người Hồ đi sát xe cầm lư đốt hương, dân chúng đứng hai bên đường

Lớp văn bản: Lý hoặc luận đến với chúng ta bằng đường nào

1. Bản còn lại: Hoằng minh tập của Tăng Hựu

Bản Lý hoặc luận còn lại ngày nay là bản Tăng Hựu “sao soạn” vào quyển 1 Hoằng minh tập (弘明集). Trước đó, sách đã có tên trong mục lục Pháp luận do Lục Trừng soạn khoảng năm 465–470:

“Mâu Tử và Lý hoặc luận lần đầu tiên được ghi lại trong Pháp luận do Lục Trừng (425-494) viết theo lệnh của Minh đế nhà Lưu Tống trong khoảng những năm 465-470” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 180

Bản Hoằng minh tập không phải nguyên bản. Lê Mạnh Thát so các đoạn trích dưới tên Mâu Tử trong sách của nhiều tác giả đời sau (Lưu Hiếu Tiêu, Lý Thiện, Đạo Tuyên, Trạm Nhiên…) và thấy có những câu bản hiện nay không có:

“Điều này chứng tỏ, khi tiến hành “sao soạn” Lý hoặc luận vào Hoằng minh tập, Tăng Hựu đã cho lược bớt một số chữ hay thậm chí cả một số đoạn của nguyên bản Lý hoặc luận.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 181

Từ thế kỷ VII, các thư mục ghi một bản Mâu Tử 2 quyển lưu hành riêng; Tùy thư xếp vào mục Nho gia với lời ghi “thái úy nhà Hậu Hán là Mâu Dung soạn” (tr. 181). Đến thư mục đầu đời Tống như Sùng văn tổng mục thì không còn thấy chép Mâu Tử nữa (tr. 182). Đề sách trong bản Đại Chính tạng ghi kèm một tên khác: 「一云蒼梧太守牟子博傳」 (một chỗ nói: truyện Mâu Tử Bác, thái thú Thương Ngô; CBETA tờ 1a29). Lời ghi này về sau trở thành một đầu mối tranh luận về tác giả (xem mục dưới).

Nguyễn Lang tóm đường truyền này ngắn gọn: tác phẩm “còn giữ lại được trong bộ Hoằng Minh Tập do Tăng Hựu sưu tập, ấn hành vào đầu thế kỷ thứ sáu”, và Tùy chí “đã lầm thái úy Mâu Dung thời Chương đế (tự là Tử Ưu) với Mâu Tử thời Linh Đế” (tr. 42).

2. Sử liệu ngoài sách dùng để kiểm lời tự thuật

Phần tự thuật nhắc đích danh hai người: trung lang tướng Trức Dung (笮融) và kỵ đô úy Lưu Ngạn (劉彥). Lê Mạnh Thát đem tên họ đối chiếu với chính sử. Truyện Trức Dung trong Ngô chí chép người này giết thái thú Dự Chương là Chu Hạo; một lá sớ của Tiết Tôn chép Lưu Ngạn là người cùng quê được thứ sử Giao Châu Chu Phù trọng dụng (tr. 224–230). Từ đó ông xác định “châu mục” trong tự thuật là Chu Phù, còn người em bị giết là Chu Hạo:

“Như thế, kỵ đô úy Lưu Ngạn là một thuộc hạ của thứ sử Giao Châu Chu Phù. Chu Phù do vậy là anh cùng cha của Chu Hạo và là con của Chu Tuấn.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 230

Ông định năm Trức Dung giết Chu Hạo vào khoảng 194 và năm mẹ Mâu Tử mất vào khoảng 195 (tr. 229, 232). Hồ Thích, theo Lê Mạnh Thát, cũng đã truy Tam quốc chí và thấy các tên tuổi trong tự thuật “hoàn toàn có căn cứ và chính xác” (tr. 200). Đây là một trong những lý do chính khiến nhiều học giả tin phần tự thuật phản ánh người thật, việc thật của cuối đời Hán.

Nguyễn Lang dịch cùng đoạn này nhưng ghi tên khác: “Sạ Dung” thay vì Trức Dung, “Lưu Sản” thay vì Lưu Ngạn, và chua vào bản dịch rằng vị thái thú mời Mâu Tử làm quan là “Thái thú {Sĩ Nhiếp}” (tr. 43). Lê Mạnh Thát thì cho rằng vị thái thú ấy là thái thú Thương Ngô, và chú thích rõ: “Chớ không phải Sĩ Nhiếp, như có người đã hiểu” (tr. 254). Nguyên văn Hán chỉ ghi 「太守聞其守學」 (CBETA tờ 1b08), ngay sau câu Mâu Tử về Thương Ngô cưới vợ, không ghi tên.

Sơ đồ trục thời gian: các mốc trong lời tự thuật của Mâu Tử theo Lê Mạnh Thát (Linh đế mất 189, Trức Dung giết Chu Hạo khoảng 194, mẹ Mâu Tử mất khoảng 195, Lý hoặc luận khoảng 198) và các niên đại học giả đề nghị cho sách: Lê Mạnh Thát khoảng 198, Pelliot khoảng 196, Nguyễn Lang cuối thế kỷ II có thêm thắt thế kỷ III–V, Maspéro – Zürcher sau 251, Fukui khoảng 251, Lương Khải Siêu Đông Tấn – Lưu Tống, Tokiwa thời Lưu Tống, Matsumoto 474–493; mốc chặn là mục lục Pháp luận của Lục Trừng 465–470

3. Thiền uyển tập anh nhắc Mâu Bác

Ở Việt Nam, Lê Mạnh Thát cho rằng Thiền uyển tập anh là tác phẩm đầu tiên nhắc tới Mâu Tử: trong truyện Thông Biện, khi trả lời thái hậu Ỷ Lan về nguồn gốc Phật giáo Giao Châu, Thông Biện dẫn lời Đàm Thiên và “nhắc đến Mâu Bác và Khương Tăng Hội” (tr. 185). Nguyễn Lang chép cùng đoạn: thời ấy có “các vị Tăng như Ma Ha Kỳ Vực, Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương, Mâu Bác… cư trú tại đó” (tr. 33). Đây là lời chép đời Trần về một nhân vật thế kỷ II, nên chỉ cho biết truyền thống Phật giáo Việt Nam đời Lý–Trần đã coi Mâu Bác là một nhân vật của Phật giáo Giao Châu, chứ chưa phải bằng chứng độc lập về niên đại sách.

“Hồi ấy, có các vị Tăng như Ma Ha Kỳ Vực, Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương, Mâu Bác… cư trú tại đó.” — Trích sách Việt Nam Phật giáo sử luận, tập I, Nguyễn Lang, tr. 33

Tranh luận về niên đại và tác giả

Lê Mạnh Thát dành gần nửa chương IV (tr. 180–221) để thuật lại cuộc tranh luận này. Theo ông, cho tới đời Minh, sách được dẫn rộng rãi mà ít ai nghi; đến khi Hồ Nguyên Thụy đặt vấn đề thật giả, nó “trở thành một chủ đề tranh cãi, mà đỉnh cao là sự ra đời của 4 quan điểm khác nhau” (tr. 185). Mấu chốt, như Lê Mạnh Thát tóm, là phần tự thuật và phần nội dung có vẻ chỏi nhau: tự thuật không kể việc gì muộn hơn năm 195, nhưng nội dung lại có những chi tiết mà nhiều học giả cho là chỉ xuất hiện về sau.

1. Hồ Nguyên Thụy (thế kỷ XVI): nghi do người Lục triều viết

Hồ Nguyên Thụy (sinh năm 1551) thấy Tùy chí gán sách cho thái úy Mâu Dung, người sống trước khi Phật giáo vào Trung Quốc, nên ngờ sách là ngụy tạo. Lê Mạnh Thát dịch lời ông:

“Thường nghi văn sĩ thuộc lục triều Tấn Tống, nhân nho gia có Mâu Tử, ngụy soạn luận này để giúp đỡ Phật giáo.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 183

Dư Gia Tích về sau chỉ ra gốc của mối ngờ: tạng bản đời Minh đã đề “Lý hoặc luận, Hán Mâu Dung soạn” (tr. 201).

2. Lương Khải Siêu: ngụy tác thời Đông Tấn – Lưu Tống

Lương Khải Siêu nêu bốn lý do: tên Mâu Dung tự Tử Ưu không khớp “Mâu Tử Bác”; sách bàn chuyện Hoa – Di nên phải gần thời Di hạ luận của Cố Hoan; văn từ tầm thường; và đời Hán – Ngụy cấm người Hán xuất gia (tr. 186). Kết luận của ông, theo bản dịch của Lê Mạnh Thát, là sách là một “tác phẩm của người quê mùa không giỏi viết văn của thời Lưỡng Tấn, lục triều” (tr. 186). Chu Thúc Ca phản bác từng điểm; Fukui Kōjun bổ sung năm lý do nữa, trong đó có việc sách còn phân biệt Lão Tử với thần tiên, các câu hỏi về Phật còn “ngây thơ”, và sách nhắc Thần thư 170 quyển trong khi thời Tấn – Tống chỉ còn 50 quyển (tr. 187–188). Lê Mạnh Thát kết:

“Tóm lại, quan điểm ngụy tác thời Tấn Tống của Mâu Tử khó có thể đứng vững.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 188

3. Tokiwa Daijō: Huệ Thông chùa Trị Thành viết rồi gắn tên Mâu Tử

Năm 1910, Tokiwa thấy vài câu của Lý hoặc luận (điều 35 “khinh vũ tại cao”, điều 36 “chỉ nam vi bắc”) trùng với Bác Di hạ luận của Huệ Thông, nên cho rằng hai sách cùng một tác giả (tr. 189). Fukui phản bác: câu chữ trùng nhau giữa các tác giả là chuyện thường trong văn học Trung Quốc; Lục Trừng là người “thạc học”, từng bàn chuyện ngụy tác, viết Pháp luận vào khoảng 465–469, nên nếu Huệ Thông viết sách thì phải viết trước năm 465 và khó qua mắt Lục Trừng (tr. 189–192). Lê Mạnh Thát tóm:

“Nói tóm lại, thuyết Huệ Thông ngụy tạo Lý hoặc luận của Tokiwa đã tỏ ra là một kết luận vội vã và thiếu những chứng cớ chắc chắn, như Fukui đã phê phán, mà chúng tôi cho tóm tắt ở trên.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 193

4. Matsumoto Bunzaburō: khoảng 474–493

Matsumoto đưa ba chứng cứ: điều 1 ghi Phật nhập diệt ngày rằm tháng 2, mà ông cho là xuất phát từ kinh Đại bát niết bàn do Pháp Hiển dịch (sau năm 418); điều 21 ghi Phó Nghị giữ chức “thông sự xá nhân”, chức này đến Đông Tấn mới có; và văn cú “lén lấy” của Bác Di hạ luận (tr. 193–194). Fukui đáp: ngày rằm tháng 2 có cả trong truyền thống “tiểu thừa” và đã được biết trước Pháp Hiển; chức “thông sự xá nhân” chỉ có trong một bản Đôn Hoàng, còn bản Hoằng minh tập ghi “thông nhân” (tr. 194–196). Nguyên văn Hán bản Đại Chính quả ghi 「有通人傅毅」 (CBETA tờ 4c28). Lê Mạnh Thát thêm một lý lẽ về niên đại: nếu sách ra đời năm 474–493 thì Lục Trừng không thể ghi nó vào Pháp luận soạn khoảng 465–469. Ông kết:

“Nói tóm lại cả 3 chứng cứ của Matsumoto đều tỏ ra khá èo uột, không đủ sức để chống đỡ cho kết luận Lý hoặc luận là một ngụy tác thời Tống Tề.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 196

5. Maspéro, Fukui và Zürcher: sau năm 251

Năm 1910, khi nghiên cứu truyền thuyết Hán Minh đế mộng thấy người vàng, Henri Maspéro nhận ra hai điều: tiểu sử Phật ở điều 1 gần về văn từ với kinh Thụy ứng bản khởi (Chi Khiêm dịch khoảng 222–228); và điều 15 bàn chuyện thái tử Tu Đại Noa (Vessantara), truyện có trong Lục độ tập kinh mà truyền thống cho là Khương Tăng Hội dịch năm 251. Ông kết luận sách ra đời từ năm 251 trở đi (Lê Mạnh Thát, tr. 197). Fukui chấp nhận chứng cứ Tu Đại Noa, nhưng vẫn tin phần tự thuật, nên đề nghị Mâu Tử sinh khoảng năm 166 và viết sách khi đã ngoài 80 tuổi (tr. 197). Lê Mạnh Thát phản bác Fukui bằng chính lời tự thuật: Mâu Tử viết sách sau khi quyết định không ra làm quan vì “đời nay nhiễu nhương”:

“Như vậy, rõ ràng Mâu Tử không thể viết Lý hoặc luận vào lúc đã già, chứ khoan nói chi tới lúc đã hơn 80 tuổi, như Fukui đã đề nghị.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 198

Zürcher, theo ông, chỉ lặp lại kết luận của Maspéro (tr. 198).

6. Pelliot, Chu Thúc Ca, Hồ Thích, Dư Gia Tích: cuối đời Hán

Paul Pelliot dịch sách ra tiếng Pháp (Meou-tseu ou les doutes levés, T’oung Pao 1918–1919) và từ phần tự thuật đi đến niên đại khoảng năm 196:

“Ông phê phán mạnh mẽ thuyết Huệ Thông ngụy tác của Tokiwa, và tiến hành phân tích phần tự truyện của Mâu Tử, để cuối cùng đi đến kết luận là Lý hoặc luận phải do Mâu Tử viết khoảng năm 196 sdl.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 199

Chu Thúc Ca, Hồ Thích và Dư Gia Tích cũng xếp sách vào cuối đời Hán. Nhưng theo Lê Mạnh Thát, cả bốn người “chưa giải quyết hết được những thắc mắc của chính nội dung Lý hoặc luận đưa ra, mà nổi bật nhất là truyện thái tử Tu Đại Noa” (tr. 201).

7. Lê Mạnh Thát: khoảng năm 198, tác giả là người Việt

Lê Mạnh Thát giữ niên đại cuối đời Hán và giải chỗ vướng Tu Đại Noa bằng một giả thuyết riêng. Ông cho rằng Lục độ tập kinh bản chữ Hán hiện còn có những cấu trúc “theo ngữ pháp tiếng Việt” (như “trung tâm” để chỉ “trong lòng”), có chi tiết trăm trứng thay cho trăm cục thịt của bản Phạn, nên Khương Tăng Hội đã dịch từ một bản tiếng Việt có trước (tr. 203–208). Nếu vậy, truyện Tu Đại Noa đã lưu hành ở Giao Chỉ từ trước năm 247 và Mâu Tử có thể biết đến:

“Niên đại xuất hiện của bản kinh tiếng Việt này không thể chậm hơn năm 247, tức trước năm Khương Tăng Hội đông du qua Kiến Nghiệp, và do thế có thể lưu hành trước năm đó cả năm bảy chục năm. Nói cách khác, nó có thể tồn tại vào thời Mâu Tử viết Lý hoặc luận tức khoảng vào năm 198.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 208

Còn mốc 198 thì ông lấy từ phần tự thuật: mẹ Mâu Tử mất khoảng năm 195, người con có hiếu phải cư tang ba năm, nên “Lý hoặc luận khó mà ra đời trước năm 198 vừa nói được” (tr. 232). Ông tự gọi nhiều bước trong chuỗi suy luận này là “giả thiết”, chẳng hạn năm sinh khoảng 160 của Mâu Tử (“Lý do cho giả thiết thời điểm này sẽ nói sau”, tr. 243) hay chuyện Mâu Tử có xuất gia hay không (“ta không thể khẳng định, nhưng vẫn có thể giả thiết”, tr. 287). Kết luận về con người Mâu Tử của ông:

“Vậy, Mâu Tử có tên Dung, tự Tử Bác, sinh khoảng năm 160, viết Lý hoặc luận khoảng năm 198 và mất vào những năm 230.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 294

Ở phần cuối chương, ông viết “Mâu Tử là người Việt” (tr. 302) và giải thích việc sách không có trong mục lục của Đạo An bằng lý do nó là “một tác phẩm Việt Nam”, chỉ lưu hành ở Giao Châu một thời gian dài (tr. 301–302). Ở một chỗ khác ông viết Mâu Tử mất “khoảng những năm 220-230” (tr. 289). Hai cách ghi năm mất này khác nhau đôi chút trong cùng một chương.

8. Nguyễn Lang: cuối thế kỷ II, có đoạn thêm về sau

Nguyễn Lang đặt Mâu Tử sinh khoảng 165–170 và gọi sách là luận thuyết Phật giáo bằng chữ Hán sớm nhất, viết tại Giao Châu:

“Tập luận thuyết đầu tiên về đạo Phật bằng Hán tự đã được viết tại Giao Châu. Tác giả như ta đã biết, là Mâu Tử, sinh vào khoảng 165 - 170.” — Trích sách Việt Nam Phật giáo sử luận, tập I, Nguyễn Lang, tr. 31

Nhưng ông không coi bản hiện còn là nguyên vẹn. Về đoạn kể giấc mộng Hán Minh đế (điều 21), ông viết:

“Nếu câu chuyện thấy có chép trong tác phẩm Lý Hoặc Luận, chắc chắn đó là một sự thêm thắt sau này.” — Trích sách Việt Nam Phật giáo sử luận, tập I, Nguyễn Lang, tr. 26

Ông cũng cho rằng trong sách “ta có thể tìm ra một số từ ngữ và cách hành văn có mầu sắc thế kỷ thứ ba và thứ năm” (tr. 26). Về đời Mâu Tử, cách tính của ông khác Lê Mạnh Thát: Mâu Tử “bắt đầu học Phật vào khoảng từ năm 30 tới năm 35 tuổi” (tr. 44), và có lẽ theo đạo Phật vào khoảng năm 194, “một năm sau cái chết của thái thú Dự Chương” (tr. 43). Lê Mạnh Thát thì đặt mốc chính thức theo Phật vào khoảng năm 181–183, khi Mâu Tử chưa đến 23 tuổi (tr. 273, 276).

9. Giáo trình, sách giáo khoa và HT. Thích Thiện Hoa: Mâu Tử là người Hán

Các sách giáo khoa trong kho không bàn tranh luận niên đại, chỉ nêu Mâu Tử như một nhân vật cuối thế kỷ II. Điểm khác Lê Mạnh Thát là nguồn gốc. Giáo trình môn học ghi Mâu Tử “(sinh vào khoảng 165 đến 170) là một nhân sĩ người Hán, vì tránh loạn ở Trung Hoa mà tìm đến Giao Châu rồi học đạo Phật ở đây” (giáo trình môn LSPGVN, Chương 2, PDF tr. 27; giáo trình không có số trang in). Sách giáo khoa của TS. Thích Phước Đạt và cộng sự viết:

“Đó là tác phẩm Lý hoặc luận do Mâu Tử, một người Trung Hoa đến cư trú tại Giao Châu, diễn đạt việc bảo vệ tư tưởng Phật giáo trước sự bài bác của Nho gia và Đạo gia.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, TS. Thích Phước Đạt và cộng sự, tr. 35

Sách này còn dẫn Nguyễn Tài Thư: Mâu Bác “là người Hán, sinh vào khoảng năm 167 ở Thương Ngô” và “vốn theo đạo Lão” (tr. 35; dẫn lại, chưa đối chiếu sách gốc). HT. Thích Thiện Hoa gọi Mâu Bác là “người Trung Hoa”, người quận Thương Ngô, và là “nhà truyền-giáo đầu tiên đến Việt nam” (tr. 4); đây là lời của sách ấy, các sách khác trong kho không gọi Mâu Tử là nhà truyền giáo.

Nguyên văn tự thuật ghi Mâu Tử 「將母避世交趾。年二十六歸蒼梧娶妻」 (CBETA tờ 1b07–08): đưa mẹ tránh đời ở Giao Chỉ, 26 tuổi “về” Thương Ngô cưới vợ. Chữ “về” (歸) gợi Thương Ngô là quê. Chính Lê Mạnh Thát cũng viết ông sinh “có thể tại Quảng Tín, thủ phủ của quận Thương Ngô lúc bấy giờ, mà cũng có thể trong nước” (tr. 287). Ông suy ra Mâu Tử “có quê quán và cơ sở kinh tế ở nước ta” từ việc gia đình ông sớm có cuộc sống ổn định ở Giao Chỉ (tr. 277). Trong kho tư liệu, chúng tôi không thấy dòng sử liệu nào ghi trực tiếp quê quán của Mâu Tử ở Giao Chỉ.

Cấu trúc 37 điều

Ở đoạn kết, người hỏi thắc mắc vì sao sách có đúng 37 điều. Mâu Tử đáp rằng ông theo một khuôn có sẵn: 「吾覽佛經之要。有三十七品。老氏道經亦三十七篇。故法之焉」 (CBETA tờ 7a17–18), tức tôi xem yếu chỉ kinh Phật có 37 phẩm, Đạo kinh của họ Lão cũng 37 thiên, nên theo đó (người viết dịch). Lê Mạnh Thát đọc “37 phẩm” theo hai cách. Ở tr. 219–220, ông nêu khả năng đó là một sách tên Phật kinh chi yếu gồm 37 phẩm lưu hành ở Giao Châu. Ở tr. 304–305, ông nối con số này với 37 phẩm trợ đạo (bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, tám thánh đạo). Ông chỉ ra rằng Khương Tăng Hội về sau cũng viết “Mười hai bộ kinh thảy đều nằm trong ba mươi bảy phẩm kinh” (tr. 304).

Lê Mạnh Thát chia 37 điều thành ba nhóm:

“Phân tích 37 điều này, ta có thể chia thành 3 nhóm chính. Nhóm 1 gồm từ điều 1 đến 3 trình bày vài nét tổng quát về Phật giáo, từ sự tích đức Phật (điều 1) đến Phật là gì (điều 2) và đạo thế nào (điều 3).” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 294

Nhóm 2 (điều 4–28) “tập trung bàn về quan hệ giữa Phật giáo và Nho giáo” và lại chia ba phần (tr. 295); nhóm 3 (điều 29–37) “tập trung phê phán Đạo giáo” (tr. 296). Sơ đồ dưới đây tóm cách chia đó.

Sơ đồ cấu trúc Lý hoặc luận theo Lê Mạnh Thát: phần tự thuật; nhóm 1 điều 1–3 về Phật và đạo; nhóm 2 điều 4–28 về Phật giáo và Nho giáo, chia ba phần (4–8 tư tưởng và kinh điển, 9–19 lối sống và lễ nghĩa, 20–28 truyền bá và biện luận); nhóm 3 điều 29–37 phê phán thần tiên và Đạo giáo; đoạn kết về con số 37 và người hỏi xin thọ năm giới

Về cách đánh số. Bản CBETA không đánh số điều; nó có 41 đoạn mở bằng “hỏi rằng” (問曰, 或問曰, 或曰). Chúng tôi đếm bằng công cụ rồi đối chiếu với các số điều mà Lê Mạnh Thát tự dẫn (điều 9, 11, 12, 14, 15, 18, 21, 22, 25, 29, 31, 35, 36, 37). (không kể câu 或曰 ở tờ 3b12, vốn là lời đáp nằm giữa cuộc đối thoại của điều 12). Số điều khớp khi gộp hai đoạn “Hoặc viết” nối tiếp câu hỏi trước (tờ 3b04 vào điều 11, tờ 3b18 vào điều 12), gộp hai đoạn hỏi về tài biện luận (tờ 5b19 và 5b22) thành điều 25, và tính đoạn hỏi về con số 37 (tờ 7a13) là phần kết. Cách đánh số này cũng khớp với bản kê nội dung từng điều của Lê Mạnh Thát ở tr. 296–297 (chẳng hạn điều 16 sa-môn mua rẻ bán đắt, điều 23 “chỉ cần giỏi biện luận thôi ư”, điều 25 dùng kinh truyện giải lời Phật, điều 30 tịch cốc, điều 32 chữa bệnh). Bài này dùng cách đánh số đó. Đây là cách đếm của người viết để đối chiếu, chưa đối chiếu với bảng đánh số trong bản dịch Pelliot hay Nghiên cứu về Mâu Tử của Lê Mạnh Thát (kho không có hai sách này).

Nhóm (theo Lê Mạnh Thát)ĐiềuNội dung chínhTờ CBETA (bắt đầu)
Tự thuật–Mâu Tử đọc sách, tránh loạn ở Giao Chỉ, từ quan, mẹ mất, viết sách1b01
1. Phật và đạo1Tiểu sử Phật; kinh điển; năm giới, sáu ngày trai, 250 giới1c01
2Phật là gì2a07
3Đạo là gì2a14
2a. Tư tưởng, kinh điển4–8Đạo hư vô? kinh quá nhiều; yếu chỉ; bảy kinh không chép; 32 tướng2a19 – 2c09
2b. Lối sống, lễ nghĩa9–19Cạo tóc; không con; áo đỏ; người chết sinh lại; quỷ thần; Hoa – Di; Tu Đại Noa; sa môn hư hỏng; bố thí; thí dụ; ngày một bữa2c16 – 4c01
2c. Truyền bá, biện luận20–28Sao không bàn ở triều đình; Hán Minh đế; tu sao còn tranh luận; chỉ cần giỏi biện luận?; học sĩ chê bai; tài biện luận; dùng Thi Thư; Thái học; lời khen quá lời4c14 – 5c25
3. Thần tiên, Đạo giáo29–37Thần thư 170 quyển; rượu thịt và nhịn ăn ngũ cốc; có thể tịch cốc không; chữa bệnh; phân biệt các đạo; chưa thấy đất Phật; Vu Điền; nhịn ăn mùa đông; bất tử6a04 – 6c29
Kết–Vì sao 37 điều; người hỏi xin làm ưu-bà-tắc7a13

Chính Lê Mạnh Thát tóm tỷ lệ: trừ ba điều đầu, chín điều phê phán Đạo giáo và đoạn kết, “còn lại 25 điều hoàn toàn dành cho việc xử lý những thắc mắc về quan hệ giữa Phật giáo và Nho giáo” (tr. 297). Từ đó ông cho rằng đối tượng chính của sách là Nho giáo. Ở tr. 303–304, ông lại viết “trừ 5 điều đầu nói về Phật giáo và 7 điều nói về Lão giáo”. Hai cách đếm này khác nhau trong cùng một chương, nhưng đều cho con số 25 điều về Nho giáo.

Nội dung theo từng nhóm vấn đề

1. Đức Phật là ai: tiểu sử, định nghĩa Phật và đạo (điều 1–3)

Điều 1 kể đời Đức Phật: hoàng hậu mộng voi trắng sáu ngà, Ngài sinh ngày mồng 8 tháng 4 từ hông phải, đi bảy bước, 19 tuổi bỏ cung, tu sáu năm thành Phật, nhập niết-bàn ngày rằm tháng 2 (người viết tóm theo nguyên văn Hán, CBETA tờ 1c01–1c29). Điều 1 còn nói vì sao Phật sinh ở Thiên Trúc. Nguyễn Lang dịch ý này: “Ấn Độ mới thật là nằm giữa trời đất, và địa vị trung hòa, vì vậy Phật đã ra đời nơi đó” (tr. 56). Đoạn cuối điều 1 cho biết đời sống tu tập mà sách mô tả:

“Người giữ 5 giới, một tháng sáu ngày chay, ngày chay chuyên tâm nhất ý, hối lỗi tự đổi mới ; Sa môn giữ 250 giới, ngày ngày đều chay, giới của họ, người ưu bà tắc không được nghe” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 294

Chữ “chay” ở đây dịch chữ 齋 trong 「持五戒者。一月六齋」 (CBETA tờ 2a01): đó là ngày trai, ngày người cư sĩ giữ giới nghiêm hơn, không nhất thiết là ăn chay theo nghĩa kiêng thịt ngày nay. Sách có một chỗ khác nói rõ về rượu thịt (điều 30, xem nhóm 7).

Điều 2 định nghĩa Phật. Bản dịch của Nguyễn Lang:

“Phật là nguyên Tổ của Đạo và Đức, nguồn gốc của thần minh. Phật nghĩa là Thức Tỉnh (Giác). Ngài có thể biến hóa không cùng, phân thân tán thể, khi có đó, không đó, khi lớn khi nhỏ, khi vuông khi tròn, khi già khi trẻ, khi ẩn khi hiện, lửa không đốt được, trong bùn không nhiễm, giữa họa mà không bị tai ương, khi đi có thể bay, khi ngồi hào quang sáng chói. Đó gọi là Phật” — Trích sách Việt Nam Phật giáo sử luận, tập I, Nguyễn Lang, tr. 52

Câu cốt lõi trong nguyên văn là 「佛之言覺也」 (Phật nghĩa là giác; CBETA tờ 2a09). Hai học giả đọc đoạn này theo hai hướng gần nhau. Nguyễn Lang thấy ở đây “tín ngưỡng bình dân về Phật” kết hợp với cách trình bày cho người theo Khổng Lão (tr. 51–52). Lê Mạnh Thát nhận xét: “Đây là một đức Phật có tất cả mọi quyền năng, không phải là đức Phật lịch sử Thích Ca Mâu Ni” (tr. 305), và nối nó với quá trình bản địa hóa giáo lý “từ thời Chử Đồng Tử thông qua Bát Nàn” (tr. 305). Ở chương I, ông gọi đó là truyền thống Phật giáo quyền năng, “xuất hiện trong Mâu Tử cũng như trong Khương Tăng Hội” (tr. 28; xem bài Phật giáo Việt Nam trước Công nguyên).

Điều 3 định nghĩa đạo bằng từ ngữ rất gần Đạo đức kinh: 「道之言導也。導人致於無為」 (đạo là dẫn, dẫn người đến vô vi; CBETA tờ 2a14–15). Nguyễn Lang dịch “Đạo là dẫn dắt (lãnh đạo). Đạo dẫn dắt người tới vô vi” và chú rằng “vô vi” ở đây là niết-bàn (tr. 52). Điều 4 tiếp ý ấy. Bản dịch của Lê Mạnh Thát: “con đường đó ở nhà thì có thể thờ cha mẹ, làm chủ nước thì có thể trị dân, ở một mình thì có thể trị thân” (tr. 295).

2. Kinh điển: nhiều, dài và dùng thí dụ (điều 5–8, 18, 21)

Người hỏi chê kinh Phật quá nhiều. Nguyễn Lang dịch câu hỏi ở điều 5:

“Xưa thánh nhân chế ra bảy kinh, văn từ không quá ba vạn lời và không có gì không đủ trong từng ấy kinh văn. Ngày nay, chương điển của Phật Giáo có đến hàng ngàn ức, sức một người không thể nào đọc hết được. Tôi chán và không muốn đọc” — Trích sách Việt Nam Phật giáo sử luận, tập I, Nguyễn Lang, tr. 35

Mâu Tử đáp bằng hình ảnh sông biển và núi cao: bảy kinh như “kênh rạch”, “gò đồi”, còn kinh Phật như sông biển, như Ngũ nhạc (Lê Mạnh Thát tóm, tr. 295). Điều 6 nói kinh Phật “tuy nhiều, chỉ quy về một”, cũng như bảy kinh tuy khác nhau mà đều quý đạo đức nhân nghĩa (tr. 295). Điều 7 hỏi: nếu đạo Phật cao như thế, sao Nghiêu, Thuấn, Chu Công, Khổng Tử không học, bảy kinh không chép? Mâu Tử dẫn chuyện “Nghiêu học với Doãn Thọ, Thuấn học với Vụ Thành, Đán học Lữ Vọng, Khâu học Lão Đam”, những việc mà bảy kinh cũng không chép (tr. 298). Điều 8 bênh vực 32 tướng tốt của Phật bằng cách kể các tướng lạ mà sách Nho gán cho thánh nhân Trung Hoa (người viết tóm, CBETA tờ 2c09–2c15).

Điều 18 chê kinh Phật dùng nhiều thí dụ. Lê Mạnh Thát dịch câu hỏi:

“Kinh Phật giảng thì không chỉ vào việc, mà chỉ rộng dùng thí dụ. Thí dụ chẳng phải cốt lõi của đạo. Hợp khác làm giống, chẳng phải huyền diệu của sự việc. Tuy nhiều lời rộng tiếng, cũng giống một xe bụi ngọc, chẳng ai cho là quý” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 218

Mâu Tử đáp bằng chuyện người chưa thấy con lân: phải tả thân hoẵng, đuôi trâu, móng hươu, lưng ngựa thì người hỏi mới hiểu, và Kinh Thi, Luận ngữ, Đạo đức kinh cũng đều dùng thí dụ (người viết tóm, CBETA tờ 4b17–4b29). Lê Mạnh Thát đọc câu hỏi này như dấu hiệu cho thấy các kinh thí dụ, bản sinh đang lưu hành rộng ở Giao Châu (tr. 218). Nguyễn Lang dùng chính điều 5 và điều 18 để nói rằng số kinh lưu hành ở Giao Chỉ thời ấy “dồi dào hơn con số Đàm Thiên kể ra gấp bội” (tr. 35).

Điều 21 kể truyền thuyết Hán Minh đế mộng thấy người vàng rồi sai sứ sang nước Đại Nguyệt Chi “chép kinh Phật 42 chương, đem cất ở gian thứ 14 nhà đá Lan Đài” (Lê Mạnh Thát, tr. 214). Lê Mạnh Thát gọi sách là “tài liệu đầu tiên ghi lại truyền thuyết về giấc mộng đó” (tr. 196); Nguyễn Lang kể Lý hoặc luận cùng Lão Tử hóa Hồ kinh và bài tựa kinh Tứ thập nhị chương là những nơi câu chuyện “được ghi chép đầu tiên” (tr. 25). Hai ông đánh giá đoạn này khác nhau: Lê Mạnh Thát coi kinh Tứ thập nhị chương là một dịch phẩm đời Hán đã lưu hành từ thế kỷ II, nên việc Mâu Tử nhắc tới nó “là một điều đương nhiên không rắc rối gì” (tr. 216); Nguyễn Lang cho cả đoạn là thêm vào về sau (tr. 26, đã dẫn ở trên).

3. Xuất gia và hiếu đạo Nho gia (điều 9–11, 15–17, 19)

Đây là nhóm câu hỏi dày nhất. Người hỏi lấy chuẩn mực Nho gia để chất vấn đời sống sa-môn: cạo tóc trái Hiếu kinh, không con trái lời Mạnh Tử, áo đỏ trái lễ phục, bố thí cả vợ con trái đạo hiếu.

Điều 9: cạo tóc. Người hỏi dẫn Hiếu kinh: thân thể tóc da nhận từ cha mẹ, không dám tổn thương. Mâu Tử kể chuyện một người nước Tề đi thuyền, cha rơi xuống sông; người con dốc ngược cha cho nước chảy ra để cứu sống. Lê Mạnh Thát tóm ý câu chuyện:

“Người cha sống được. Nhưng “chúc đầu cha lộn ngược thì không gì bất hiếu lớn hơn”. Mà nếu không làm thế thì người cha sẽ chết.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 298

Mâu Tử dẫn tiếp lời Khổng Tử 「可與適道。未可與權」 (CBETA tờ 2c25), tức có người cùng đi trên đạo được nhưng chưa biết quyền biến được (người viết dịch). Ông còn đưa gương Thái Bá:

“Thái Bá cắt tóc, vẽ mình, tự theo tục của Ngô việt, trái với nghĩa thân thể tóc da; vậy mà Khổng Tử ca tụng, cho có thể gọi là chí đức.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 57

Ý chung của điều này nằm ở câu 「苟有大德。不拘於小」 (nếu có đức lớn thì không câu nệ việc nhỏ; CBETA tờ 2c29–3a01). Lê Mạnh Thát dùng điều 9 để lập luận rằng quan niệm hiếu của người Việt vốn khác Hiếu kinh, vì tục cắt tóc xăm mình của người Việt đã được chính sử Trung Quốc ghi lại (tr. 57–58). Đó là lập luận của ông về văn hóa Việt, rộng hơn nội dung điều 9.

Điều 10: không con nối dõi. Người hỏi dẫn ý bất hiếu không gì lớn bằng không con nối dõi. Mâu Tử đáp: vợ con, của cải là phần thừa của đời; giữ mình thanh tịnh, vô vi mới là chỗ diệu của đạo; Hứa Do, Bá Di, Thúc Tề không con mà Thuấn, Khổng vẫn khen là hiền (người viết tóm, CBETA tờ 3a07–3a22).

Điều 11: áo đỏ, lễ nghi. Người hỏi chê sa-môn. Bản dịch của Lê Mạnh Thát:

“Nay sa môn cạo tóc đầu, mặc áo đỏ, thấy người không có lễ nghi quì đứng, không có dung mạo đoan trang, sai trái với phép mạo phục, sai với cách ăn mặc vậy” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 250

Mâu Tử đáp bằng Đạo đức kinh (câu thượng đức bất đức) và thời Tam hoàng ăn lông ở lỗ mà vẫn có đức (người viết tóm, CBETA tờ 3a28–3b03). Chi tiết “áo đỏ” (赤布) được Lê Mạnh Thát dùng khi đối chiếu với lời Tôn Sách tả một thứ sử Giao Châu “thường mặc áo đỏ, bịt đầu, đánh đàn, đốt hương, đọc sách đạo tà tục” (tr. 245–250).

Điều 15: thái tử Tu Đại Noa. Người hỏi kể chuyện thái tử Tu Đại Noa (Vessantara) đem của cha cho người, đem cả vợ con cho người, và hỏi: như thế là bất hiếu, bất nhân, sao nhà Phật lại tôn? Mâu Tử không chối chuyện, mà dẫn những trường hợp chính lịch sử Trung Hoa cũng phá lệ:

“Qui định thứ nhất là luôn lập đích làm trưởng, nhưng Thái vương đã bỏ đích lập thư “mà thành sự nghiệp nhà Châu, đưa đến thái bình”. Qui định thứ hai là cưới vợ phải thưa với cha mẹ, nhưng vua Thuấn lấy vợ không thưa với cha mẹ, mà vẫn “thành mẫu mực lớn”.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 299

Theo nguyên văn, Mâu Tử kết rằng thái tử thấy đời vô thường, của cải không phải của mình, nên bố thí để thành đạo lớn; đến khi thành Phật thì cha mẹ anh em đều được độ, 「是不為孝。是不為仁。孰為仁孝哉」 (thế không phải là hiếu, là nhân, thì cái gì là nhân hiếu; CBETA tờ 4a13). Đây chính là điều 15 mà Maspéro dùng để định niên đại sách (xem mục tranh luận ở trên).

Điều 16: sa-môn hư hỏng. Câu hỏi này được nhiều học giả coi là chứng cứ về tăng đoàn Giao Chỉ. Bản dịch của Nguyễn Lang:

“Sa môn ngày nay có kẻ lại thích uống rượu ngon, có khi có vợ con, biết cất giữ tiền bạc, của quý, lại chuyên môn lừa dối” — Trích sách Việt Nam Phật giáo sử luận, tập I, Nguyễn Lang, tr. 30

Mâu Tử không bênh những người ấy. Ông đáp rằng người thợ giỏi trao được rìu và dây mực mà không làm thay được người học, thánh nhân trao được đạo mà không bắt người ta đi được; lỗi ở người không làm theo, không ở đạo (người viết tóm, CBETA tờ 4a18–4a26).

Điều 17 và 19. Điều 17 dẫn lời Khổng Tử và Thúc Tôn chê xa xỉ để phê việc bố thí hết của; Mâu Tử đáp rằng hai lời ấy chê sự xa xỉ vô lễ, không cấm bố thí (Lê Mạnh Thát tóm, tr. 295; nguyên văn CBETA tờ 4a27–4b13). Điều 19 chê sa-môn 「被赤布。日一食。閉六情」 (mặc áo đỏ, ngày ăn một bữa, đóng sáu tình; CBETA tờ 4c03–04), sống như thế thì còn gì vui. Mâu Tử đáp bằng lời Khổng Tử về giàu sang không chính đáng và lời Lão Tử năm màu làm mù mắt người (người viết tóm, CBETA tờ 4c04–4c13).

4. Sinh tử, hồn thần và quỷ thần (điều 12–13)

Điều 12 là chỗ sách bàn thẳng chuyện tái sinh. Lê Mạnh Thát dịch phần đầu:

“Đạo Phật nói người ta chết thì phải sinh lại. Tôi không tin điều ấy đúng thế. Mâu Tử trả lời: Người đến lúc chết, người nhà trèo lên nóc nhà mà gọi. Chết rồi thì còn gọi ai? Bảo là gọi hồn phách nó. Mâu Tử nói: Thần hồn trở lại thì sống, không trở lại thì thần hồn đi đâu? Trả lời: Thành quỷ thần” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 64

Nguyễn Lang dịch phần sau:

“Hồn thần của con người không tiêu diệt khi chết, chỉ có xác thân là mục nát thôi. Thân xác cũng ví như rễ và lá ngũ cốc, hồn thần ví như hạt giống của loại ngũ cốc. Rễ và lá có sinh tất có tử, nhưng không phải vài rễ lá hoại mà giống ngũ cốc không còn” — Trích sách Việt Nam Phật giáo sử luận, tập I, Nguyễn Lang, tr. 53

Nguyên văn: 「魂神固不滅矣。但身自朽爛耳」 (CBETA tờ 3b13–14). Ngay sau đó sách thêm một câu mà hai bản dịch trên không trích: 「得道身滅耳」, tức người đắc đạo thì thân diệt mà thôi (người viết dịch; CBETA tờ 3b16). Theo cách đọc của người viết, câu này cho thấy hình ảnh “hạt giống” nói về người chưa đắc đạo, còn tái sinh.

Hai học giả lưu ý hai điểm khác nhau. Nguyễn Lang cho rằng ý hồn thần không diệt hợp với tín ngưỡng dân gian Giao Chỉ về linh hồn, nên đạo Phật vào dễ dàng (tr. 38, 53). Ông cũng nhận xét Mâu Tử “không có những câu trả lời về sự công kích lý thuyết vô ngã” (tr. 53). Lê Mạnh Thát dùng điều 12 làm tư liệu về tục gọi hồn và thờ quỷ thần của người Việt (tr. 64–65).

Điều 13 dẫn lời Khổng Tử “chưa biết thờ người, làm sao thờ quỉ, chưa biết sự sống, sao biết sự chết” (Lê Mạnh Thát tóm, tr. 296). Mâu Tử đáp rằng chính Hiếu kinh dạy lập tông miếu, cúng tế theo mùa, sống thờ bằng yêu kính, chết thờ bằng thương xót, tức Nho gia cũng dạy chuyện quỷ thần, sinh tử; Khổng Tử chỉ nói câu ấy để răn Tử Lộ (người viết tóm, CBETA tờ 3b28–3c09).

5. Hoa và Di: “đất Hán chưa chắc là trung tâm” (điều 14)

Người hỏi dẫn Khổng Tử và Mạnh Tử để hỏi vì sao Mâu Tử bỏ đạo Nghiêu Thuấn mà học “thuật của Di Địch”. Mâu Tử đáp rằng đó là lời ông nói khi chưa hiểu đạo lớn, rồi dẫn Khổng Tử muốn đến ở đất Cửu Di, vua Vũ sinh ở Tây Khương, Do Dư sinh ở nước Địch mà giúp nước Tần làm bá. Lê Mạnh Thát tóm câu then chốt:

“Từ đó, dẫn một câu từ Tả truyện nói rằng “Sao bắc đẩu ở trung tâm của trời, nhưng lại ở phía bắc của người”, Mâu Tử nhận xét: “Đất Hán chưa chắc là trung tâm của trời đất”.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 300

Nguyên văn: 「漢地未必為天中也」 (CBETA tờ 3c22). Câu kế tiếp trong nguyên văn là 「佛經所說。上下周極含血之類物皆屬佛焉」 (tờ 3c23). Lê Mạnh Thát dịch câu này hai lần. Ở chương I, bản dịch bám sát chữ:

“Chủ trương ai cũng có thể thành Phật này, ta sẽ thấy xuất hiện lại trong Lý hoặc luận ở điều 14 của Mâu Tử với câu: “Kinh Phật giảng dạy, trên dưới trùm khắp, loài vật hàm huyết đều thuộc về Phật”” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 78

Ở cuối chương IV, ông viết “tất cả mọi loài hàm huyết đều thuộc về Phật cả, đều có Phật tánh cả” (tr. 306). Cụm “đều có Phật tánh” không có trong nguyên văn Hán của điều 14; đó là phần diễn giải của Lê Mạnh Thát.

Hai học giả đọc điều 14 rất khác nhau. Nguyễn Lang xếp nó vào tinh thần “hòa đồng” của Mâu Tử, nhằm “phá mặc cảm tự tôn về Trung Quốc”, và nhấn mạnh rằng Mâu Tử nói ông học Phật “không phải vì vậy mà tôi bỏ Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng” (tr. 56). Lê Mạnh Thát đọc nó như một khẳng định chính trị – văn hóa của người phương Nam:

“Nhận xét này của Mâu Tử phải nói là một đòn đánh chí tử vào cảm thức tự tôn dân tộc của người Hán thời bấy giờ” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 300

Ông còn nối nó với ý thức Nam – Bắc về sau, như đế hiệu Nam đế của Lý Bôn và bài Nam quốc sơn hà (tr. 301). Mối nối ấy là cách đọc của Lê Mạnh Thát. Chính ông ghi rằng việc người sống ở Giao Châu tự nhận là người phương Nam thì Lý hoặc luận không một lần đề cập tới (tr. 300–301).

6. Biện luận, Thi Thư và giới Nho học (điều 20, 22–28)

Phần thứ ba của nhóm Nho giáo xoay quanh một câu hỏi: nếu đạo Phật hay, sao không bàn ở triều đình, sao các học sĩ chê bai, sao Mâu Tử lại dùng sách Nho để nói Phật? Điều 20 hỏi vì sao Mâu Tử vẫn đọc kinh truyện, chư tử. Nguyễn Lang dịch câu trả lời:

“Khi người ta khát, người ta không đợi phải gặp sông Dương Tử hay sông Hoàng Hà, mới uống. Gặp giếng hay gặp suối người ta cũng có thể uống đủ để hết khát rồi” — Trích sách Việt Nam Phật giáo sử luận, tập I, Nguyễn Lang, tr. 55

Điều 22 dẫn Lão Tử “người biết không nói” để hỏi: sa-môn có đạo, sao không ngồi mà làm, lại bàn phải trái? Mâu Tử phân ba hạng người: nói được mà không làm được là thầy của nước, làm được mà không nói được là người dùng được cho nước, vừa nói vừa làm được là báu của nước; chỉ người không nói được cũng không làm được mới là kẻ hại đức (người viết tóm, CBETA tờ 5a20–5a23). Điều 25 hỏi tài biện luận của Mâu Tử từ đâu ra. Lê Mạnh Thát dịch:

“Thấy rộng có thuật không? Mâu Tử nói: Do kinh Phật. Tôi khi chưa hiểu kinh Phật, lầm còn hơn ông nhiều. Tuy đọc năm kinh, hợp lấy làm hoa mà chưa nên quả.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 272

Trong cùng đoạn, nguyên văn có câu 「五經則五味。佛道則五穀矣」 (năm kinh như năm vị, đạo Phật như năm thứ lúa; CBETA tờ 5b26–27). Điều 26 hỏi vì sao không dùng kinh Phật mà lại dẫn Thi Thư. Nguyễn Lang dịch câu trả lời: “Tại vì ông đã biết về kinh truyện, nên tôi dùng sự việc trong kinh truyện để làm cho ông dễ hiểu”, kèm chuyện Công Minh Nghị gảy đàn cho bò nghe (tr. 56). Điều 27 kể người hỏi từng ở kinh đô, vào Thái học, chưa nghe ai coi việc tu Phật là quý (Lê Mạnh Thát tóm, tr. 296).

7. Phê phán thần tiên, tịch cốc và thuyết bất tử (điều 29–37)

Lời tự thuật đã nói Mâu Tử đọc sách thần tiên bất tử mà “dẹp đi không tin, cho là dối trá” (tr. 222). Nhóm cuối triển khai ý ấy. Lê Mạnh Thát cho rằng việc dành chín điều cho chủ đề này biểu thị “một mối quan tâm đặc biệt” đối với đám “đạo gia thuật sĩ” đang có mặt ở Giao Chỉ (tr. 238).

Điều 29 so Thần thư 170 quyển với kinh Phật. Lê Mạnh Thát tóm lời Mâu Tử: “sách thần tiên nghe thì mênh mông đầy tai”, còn tìm hiệu quả thì như nắm gió bắt bóng (tr. 296–297). Ông đồng nhất Thần thư với Thái bình kinh và cho rằng sách này lưu hành ở Giao Chỉ, qua mối liên hệ của tiên nhân Đổng Phụng, người được Thần tiên truyện kể là đã cứu sống Sĩ Nhiếp (tr. 234–237).

Điều 30 là chỗ sách nói rõ nhất về rượu thịt. Người hỏi: người tu đạo tịch cốc không ăn lúa mà vẫn uống rượu ăn thịt, còn đạo Phật 「以酒肉為上誡」 (lấy rượu thịt làm điều răn hàng đầu; CBETA tờ 6a13) mà lại ăn lúa, sao trái nhau thế? Mâu Tử đáp rằng Đạo đức kinh năm nghìn chữ không có chuyện nhịn ăn ngũ cốc, và vật loại mỗi loài một tính, không thể bắt chước loài vật nhịn ăn qua đông (người viết tóm, CBETA tờ 6a14–6a21).

Điều 31 là lời tự thuật thứ hai, kể Mâu Tử từng học tịch cốc với ba người thầy:

“Xem ba ông thầy tôi theo học, mỗi ông hoặc tự xưng 700, 500, 300 tuổi. Nhưng tôi theo họ học chưa đầy 3 năm, thì mỗi một ông đã tự chết.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 233

Điều 33 hỏi vì sao phải phân biệt các đạo, khi đạo nào cũng nói vô vi. Bản dịch của Nguyễn Lang:

“Nếu ta chỉ gọi chung các thứ cỏ là cỏ, thì ta đâu thấy các loại cỏ khác nhau. Nếu ta chỉ gọi chung các kim loại là kim loại, thì ta thấy các kim loại khác nhau. Sự vật có thể đồng loại nhưng dị tính” — Trích sách Việt Nam Phật giáo sử luận, tập I, Nguyễn Lang, tr. 53

Điều 32 bàn chuyện người tu thần tiên tự xưng không bệnh; điều 34 hỏi Mâu Tử chưa đến đất Phật sao lại tin; điều 35 kể người hỏi từng sang nước Vu Điền làm các đạo nhân ở đó đổi ý; điều 36 khen thuật mùa đông vào thất không ăn (Lê Mạnh Thát tóm, tr. 296–297). Điều 37 đối chất thuyết của đạo gia rằng Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng và 72 đệ tử đều không chết mà thành tiên, với lời nhà Phật 「人皆當死莫能免」 (người ai cũng phải chết, không ai thoát; CBETA tờ 7a01). Mâu Tử dẫn từng cái chết được chép trong kinh điển Nho gia, từ Nghiêu, Thuấn, Vũ đến Nhan Uyên, để bác thuyết bất tử (người viết tóm, CBETA tờ 7a01–7a12).

8. Đoạn kết: người hỏi xin làm ưu-bà-tắc

Sau lời giải thích con số 37, người hỏi “biến sắc”, chắp tay rời chiếu và xin theo Phật. Lê Mạnh Thát dịch đoạn kết thành thơ:

“Bỉ nhân lòa mù / Sinh nơi tăm tối / Dám thốt lời ngu / Không lo họa phúc / Nay được nghe dạy / Chợt như tuyết sạch / Xin được đổi tình / Rửa lòng tự nhắc.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 286

Câu cuối của sách là 「願受五戒作優婆塞」 (nguyện nhận năm giới, làm ưu-bà-tắc; CBETA tờ 7a21–22). Chi tiết này làm nảy ra câu hỏi: Mâu Tử là cư sĩ hay đã xuất gia? Nguyễn Lang viết hai cách ở hai chỗ. Ở tr. 35 ông viết “Mâu Tử cũng đã xuất gia”. Ở tr. 44 ông viết thận trọng hơn:

“Mâu Tử đã xuất gia sau khi xâm nhập vào Phật lý hay không? Điều này ta chưa thể quả quyết được.” — Trích sách Việt Nam Phật giáo sử luận, tập I, Nguyễn Lang, tr. 44

Ông nói đoạn kết “cho ta cảm tưởng Mâu Tử là một Sa Môn” (tr. 44), và còn đoán tên “Mâu Tử” có thể là một pháp danh, “Mâu” lấy từ “Mâu Ni” (tr. 44, 57). Lê Mạnh Thát cũng cho câu hỏi này là “khó trả lời nhất” và chỉ nêu khả năng (tr. 287). Lời tự thuật thì kể Mâu Tử có vợ và chỉ nói ông “dốc chí vào đạo Phật”.

Minh hoạ: trong gian nhà gỗ ở Giao Chỉ, Mâu Tử, một trung niên mặc áo nho sĩ, ngồi bên án thư có thẻ tre và cuộn sách; người khách nho sĩ đối diện chắp tay cúi mình, ngoài hiên có cây chuối

Phương pháp biện luận của Mâu Tử

Hầu như mọi câu trả lời trong sách đều đi theo một lối: không dẫn kinh Phật, mà dẫn Kinh Thi, Hiếu kinh, Luận ngữ, Đạo đức kinh và sử Trung Hoa để trả lời người theo Nho, Lão. Lê Mạnh Thát nêu bốn “thủ pháp” (tr. 298–299):

  1. Nêu việc ai cũng biết mà kinh điển Nho không chép (điều 7: Nghiêu học Doãn Thọ, Khổng Tử học Lão Đam).
  2. Chỉ giới hạn của các quy định (điều 9: chuyện người nước Tề dốc ngược cha để cứu).
  3. Khai thác chỗ mâu thuẫn trong chính điển huấn (điều 15: Thái vương, vua Thuấn, Y Doãn, chị dâu chết đuối).
  4. Nhấn mạnh kinh Phật bổ sung cho chỗ thiếu của điển huấn (điều 25: thấy rộng nhờ kinh Phật).

Nguyễn Lang gọi phương pháp này là “hòa đồng” và viết rằng Mâu Tử “đã áp dụng phương pháp này một cách triệt để” (tr. 55). Ông tóm nguyên tắc của Mâu Tử bằng một câu: “Xe và thuyền không đi cùng một lối, nhưng đều đưa người tới chốn” (tr. 57). Lê Mạnh Thát nhìn cùng các thủ pháp ấy nhưng đặt chúng trong một mục đích khác. Theo ông, Mâu Tử dùng chúng “để từng bước đánh vỡ từng mảng cảm thức tự tôn dân tộc của người Trung Quốc nói chung, và cảm thức tự tôn hệ tư tưởng Châu Khổng nói riêng” (tr. 299).

Bảng dưới đây là cách gom của người viết, không phải bảng phân loại của một học giả; cột cuối chỉ nơi dẫn ví dụ. Về đối tượng của các lập luận, Nguyễn Lang viết:

“Những lý luận Mâu Tử dùng trong sách Lý Hoặc Luân không phải để hướng về những người thuộc văn hóa Giao Châu, mà hướng về những nhân sĩ Hán tới Giao Châu tị nạn, và một số ít người Giao Châu đã đi sâu vào lối suy tư Khổng Lão.” — Trích sách Việt Nam Phật giáo sử luận, tập I, Nguyễn Lang, tr. 39

Cách lập luận (người viết gom)Ví dụ trong sáchNguồn dẫn ví dụ
Dẫn sách của đối phươngDẫn Hiếu kinh, Khổng Tử khen Thái Bá cắt tóc (điều 9)Lê Mạnh Thát tr. 57, 298
Quyền biến hơn câu nệ可與適道。未可與權 (điều 9); cứu chị dâu chết đuối (điều 15)Lê Mạnh Thát tr. 299
Thí dụ, ngụ ngônCon lân (điều 18), đàn cho bò nghe (điều 26), khát không đợi sông (điều 20)Nguyễn Lang tr. 55–56
Phân biệt cùng tên khác tínhCỏ, kim loại (điều 33): vô vi của Phật khác của thần tiênNguyễn Lang tr. 53
Lấy kinh nghiệm bản thânBa người thầy tịch cốc đều chết (điều 31); “lầm còn hơn ông” (điều 25)Lê Mạnh Thát tr. 233, 272
Đảo trung tâm“Đất Hán chưa chắc là trung tâm của trời đất” (điều 14)Lê Mạnh Thát tr. 300; Nguyễn Lang tr. 56

Lý hoặc luận cho biết gì về Phật giáo Giao Chỉ

Nếu chấp nhận niên đại cuối thế kỷ II như phần lớn các sách trong kho, thì Lý hoặc luận là một trong những tư liệu chính để hình dung Phật giáo Giao Chỉ thời ấy. Nguyễn Lang viết về con số “hơn 500 vị tăng” mà Đàm Thiên nêu:

“Điều này cũng xác nhận thêm về sự có mặt của một tăng đoàn quan trọng tại Giao Châu vào thế kỷ thứ hai phù hợp với lời nói của Mâu Tử về những tệ đoan trong giới Sa Môn thời ấy.” — Trích sách Việt Nam Phật giáo sử luận, tập I, Nguyễn Lang, tr. 36

Các học giả rút ra những điểm sau:

  • Có tăng đoàn đông. Từ câu hỏi về sa-môn hư hỏng (điều 16), Nguyễn Lang kết luận “tăng đoàn Giao Châu thời đó đã khá đông đảo mời có nhiều tệ đoan như vậy” (tr. 30). Giáo trình môn học dẫn lại ý này (Chương 2, PDF tr. 25). Theo Lê Mạnh Thát, Hồ Thích cũng nhờ các tên tuổi trong tự thuật mà “giải tỏa được thắc mắc” của Lương Khải Siêu về những sa-môn như thế (tr. 200).
  • Có giới luật và nếp tu. Điều 1 nói cư sĩ giữ năm giới, sáu ngày trai mỗi tháng; sa-môn giữ 250 giới (Lê Mạnh Thát, tr. 294). Nguyễn Lang tóm hình ảnh sa-môn: “250 giới luật, cạo đầu, mặc áo vàng, xả bỏ tài sản, đi khất thực” (tr. 52), dù chính sách ghi sa-môn mặc áo đỏ (điều 11, 19).
  • Kinh sách nhiều, truyện tiền thân phổ biến. Các câu hỏi ở điều 5, 15 và 18 cho thấy người hỏi đã biết kinh Phật nhiều đến hàng vạn quyển và quen chuyện Tu Đại Noa. Nguyễn Lang cho rằng chuyện tiền thân “đã phổ thông trong dân gian hồi ấy” (tr. 51). Lê Mạnh Thát dựa vào đây cùng giả thuyết về Lục độ tập kinh bản tiếng Việt để nói về một “đại tạng kinh Phật giáo Việt Nam sơ kỳ” thiên về văn học thí dụ (tr. 220–221).
  • Phật giáo đứng giữa Nho học và thuật thần tiên. Lời tự thuật và điều 29–37 cho thấy ở Giao Chỉ có đông sĩ nhân phương Bắc và người học tịch cốc trường sinh (Lê Mạnh Thát, tr. 234, 238).
  • Hình ảnh Đức Phật nhiều thần lực. Điều 2 tả Phật biến hóa, đạp lửa không bỏng; cả Lê Mạnh Thát (tr. 305) lẫn Nguyễn Lang (tr. 52) thấy ở đây dấu vết tín ngưỡng Phật giáo bình dân thời ấy.

Nguyễn Lang còn đưa ra một giả thuyết về thể loại: thể hỏi đáp của sách có thể bắt chước Milindapañha (Di-lan-đà vấn đạo), và “Có thể trong số kinh điển kia cũng có cả một bản dịch Milinda - panha nữa” (tr. 35). Các sách khác trong kho không bàn giả thuyết này.

Bảng so sánh quan điểm

Tác giả / sáchNiên đại sáchTác giả và nguồn gốcCứ liệu chínhMức chắc chắn tác giả tự nêu (theo nguồn trong kho)
Hồ Nguyên Thụy (TK XVI)Lục triều Tấn – TốngVăn sĩ mượn tên Mâu TửTùy chí gán cho thái úy Mâu Dung (mất năm 79, LMT tr. 290)“Thường nghi” (LMT tr. 183)
Lương Khải SiêuĐông Tấn – Lưu TốngNgười “quê mùa” ngụy tạoTên tự, chuyện Hoa – Di, văn từ, cấm xuất giaBị Chu Thúc Ca, Fukui phản bác (LMT tr. 186–188)
Tokiwa Daijō (1910)Lưu TốngHuệ Thông chùa Trị ThànhCâu chữ trùng Bác Di hạ luận“kết luận vội vã” theo Fukui (LMT tr. 193)
Matsumoto Bunzaburō474–493Ngụy tác Tống – TềNgày rằm tháng 2; chức “thông sự xá nhân”; văn cú trùngBị Fukui phản bác (LMT tr. 194–196)
Maspéro (1910); ZürcherSau 251Không bàn tự thuậtThụy ứng bản khởi; truyện Tu Đại Noa (Lục độ tập kinh 251)LMT tr. 197–198
Fukui KōjunKhoảng 251 trở điMâu Tử thật, sinh khoảng 166, viết khi ngoài 80Như Maspéro + tự thuật“gần với Maspéro hơn là Pelliot” (LMT tr. 202)
Pelliot (1918–1919); Chu Thúc Ca, Hồ Thích, Dư Gia TíchKhoảng 196; cuối HánMâu Tử thậtTên người trong tự thuật khớp chính sửChưa giải được chuyện Tu Đại Noa, theo LMT (tr. 199–201)
Lê Mạnh ThátKhoảng 198Mâu Dung, tự Tử Bác, sinh khoảng 160; “người Việt”Tự thuật + chính sử; giả thuyết Lục độ tập kinh tiếng Việt trước năm 247Nhiều bước tự gọi là “giả thiết” (vd tr. 243, 287)
Nguyễn LangCuối TK II, có thêm thắt TK III–VMâu Tử sinh 165–170, học Phật ở Giao Châu; có thể đã xuất giaTự thuật; nội dung về tăng đoànĐoạn Hán Minh đế “chắc chắn” thêm về sau; việc xuất gia “chưa thể quả quyết” (tr. 26, 44)
Giáo trình môn LSPGVNThế kỷ II“nhân sĩ người Hán”, sinh 165–170Theo Nguyễn LangChương 2, PDF tr. 27
SGK Thích Phước Đạt và cộng sựThế kỷ II“người Trung Hoa”; dẫn Nguyễn Tài Thư: sinh khoảng 167 ở Thương NgôTheo Nguyễn Lang, Nguyễn Tài Thưtr. 35
HT. Thích Thiện HoaSau năm 189“người Trung Hoa”, quê Thương Ngô; “nhà truyền-giáo đầu tiên”Không dẫn cứ liệutr. 4

Nhận định của người viết

Phần này là ý kiến của người viết bài, không phải lời của các sách đã dẫn.

  1. Điểm đứng vững nhất là phần tự thuật. Theo Lê Mạnh Thát, những tên người, chức quan và sự việc trong tự thuật (Trức Dung, Lưu Ngạn, cái chết của Chu Hạo) khớp với Hậu Hán thư và Tam quốc chí, và Hồ Thích cũng xác nhận như vậy. Các thuyết ngụy tác (Lương Khải Siêu, Tokiwa, Matsumoto) không giải thích được vì sao một người thế kỷ IV–V lại biết chính xác những chi tiết nhỏ ấy, và đều bị Fukui phản bác bằng lý lẽ cụ thể. Mốc chặn mà các bên đều dùng là sách đã có tên trong Pháp luận của Lục Trừng (khoảng 465–470).
  2. Chỗ còn mở là nội dung. Truyện Tu Đại Noa (điều 15) và đoạn Hán Minh đế (điều 21) vẫn là hai điểm khó. Lê Mạnh Thát giải điểm thứ nhất bằng giả thuyết Lục độ tập kinh tiếng Việt có trước năm 247. Đó là một giả thuyết lớn, và kho tư liệu không có công trình nào khác kiểm lại nó. Nguyễn Lang giải điểm thứ hai bằng giả thuyết thêm thắt về sau. Hai lối giải khác nhau nhưng không loại trừ nhau. Một văn bản có lõi cuối thế kỷ II, đã bị Tăng Hựu lược bớt (chính Lê Mạnh Thát chứng minh) và có thể đã được thêm sửa, là cách hiểu hợp với các cứ liệu đã dẫn.
  3. “Người Việt” hay “người Hán” là vấn đề định nghĩa. Các nguồn trong kho đồng ý về những sự việc: Mâu Tử gốc Thương Ngô, sống lâu năm ở Giao Chỉ, học Phật ở đó, viết bằng chữ Hán. Chỗ khác là cách gọi. Lê Mạnh Thát gọi ông là người Việt, dựa trên cách ông hiểu văn hóa Giao Châu và suy luận về quê quán gia đình. Các sách giáo khoa gọi ông là người Hán hay người Trung Hoa, dựa theo nguồn gốc. Người đọc nên thấy cả hai cách gọi, và biết rằng không có dòng sử liệu nào trong kho ghi trực tiếp quê quán của Mâu Tử ở Giao Chỉ.
  4. Đọc điều 14 theo chữ trước khi đọc theo nghĩa rộng. Câu “đất Hán chưa chắc là trung tâm của trời đất” có thật trong nguyên văn. Còn việc nó là “đòn đánh chí tử” vào người Hán, hay việc chính quyền Chu Phù – Sĩ Nhiếp là một “chính quyền Phật giáo Việt Nam” (Lê Mạnh Thát, tr. 268), là tầng diễn giải của học giả. Nguyễn Lang đọc cùng câu ấy như tinh thần hòa đồng. Chúng tôi trình bày cả hai và không chọn bên.
  5. Ý nghĩa với người học Phật hôm nay. Bỏ qua tranh luận niên đại, Lý hoặc luận vẫn ghi lại một cách làm: đáp người khác bằng chính sách vở họ tin, thừa nhận chỗ tu sĩ sai (điều 16), phân biệt đạo Phật với thuật cầu trường sinh (điều 29–37), và để người hỏi tự đổi ý. Theo cách đọc của người viết, đó là một kiểu đối thoại hơn là bác bỏ.

Điểm còn tranh luận

  • Niên đại sách. Từ khoảng 196 (Pelliot), 198 (Lê Mạnh Thát), sau 251 (Maspéro, Fukui, Zürcher) đến 474–493 (Matsumoto). Bản dịch Pelliot và các công trình tiếng Nhật, tiếng Trung chỉ có trong kho qua lời thuật của Lê Mạnh Thát: chưa đối chiếu sách gốc.
  • Truyện Tu Đại Noa và Lục độ tập kinh tiếng Việt. Giả thuyết của Lê Mạnh Thát (tr. 203–213); các sách khác trong kho không bàn.
  • Đoạn Hán Minh đế (điều 21) là nguyên bản hay thêm vào. Lê Mạnh Thát coi là nguyên bản (tr. 214–216); Nguyễn Lang cho là thêm thắt (tr. 26).
  • Tên và quê quán tác giả. Mâu Dung, tự Tử Bác (Lê Mạnh Thát, tr. 292–294); “Mâu” có thể từ “Mâu Ni” (Nguyễn Lang, tr. 57). Người Việt (Lê Mạnh Thát, tr. 302) hay người Hán (giáo trình, sách giáo khoa).
  • Vị thái thú mời Mâu Tử làm quan. Thái thú Thương Ngô (Lê Mạnh Thát, tr. 254) hay Sĩ Nhiếp (Nguyễn Lang chua trong bản dịch, tr. 43). Nguyên văn không ghi tên.
  • Năm theo Phật. Khoảng 181–183 (Lê Mạnh Thát, tr. 276) hay khoảng 194 (Nguyễn Lang, tr. 43).
  • Mâu Tử xuất gia hay cư sĩ. Nguyễn Lang viết hai cách (tr. 35, 44); Lê Mạnh Thát chỉ nêu khả năng (tr. 287).
  • Nhân vật Tôn Sách chê là “bỏ pháp luật nhà Hán”. Văn bản Giang biểu truyện ghi Trương Tân; Lê Mạnh Thát cho đó là chép lộn của Chu Phù (tr. 248–252). Đây là một sửa chữa văn bản của học giả, kéo theo nhận định về một chính quyền Chu Phù – Sĩ Nhiếp “mang tính Phật giáo” (tr. 268).
  • Con số 37. Phật kinh chi yếu 37 phẩm hay 37 phẩm trợ đạo (Lê Mạnh Thát, tr. 219–220, 304–305).
  • Ảnh hưởng Milindapañha. Giả thuyết của Nguyễn Lang (tr. 35), chưa có sách nào trong kho kiểm lại.

Đối chiếu các tạng

Lý hoặc luận không phải kinh, nên không có bản Pāḷi tương đương. Bài đã đối chiếu các câu then chốt của bản dịch trong kho với nguyên văn Hán ở Hoằng minh tập quyển 1 (Đại Chính tạng T52 n2102, theo CBETA, tờ 1a28–7a22). Ba chỗ đáng ghi:

  • Điều 14: cụm “đều có Phật tánh” (Lê Mạnh Thát, tr. 306) không có trong nguyên văn 含血之類物皆屬佛焉. Bản dịch sát chữ ở tr. 78 của chính ông là “loài vật hàm huyết đều thuộc về Phật”.
  • Tự thuật: chữ “{Sĩ Nhiếp}” trong bản dịch Nguyễn Lang (tr. 43) là lời chua của dịch giả; nguyên văn chỉ ghi 太守.
  • Tên người: nguyên văn ghi 笮融 và 劉彥. Lê Mạnh Thát đọc là Trức Dung, Lưu Ngạn (ông chú cách đọc chữ 笮, tr. 223–224); Nguyễn Lang ghi Sạ Dung, Lưu Sản (tr. 43).

Các điều không có bản dịch trong kho được người viết tóm theo nguyên văn Hán, chưa đối chiếu với một bản dịch Việt đầy đủ (bản Nghiên cứu về Mâu Tử của Lê Mạnh Thát mà các sách trong kho có dẫn không có trong kho tư liệu của trang).

Tra cứu trong bài

Nguồn tham khảo

Sách trong kho tư liệu (trích sách, không phải lời kinh):

  • Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1: Từ khởi nguyên đến thời Lý Nam Đế (544), NXB TP. Hồ Chí Minh, 2003 (in lần thứ 2 có sửa chữa, bổ sung), Chương IV “Mâu Tử và Lý hoặc luận”, tr. 179–309 (dùng tr. 180–201, 202–223, 229–234, 238, 243, 245–254, 268, 272–277, 286–289, 292–306); Chương I, tr. 28, 57–58, 64–65, 78.
  • Nguyễn Lang (Thích Nhất Hạnh), Việt Nam Phật giáo sử luận, tập I, Chương 01 “Trung tâm Phật giáo Luy Lâu”, tr. 25–36, và Chương 02 “Hai thế kỷ đầu”, tr. 37–57 (bản điện tử trong kho, tái bản NXB Văn Học).
  • TS. Thích Phước Đạt, TS. Thích Hạnh Tuệ, TS. Thích Nữ Thanh Quế, TS. Đinh Văn Viễn, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội (bản scan trong kho không ghi năm), mục 2.3, tr. 33–41.
  • Môn Lịch sử Phật giáo Việt Nam (giáo trình), TT. TS. Thích Phước Đạt phụ trách, Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM, Chương 2, PDF tr. 25–32 (giáo trình không có số trang in).
  • HT. Thích Thiện Hoa, Lịch sử Phật giáo Việt Nam (Từ lúc mới du nhập đến hết đời nhà Lý), tr. 4 (bản điện tử, trích từ Phật học phổ thông).

Nguyên văn Hán: Tăng Hựu biên, Hoằng minh tập (弘明集), quyển 1, “Mâu Tử lý hoặc”, Đại Chính tạng T52 n2102, tờ 1a28–7a22, bản điện tử CBETA (tệp XML P5 của CBETA, tải ngày 17/10/2026).

Nguồn chỉ biết qua lời dẫn (thứ cấp, chưa đối chiếu sách gốc): P. Pelliot, Meou-tseu ou les doutes levés (T’oung Pao XVIII, 1918–1919); H. Maspéro, Le songe et l’ambassade de l’Empereur Ming (BEFEO X, 1910); Fukui Kōjun, Dōkyō no kisoteki kenkyū (1952); Lương Khải Siêu, Mâu Tử Lý hoặc luận biện ngụy; Tokiwa Daijō (1910); Matsumoto Bunzaburō (1942); Dư Gia Tích, Mâu Tử Lý hoặc luận kiểm thảo (1935); Hồ Thích; Chu Thúc Ca; E. Zürcher, The Buddhist Conquest of China; Ngô chí, Hậu Hán thư (theo bản dịch của Lê Mạnh Thát); Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu về Mâu Tử; Nguyễn Tài Thư (theo sách giáo khoa Thích Phước Đạt và cộng sự).

Ghi chú kiểm nguồn (17/10/2026): câu trích chép từ bản OCR hoặc lớp chữ trong kho corpus/lspgvn, chưa đối chiếu bản in giấy. Chương IV của Lê Mạnh Thát có số trang in trùng số trang PDF; một số trang trong bản OCR không đọc được số in (tr. 195, 197, 205, 215, 239, 249, 287) nên được suy theo thứ tự trang PDF, và bài không đặt khối trích nào ở các trang ấy. Trang chương I (tr. 28) suy theo PDF tr. 25 cộng độ lệch 3. Nguyên văn Hán chép bằng công cụ từ tệp CBETA; số tờ theo CBETA.

📖 Nguồn / bản quyền: Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập 1 (chương IV); Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận tập I; Thích Phước Đạt và cộng sự, Lịch sử Phật giáo Việt Nam; giáo trình môn LSPGVN; Thích Thiện Hoa, Lịch sử Phật giáo Việt Nam; nguyên văn Hán Hoằng minh tập (CBETA T52n2102)