Phật giáo Việt Nam trước Công nguyên: sử liệu nói gì, học giả nghĩ gì?
Tóm tắt nhanh: Phật giáo đã có mặt trên đất Việt trước Công nguyên hay chưa? Các sách trong kho tư liệu chia thành hai nhóm quan điểm: Lê Mạnh Thát, dựa vào truyện Chử Đồng Tử học đạo với nhà sư Phật Quang (Lĩnh Nam chích quái), câu về tháp vua A-dục ở thành Nê Lê (Giao Châu ký) và hướng giao thương đường biển, nêu giả thuyết Phật giáo đến vào khoảng thế kỷ III–II trước Công nguyên, và sách giáo khoa của TS. Thích Phước Đạt cùng cộng sự ủng hộ quan điểm này. Nguyễn Lang cho rằng đạo Phật vào khoảng đầu kỷ nguyên, còn HT. Thích Thiện Hoa đặt mốc cuối thế kỷ II – thế kỷ III sau Tây lịch; điểm chung chắc chắn là Luy Lâu đã là trung tâm Phật giáo vào nửa sau thế kỷ II. Mọi cứ liệu cho mốc trước Công nguyên đều được chép lại muộn, cách sự việc hàng trăm đến hơn một nghìn năm, và chưa có di vật khảo cổ nào xác nhận; chính Lê Mạnh Thát cũng viết rằng chỉ khai quật mới giải quyết dứt điểm được. Bài này tách riêng ba lớp: lời sử liệu, luận điểm của từng học giả, và các điểm còn tranh luận.
Bối cảnh: một câu hỏi đã có từ năm 1096
Câu hỏi Phật giáo vào nước ta từ bao giờ không phải đến thời nay mới được đặt ra. Theo Thiền uyển tập anh (禪苑集英), năm 1096 Hoàng thái hậu Ỷ Lan hỏi điều này, và Quốc sư Thông Biện trả lời bằng cách dẫn lời pháp sư Đàm Thiên đời Tùy. Lê Mạnh Thát dịch đoạn ấy như sau:
“Một phương Giao Châu, đường thông Thiên Trúc, Phật pháp lúc mới tới, thì Giang Đông chưa có, mà Luy Lâu lại dựng chùa hơn hai mươi ngôi, độ Tăng hơn 500 người, dịch kinh 15 quyển, vì nó có trước vậy.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 17
Bản dịch Thiền uyển tập anh của Ngô Đức Thọ – Nguyễn Thúy Nga chép cùng đoạn này với vài chữ khác: “Khi Phật pháp mới đến Giang Châu chưa khắp thì ở Luy Lâu […] đã có tới hai mươi ngôi bảo tháp, độ được hơn năm trăm vị tăng và dịch được mười lăm quyển kinh rồi” (chỗ […] là số chú thích 101 của bản dịch; truyện Thông Biện; bản điện tử trong kho không có số trang in, PDF tr. 70). Sách giáo khoa của Thích Phước Đạt và cộng sự dẫn đoạn này hai lần: ở tr. 27 là “hơn năm trăm vị tăng”, nhưng ở tr. 31 lại thành “độ tăng hơn 40 người”. Con số này khác hai bản dịch kể trên, và chúng tôi chưa đối chiếu được với nguyên bản Hán văn.
Lời Đàm Thiên chỉ nói Phật giáo có ở Giao Châu trước Giang Đông, không nói trước bao lâu. Chính Lê Mạnh Thát nhận xét:
“Điều đáng tiếc là Thông Biện không cho ta biết nền Phật giáo hoàn chỉnh này, với số chùa chiền kinh sách và Tăng sĩ như vậy, xuất hiện vào lúc nào.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 18
Ông dẫn tiếp tiểu sử Khương Tăng Hội: khi Tôn Quyền xưng đế ở Giang Tả (năm 222) thì “Phật giáo chưa lưu hành” ở đó (tr. 19). Như vậy, lời Đàm Thiên chỉ cho một mốc chắc chắn là trước khoảng năm 220 sau Công nguyên. Câu hỏi trước Công nguyên hay không phải tìm lời đáp ở những tư liệu khác.
Cách đọc bài này. Chúng tôi tách ba lớp:
- Sử liệu gốc: văn bản cổ nói gì, được viết hoặc chép lại vào lúc nào.
- Luận điểm học giả: mỗi nhà nghiên cứu suy luận gì từ các sử liệu ấy.
- Điểm còn tranh luận: những chỗ chưa có bằng chứng độc lập, nhất là bằng chứng khảo cổ.
Lời trích sách chép nguyên văn từ bản OCR trong kho tư liệu, giữ cả chính tả OCR. Khi một sử liệu cổ chỉ có trong kho qua bản dịch của một học giả, chúng tôi ghi rõ “qua bản dịch của …”.
Lớp sử liệu gốc: các văn bản thực sự nói gì
Sơ đồ dưới đây đặt mỗi sử liệu lên trục thời gian theo hai mốc: thời điểm sự việc được kể và thời điểm văn bản ra đời hoặc được chép lại (niên đại văn bản theo Lê Mạnh Thát và các sách đã dẫn).
1. Lĩnh Nam chích quái: truyện Nhất dạ trạch, Chử Đồng Tử gặp nhà sư Phật Quang
Lĩnh Nam chích quái (嶺南摭怪) là tập truyện cổ. Theo Lê Mạnh Thát, bản ngày nay có được là do Kiều Phú hiệu chính năm 1490 hoặc Vũ Quỳnh san định năm 1493, dựa trên bản của Trần Thế Pháp đời Trần (tr. 22). Truyện Nhất dạ trạch kể (qua bản dịch của Lê Mạnh Thát):
“Có núi Quỳnh Viên trên núi có am nhỏ. Thương nhân ghé thuyền vào lấy nước. Đồng Tử lên am dạo chơi. Trong am có một tiểu Tăng tên Phật Quang truyền pháp cho Đồng Tử. […] Nhà sư bèn tặng cho Đồng Tử một cây gậy và một cái nón, vừa bảo: ‘Các việc linh thông đều ở đó rồi’. Đồng Tử trở về, đem đạo Phật nói hết với Tiên Dung.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 26
Về thời điểm, truyện chỉ nói rất mơ hồ: “Vua Hùng truyền đến cháu đời thứ 3” (tr. 29). Đoạn trích không cho biết quốc tịch của nhà sư. Phải đến Đạo giáo nguyên lưu (An Thiền, năm 1845), câu chuyện mới có thêm chi tiết: “Đó là người Thiên Trúc, tuổi hơn 40” (tr. 32). Như vậy, càng về sau truyền thuyết càng được thêm chi tiết.
2. Đại Việt sử ký toàn thư: chỉ là “tục truyền”, không nhắc nhà sư
Chính sử Đại Việt sử ký toàn thư (大越史記全書) cũng có chuyện Chử Đồng Tử, nhưng ở vị trí và giọng văn khác hẳn. Toàn thư chép chuyện này như lời chú trong phần về Triệu Quang Phục và đầm Dạ Trạch (thế kỷ VI):
“Tục truyền thời Hùng Vương, con gái Hùng Vương là Tiên Dung Mỵ Nương […] ra chơi cửa biển. Thuyền về đến bãi ở hương Chử Gia, Tiên Dung lên trên bãi, gặp Chử Đồng Tử trần truồng núp trong bụi lau, tự cho là Nguyệt lão xe duyên, bèn cùng nhau làm vợ […] người và gà chó trong một lúc cùng bay lên trời, chỉ còn lại cái nền không ở giữa đầm.” — Trích sách Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê (bản dịch Viện KHXH), Ngoại kỷ quyển IV, tr. 37–38
Đoạn này không nhắc nhà sư Phật Quang, núi Quỳnh Viên hay đạo Phật. Chúng tôi đã dò toàn văn bản dịch trong kho và không thấy tên “Phật Quang” hay “Quỳnh Viên” ở đâu cả. Vậy chi tiết Phật giáo của truyện Chử Đồng Tử chỉ được biết qua dòng Lĩnh Nam chích quái và các sách chép theo.
3. Giao Châu ký và Thủy kinh chú: thành Nê Lê, tháp vua A-dục
Lê Mạnh Thát dẫn một câu trong Giao Châu ký của Lưu Hân Kỳ, sách nay đã mất và chỉ còn qua trích dẫn rải rác (qua bản dịch của Lê Mạnh Thát):
“Thành Nê Lê ở phía đông nam huyện Định An, cách sông bảy dặm, tháp và giảng đường do vua A Dục dựng vẫn còn. Những người đốn hải củi gọi là Kim tượng” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 36
Thủy kinh chú của Lệ Đạo Nguyên (mất năm 529) cũng chép: “cách sông có thành Nê Lê, người ta bảo là do vua A Dục dựng” (tr. 36). Câu này ghi theo lời truyền (“người ta bảo”), không phải điều người viết tận mắt thấy. Theo cách định niên đại của Tăng Chiêu mà Lê Mạnh Thát chấp nhận, Lưu Hân Kỳ sống và viết vào khoảng năm 360–420 (tr. 40). Vị trí thành Nê Lê cũng chưa xác định được. Madrolle từng đặt thành này ở Đồ Sơn (tr. 37). Lê Mạnh Thát nghiêng về vùng Tam Đảo nhưng tự nêu giới hạn của mình:
“Huyện An Định do thế có khả năng nằm tại vùng núi Tam Đảo này chăng? Muốn trả lời dứt khoát câu hỏi này, ta phải đợi một cuộc điều tra khảo cổ thực địa.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 38
4. Nam Châu dị vật chí: hoa uất kim cúng Phật (khoảng năm 100 sau Công nguyên)
Cứ liệu thứ hai mà Lê Mạnh Thát đưa ra là một câu của Nam Châu dị vật chí (Dương Phù). Câu này chỉ còn lại nhờ Lý Thời Trân (1518–1593) trích trong Bản thảo cương mục: hoa uất kim “người ta trồng trước để cúng Phật” (tr. 34). Từ đó ông suy luận:
“Vì thế, nếu Nam Châu dị vật chí của Dương Phù bảo rằng “người ta” trồng Uất Kim Hương để cúng Phật, thì “người ta” đây chính là người nước ta.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 35
Lê Mạnh Thát định niên đại câu này vào khoảng năm 100 sau Dương lịch (tr. 36), tức đã sau Công nguyên. Chính ông cũng ghi nhận rằng các bộ sử nhà Hậu Hán “đều không thấy nhắc tới tên Dương Phù” (tr. 35). Cứ liệu này được dùng để chứng minh có người Việt theo Phật giáo sớm, nhưng tự nó không nói gì về giai đoạn trước Công nguyên.
5. Mâu Tử, Sĩ Nhiếp và Luy Lâu: các mốc sau Công nguyên làm đối chứng
Những sử liệu về Phật giáo Giao Châu mà các học giả coi là chắc chắn hơn đều thuộc thế kỷ II–III sau Công nguyên. Giáo trình môn học ghi Mâu Tử là “một nhân sĩ người Hán, vì tránh loạn ở Trung Hoa mà tìm đến Giao Châu rồi học đạo Phật ở đây” và đã viết Lý hoặc luận tại Giao Châu (giáo trình môn LSPGVN, Chương 2, PDF tr. 27; giáo trình không có số trang in). Sách giáo khoa của Thích Phước Đạt và cộng sự còn dẫn Đại Việt sử ký toàn thư, đoạn chép về Sĩ Nhiếp:
“Khi ra vào thì đánh chuông khánh, uy nghi đủ hết, kèn sáo thổi vang, xe ngựa đầy đường, người Hồ đi sát bánh xe để đốt hương thường có mấy mươi người” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, TS. Thích Phước Đạt, TS. Thích Hạnh Tuệ, TS. Thích Nữ Thanh Quế, TS. Đinh Văn Viễn, tr. 27
Sách cũng dẫn Nguyễn Duy Hinh: người Hồ cầm hương theo hầu Sĩ Nhiếp thì “sớm nhất là năm 187” (tr. 28). Các mốc này là phần “nền” mà mọi học giả đều chấp nhận. Chỗ khác nhau chỉ là: trước mốc ấy, Phật giáo đã có mặt bao lâu.
Luận điểm của từng học giả
1. Lê Mạnh Thát: nhà sư Phật Quang vào khoảng thế kỷ III–II tdl
Trong Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát (viết tắt tdl = trước Dương lịch) lập luận theo ba bước. Thứ nhất, núi Quỳnh Viên không phải núi thần thoại. Ông dẫn thơ thời Lê Thánh Tông (“Danh sơn do thuyết cổ Quỳnh Viên”) và Lịch triều hiến chương loại chí để đặt núi này tại cửa Nam Giới, tức cửa Sót (Hà Tĩnh ngày nay), nơi bờ nam còn hòn núi gọi là Nam Giới sơn (tr. 20–22, 27). Từ đó ông cho rằng, theo Lĩnh Nam chích quái, Phật giáo đã vào nước ta “từ phía Nam”, qua nhà sư Phật Quang ở vùng “giáp giới với Chiêm Thành” (tr. 27). Thứ hai, chính sử Trung Quốc chép việc nước Hoàng Chi dâng tê giác vào năm thứ 2 sau Dương lịch và tuyến đường biển đi qua nước ta (tr. 24). Từ đó ông kết luận:
“Nói cách khác là vào những thế kỷ trước và sau Dương lịch, đã có những quan hệ giữa Trung Quốc và các nước khác về đường biển thông qua Việt Nam. Cho nên giả thiết sự tồn tại của nhà sư Phật Quang giữa thế kỷ thứ III hay thứ II tdl có thể chứng thực được.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 24–25
Thứ ba, ông nối truyện Chử Đồng Tử với các phái đoàn truyền giáo thời vua A-dục (xem mục A-dục). Ông cũng dựa vào dấu vết văn minh Ấn Độ ở phía nam để định niên đại:
“Cho nên, vị Hùng Vương của thời Chử Đồng Tử ta cũng có thể xác định vào những thế kỷ tdl, khả năng là Hùng Nghị Vương thứ nhất hoặc thứ hai, tức khoảng thế kỷ II-III tdl.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 30–31
Theo cách hiểu của ông, nhà sư Phật Quang “có thể là một người Chiêm Thành, hoặc là người Ấn Độ”, còn Chử Đồng Tử là “người Phật tử Việt Nam đầu tiên có tên tuổi” (tr. 28). Đây là nhận định của Lê Mạnh Thát, không phải lời của Lĩnh Nam chích quái. Ông còn dẫn thêm Thiên Nam ngữ lục của thiền sư Chân Nguyên (1647–1728):
“Viết thế, Chân Nguyên muốn nói rằng ngôi chùa Trúc Viên đã có từ thời Lữ Gia, tức khoảng năm 110 tdl tại núi Thầy (Sài Sơn), ở Sơn Tây.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 32
Điều đáng chú ý là Lê Mạnh Thát tự nêu rõ giới hạn của tư liệu. Ông thừa nhận các sử liệu này “đều xuất hiện khá muộn màng”:
“Ta phải xem xét, bởi vì tất cả các sử liệu đề cập đến vấn đề này đều xuất hiện khá muộn màng, cách xa sự việc được ghi lại tới cả hàng nghìn năm” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 33
Ông cũng nói rõ rằng chỉ khảo cổ học mới giải quyết dứt điểm được vấn đề:
“Tất nhiên, trừ phi ta thực hiện một cuộc khai quật khảo cổ học tại núi Quỳnh Viên ở cửa Sót và tìm thấy di vật liên hệ với Chử Đồng Tử, thì vấn đề mới được giải quyết một cách dứt điểm.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 22
2. Nguyễn Lang: đầu kỷ nguyên, Luy Lâu là trung tâm sớm
Nguyễn Lang (Thích Nhất Hạnh) mở đầu Việt Nam Phật giáo sử luận bằng một nhận định thận trọng hơn:
“Đạo Phật truyền vào Việt Nam khoảng đầu kỷ nguyên Tây lịch. Tài liệu chắc chắn cho biết rằng vào hạ bán thế kỷ thứ hai, tại nước ta đã có một trung tâm Phật Giáo phồn vinh và quan trọng rồi, nhưng có thể đạo Phật đã du nhập vào nước ta trong thế kỷ đầu của kỷ nguyên.” — Trích sách Việt Nam Phật giáo sử luận, tập I, Nguyễn Lang, tr. 21
Từ các tài liệu về những trung tâm Phật giáo đời Hậu Hán, ông lập luận rằng Luy Lâu thành lập sớm hơn Lạc Dương và Bành Thành:
“chúng tôi cũng muốn dùng những tài liệu liên hệ tới các trung tâm Phật Giáo Hậu Hán để chứng minh rằng trung tâm Luy Lâu được thành lập sớm hơn các trung tâm Lạc Dương và Bành Thành, và như thế là đã được hình thành vào thượng bán thế kỷ thứ nhất của Tây lịch.” — Trích sách Việt Nam Phật giáo sử luận, tập I, Nguyễn Lang, tr. 24
Về nguồn gốc, ông cho rằng Luy Lâu do thương gia và tăng sĩ Ấn Độ đến bằng đường biển lập nên, và viết: “Đạo Phật tại Giao Châu do từ Ấn Độ truyền sang trực tiếp, không phải là từ Trung Hoa truyền xuống” (tr. 23).
Ông cũng ghi lại ý kiến của Trần Văn Giáp. Ông Giáp căn cứ vào Lý hoặc luận nên cho rằng chỉ có thể nói đạo Phật vào nước ta “trễ lắm là trong thế kỷ ấy”, tức thế kỷ II (tr. 24). Trong bản Sử luận ở kho tư liệu, chúng tôi không tìm thấy tên Chử Đồng Tử hay giả thuyết sứ đoàn A-dục. Nguyễn Lang không bàn đến mốc trước Công nguyên.
3. HT. Thích Thiện Hoa: cuối thế kỷ II – thế kỷ III sau Tây lịch
Sách của HT. Thích Thiện Hoa (trích từ bộ Phật học phổ thông) lấy các nhà truyền giáo có tên trong sử làm mốc: Mâu Bác, Khương Tăng Hội, Ma-ha-kỳ-vực, Chi-cương-lương. Từ đó sách kết luận:
“Như thế, có thể nói rằng: Đạo Phật du nhập đầu tiên sang Việt-Nam trong khoảng cuối thế kỷ thứ II đến thế kỷ thứ III, sau Tây lịch.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam (Từ lúc mới du nhập đến hết đời nhà Lý), HT. Thích Thiện Hoa, tr. 5
Về con đường du nhập, sách cho rằng Phật giáo vào Việt Nam “do cả hai con đường: đường biển từ phía Nam lên và đường bộ từ phía Bắc xuống” (tr. 3), và về sau con đường từ Trung Hoa sang trở thành “con đường chính” (tr. 4). Sách không nhắc Chử Đồng Tử, A-dục hay Luy Lâu. Chúng tôi đã dò toàn văn bản trong kho và không thấy các tên này.
4. Giáo trình và sách giáo khoa của Thích Phước Đạt
Giáo trình môn học (HVPGVN tại TP.HCM, TT. TS. Thích Phước Đạt phụ trách) nêu hai lập luận. Một ý kiến cho rằng Phật giáo đến “trực tiếp từ Ấn Độ vào thời Hùng Vương, khoảng cuối thế kỷ thứ II trước Công nguyên”. Ý kiến kia cho rằng người Việt biết đến Phật giáo “vào đầu kỷ nguyên Công nguyên trong lúc nước ta nội thuộc Trung Hoa”; ý kiến này lại chia hai: Phật giáo do người Trung Hoa mang sang, hoặc người Việt tiếp thu trực tiếp từ người Ấn (giáo trình môn LSPGVN, Chương 2, PDF tr. 17). Giáo trình không bác ý kiến thứ nhất, nhưng ngay sau đó dựa vào Nguyễn Lang để viết “ta có thể cho rằng ngay từ đầu kỷ nguyên, ở Việt Nam đã có các hoạt động Phật giáo” (PDF tr. 18), tức nghiêng về mốc đầu Công nguyên. Phần còn lại của chương nói về Luy Lâu và các nhân vật từ thế kỷ II trở đi.
Sách giáo khoa Lịch sử Phật giáo Việt Nam (Thích Phước Đạt, Thích Hạnh Tuệ, Thích Nữ Thanh Quế, Đinh Văn Viễn, NXB ĐHQG Hà Nội) chia các quan điểm thành hai nhóm rồi chọn một bên:
“Đến nay có hai nhóm quan điểm về thời gian du nhập của Phật giáo vào nước ta.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, TS. Thích Phước Đạt và cộng sự, tr. 26
“Chúng tôi ủng hộ quan điểm của Lê Mạnh Thát, cho rằng Phật giáo truyền vào nước ta vào khoảng thế kỷ thứ III hay thứ II trước Công nguyên.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, TS. Thích Phước Đạt và cộng sự, tr. 29
Sách còn nêu “ba địa điểm khác nhau” mà các nhà nghiên cứu cho là nơi Phật giáo vào nước ta đầu tiên (tr. 29–30): Đồ Sơn (Thích Đức Nghiệp, Ngô Đăng Lợi, dựa vào bài thơ “Tháp Sơn hoài cổ” trong một gia phả), Tây Thiên – Tam Đảo (tham luận của Thích Kiến Nguyệt) và núi Quỳnh Viên (Lê Mạnh Thát).
5. Những ý kiến khác được dẫn lại
Một số ý kiến chỉ có trong kho qua lời dẫn của sách giáo khoa nói trên. Chúng tôi ghi lại ở đây nhưng chưa đối chiếu với sách gốc:
“Vào thế kỷ thứ III tr.CN, hai ngài Sona và Uttara đã tới đây thuyết pháp, và cùng với nhân dân địa phương đã xây bảo tháp Asoka…” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, TS. Thích Phước Đạt và cộng sự, tr. 28 (dẫn Thích Đức Nghiệp, Đạo Phật Việt Nam, 1995)
Cũng theo lời dẫn này, Thích Đức Nghiệp dựa vào lời kể của một cụ ông ở chùa Hang (Đồ Sơn) về “sư Bần” người Ấn Độ cuối thời Hùng Vương (tr. 28). Đây là truyền khẩu địa phương.
Đường biển Ấn Độ – Giao Chỉ và trung tâm Luy Lâu
Các sách trong kho đều nói tới đường biển, cùng với thương thuyền Ấn Độ, nhưng không phải sách nào cũng coi đó là con đường duy nhất. Nguyễn Lang và Lê Mạnh Thát nhấn mạnh đường biển. HT. Thích Thiện Hoa nói Phật giáo vào “do cả hai con đường” biển và bộ (tr. 3). Sách giáo khoa của Thích Phước Đạt và cộng sự cũng viết rằng giới nghiên cứu “hầu hết đều đồng ý” đạo Phật vào Việt Nam “qua hai ngả đường: đường thuỷ và đường bộ” (tr. 30). Nguyễn Lang mô tả cơ chế đường biển như sau:
“Ta có thể nói rằng chính những thương gia Ấn Độ đã trước tiên đem Phật giáo vào nước ta.” — Trích sách Việt Nam Phật giáo sử luận, tập I, Nguyễn Lang, tr. 22
Ông nói rõ đó mới chỉ là sinh hoạt tín ngưỡng của cư sĩ, chưa có tăng đoàn:
“Nhưng nếu hồi đó có những người Giao Chỉ theo đạo Phật thì đạo Phật đây cũng mới chỉ là những sinh hoạt tín ngưỡng đơn sơ của người cư sĩ, giới hạn trong sự tụng đọc tam quy, cúng dường Phật tháp và bố thí cho người ốm đau đói khổ mà thôi, chứ chưa có sự học hỏi kinh điển và chế độ tăng sĩ.” — Trích sách Việt Nam Phật giáo sử luận, tập I, Nguyễn Lang, tr. 22
Nguyễn Lang mô tả các thương thuyền theo gió mùa đến Giao Chỉ “hồi bấy giờ (đầu kỷ nguyên)” (tr. 22). Lê Mạnh Thát thì dẫn chuyện nước Hoàng Chi dâng tê giác năm thứ 2 sau Dương lịch (đi đường biển qua nước ta) và chuyện thương nhân đất Thục mang vải, gậy trúc Thân Độc về Trung Quốc năm 120 tdl (tr. 24–25). Ông dùng các sự kiện này để chứng minh quan hệ buôn bán Ấn Độ – Trung Quốc đã có từ trước Công nguyên; riêng chuyện đất Thục là hàng hóa theo đường tây nam, không phải đường biển. Đó là bằng chứng về giao thương. Bước suy từ giao thương ra sự có mặt của Phật giáo là phần suy luận của học giả.
Giả thuyết sứ đoàn A-dục đến “vùng Đất vàng”
Giả thuyết thứ ba gắn Phật giáo trên đất Việt với các phái đoàn truyền giáo thời vua A-dục (Asoka). Một trong các phái đoàn ấy được cho là đã đến Suvaṇṇabhūmi, nghĩa là “vùng Đất vàng”. Lê Mạnh Thát tóm giả thuyết này và tự ghi rằng nó còn tranh cãi:
“bắt đầu truyền bá qua các nước xung quanh vào những năm 247-232 tdl vào thời của vua A Dục khi vua này lịnh cho các phái đoàn Tăng lữ đi khắp nơi để truyền bá đạo Phật, trong đó đặc biệt là phái đoàn của Sona đi về vùng Đất vàng (Suvanabhumi). Vùng Đất vàng này có phải là vùng Đông Nam Á hay vùng Đông Dương hay không? Đây là một vấn đề đang còn tranh cãi.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 30
Ông xem câu về tháp vua A-dục ở thành Nê Lê “ít nhiều có thể ám chỉ” phái đoàn của Sona (tr. 41–42). Đồng thời ông cũng nêu một lý do để thận trọng: vào thế kỷ IV–V ở Trung Quốc từng có cả một phong trào “đi tìm chùa vua A Dục”, và phong trào ấy “ắt không thể nào không ảnh hưởng đến việc tìm chùa vua A Dục ở nước ta” (tr. 41). Đoạn kết của ông vẫn đặt hy vọng vào khảo cổ:
“Trong khi chờ đợi khai quật được những di vật khảo cổ học tại cửa Nam Giới và núi Tam Đảo, ta có thể có một số ý niệm khá chính xác về sự hiện diện của Phật giáo tại nước ta vào những thế kỷ trước Dương lịch.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 42
Sách giáo khoa của Thích Phước Đạt và cộng sự viết mạnh hơn nhiều:
“Lịch sử chính thức xác nhận năm 240 tr.CN, Madoha – con của vua A Dục (Asoka) đã đưa đạo Phật vào Việt Nam.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, TS. Thích Phước Đạt và cộng sự, tr. 31
Chúng tôi không tìm thấy ở các sách khác trong kho cứ liệu nào cho câu này. Tên Madoha chỉ xuất hiện ở đúng chỗ này. Lê Mạnh Thát chỉ nhắc phái đoàn Sona, không nhắc Uttara hay một người con nào của vua A-dục. Đoạn văn chứa câu này chỉ kèm một chú thích (số 11) dẫn chung Việt Nam Phật giáo sử luận (Nguyễn Lang, 2000), không ghi trang. Bản Sử luận trong kho không có tên Madoha hay mốc năm 240. Vì vậy chúng tôi xếp câu này vào loại chưa đối chiếu được. Nguồn gốc của giả thuyết sứ đoàn (theo hiểu biết phổ thông, đó là các biên niên sử Pāḷi của truyền thống Tích Lan) không có trong kho tư liệu của trang, nên chưa đối chiếu.
Bảng so sánh quan điểm
| Tác giả / sách | Mốc du nhập | Cứ liệu chính | Mức chắc chắn tác giả tự nêu |
|---|---|---|---|
| Lê Mạnh Thát, LSPGVN tập 1 | Thế kỷ III–II tdl (Phật Quang, tr. 25, 30–31); vào “từ phía Nam” (tr. 27) | Lĩnh Nam chích quái; Giao Châu ký (tháp A-dục); Nam Châu dị vật chí; giao thương biển; Thiên Nam ngữ lục | “giả thiết … có thể chứng thực được”; nguồn “khá muộn màng”; chờ khai quật (tr. 22, 33, 42) |
| Nguyễn Lang, Sử luận tập I | Khoảng đầu kỷ nguyên; Luy Lâu nửa đầu thế kỷ I (tr. 21, 24) | Hậu Hán thư, Lý hoặc luận, Tứ thập nhị chương; so sánh ba trung tâm; truyền trực tiếp từ Ấn Độ bằng đường biển (tr. 23) | Tài liệu chắc chắn chỉ từ nửa sau thế kỷ II; thế kỷ I là khả năng (tr. 21) |
| HT. Thích Thiện Hoa | Cuối thế kỷ II – thế kỷ III sau TL (tr. 5) | Các nhà truyền giáo có tên: Mâu Bác, Khương Tăng Hội, Kỳ Vực, Chi Cương Lương; cả đường biển lẫn đường bộ (tr. 3–4) | “có thể nói rằng” (tr. 5) |
| Giáo trình môn LSPGVN (Chương 2) | Nêu hai lập luận; phần sau nghiêng về đầu Công nguyên (PDF tr. 17–18) | Tóm tắt các quan điểm; Nguyễn Lang; Luy Lâu, Mâu Tử | Không bác ý kiến thời Hùng Vương; “ta có thể cho rằng ngay từ đầu kỷ nguyên” (PDF tr. 18) |
| Sách giáo khoa Thích Phước Đạt và cộng sự | Thế kỷ III–II tr.CN (tr. 29) | Theo Lê Mạnh Thát; dẫn Thích Đức Nghiệp; “năm 240 tr.CN” | “Chúng tôi ủng hộ” (tr. 29); câu “Lịch sử chính thức xác nhận” (tr. 31) chưa có cứ liệu đối chiếu |
| Thích Đức Nghiệp (dẫn lại) | Thế kỷ III tr.CN | Sona – Uttara; tháp Asoka; truyền khẩu chùa Hang | Chưa đối chiếu sách gốc |
| Trần Văn Giáp (dẫn lại qua Nguyễn Lang) | Trễ nhất thế kỷ II | Lý hoặc luận là tài liệu sớm nhất | (tr. 24) |
Nhận định của người viết
Phần này là ý kiến của người viết bài, không phải lời của các sách đã dẫn.
- Điểm chung chắc chắn. Các sách trong kho đều chấp nhận rằng vào nửa sau thế kỷ II sau Công nguyên, Phật giáo đã có mặt ở Giao Châu, gắn với Luy Lâu, Mâu Tử và Sĩ Nhiếp. Đó là mốc có sử liệu tương đối gần thời.
- Mốc trước Công nguyên là giả thuyết. Mọi cứ liệu cho mốc này đều thuộc một trong ba loại: (a) văn bản chép lại muộn: Lĩnh Nam chích quái (thế kỷ XIV–XV), Thiên Nam ngữ lục (thế kỷ XVII–XVIII), Đạo giáo nguyên lưu (1845); (b) văn bản sớm hơn, nhưng việc gán tháp cho vua A-dục là lời gán chưa rõ căn cứ, như Giao Châu ký (khoảng 360–420), Thủy kinh chú (“người ta bảo”), lại ra đời giữa lúc Trung Quốc có phong trào đi tìm chùa vua A-dục; (c) bằng chứng về giao thương, không phải về tôn giáo. Chính Lê Mạnh Thát gọi đây là giả thiết, và ông thừa nhận nguồn tư liệu “khá muộn màng”.
- Truyền thuyết được thêm dần. Đại Việt sử ký toàn thư ghi chuyện Chử Đồng Tử mà không có chi tiết Phật giáo. Lĩnh Nam chích quái có “tiểu Tăng tên Phật Quang”. Đạo giáo nguyên lưu thêm “người Thiên Trúc, tuổi hơn 40”. Lớp chi tiết dày lên theo thời gian là dấu hiệu quen thuộc của truyền thuyết. Điều này không bác bỏ được truyện, nhưng nhắc người đọc thận trọng khi xem từng chi tiết là sự kiện.
- Cách diễn đạt nên dùng. Câu viết phù hợp với tư liệu hiện có là: Có giả thuyết, tiêu biểu là Lê Mạnh Thát, cho rằng Phật giáo đã đến đất Việt vào khoảng thế kỷ III–II trước Công nguyên; giả thuyết này dựa trên truyền thuyết và sử liệu chép muộn, chưa có bằng chứng khảo cổ. Câu Phật giáo đã có ở Việt Nam trước Công nguyên nếu viết như một sự thật thì vượt quá điều các nguồn trong kho cho phép.
- Ý nghĩa với người học Phật. Dù mốc du nhập là thế kỷ II trước hay sau Công nguyên, trong các nguồn đã dẫn, những người đầu tiên đưa Phật giáo đến Giao Châu đều được mô tả là thương nhân, các vị tăng đi theo thuyền buôn, hay người như Mâu Tử tránh loạn mà đến, không phải người đi chinh phục. Theo cách đọc của người viết, đó là con đường lan tỏa qua tiếp xúc. Trong truyền thuyết, Phật giáo được tiếp nhận như một truyền thống gắn với “linh thông” (Lê Mạnh Thát, tr. 28).
Điểm còn tranh luận
- Niên đại nhà sư Phật Quang và Chử Đồng Tử. Chỉ có lời truyện “cháu đời thứ 3” của Hùng Vương. Mốc thế kỷ III–II tdl là suy luận của Lê Mạnh Thát (tr. 29–31). Không có văn bản nào đương thời.
- Vị trí núi Quỳnh Viên. Lê Mạnh Thát đồng nhất núi này với núi ở cửa Sót dựa trên thơ thế kỷ XV và Lịch triều hiến chương loại chí (tr. 20–22). Ông đề nghị khai quật nhưng chúng tôi chưa thấy báo cáo khảo cổ nào trong kho.
- Thành Nê Lê ở đâu, có tháp A-dục thật không. Madrolle đặt ở Đồ Sơn (tr. 37); Lê Mạnh Thát nghiêng về vùng Tam Đảo nhưng tự ghi rằng muốn trả lời dứt khoát thì “phải đợi một cuộc điều tra khảo cổ thực địa” (tr. 38). Ảnh hưởng của phong trào tìm chùa A-dục ở Trung Quốc thế kỷ IV–V cũng là một khả năng, do chính Lê Mạnh Thát nêu (tr. 41).
- “Vùng Đất vàng” (Suvaṇṇabhūmi) là đâu. Lê Mạnh Thát ghi “đang còn tranh cãi” (tr. 30). Các biên niên sử Pāḷi chưa đối chiếu.
- Câu “năm 240 tr.CN, Madoha” (sách giáo khoa Thích Phước Đạt và cộng sự, tr. 31): chưa tìm được cứ liệu gốc.
- Số liệu trong lời Đàm Thiên (“hơn 500” hay “hơn 40” vị tăng; “chùa hơn hai mươi ngôi” hay “hai mươi ngôi bảo tháp”; “Giang Đông” hay “Giang Châu”): các bản dịch khác nhau, chưa đối chiếu nguyên bản Hán.
- Trung tâm Luy Lâu có trước Lạc Dương, Bành Thành? Đây là luận điểm của Nguyễn Lang (tr. 24), được giáo trình dẫn lại, chưa phải đồng thuận chung.
- Khảo cổ học. Trong các sách đã dùng, chúng tôi không thấy di vật Phật giáo nào trên đất Việt được định niên đại trước Công nguyên. Lê Mạnh Thát nhắc bia Võ Cảnh (thế kỷ II sau Công nguyên) và văn hóa Óc Eo (tr. 30–31) như dấu vết văn minh Ấn Độ, không phải di vật Phật giáo trước Công nguyên.
Đối chiếu các tạng
Bài này không trích kinh văn, nên không có khối đối chiếu Pāḷi – Hán. Riêng giả thuyết sứ đoàn vua A-dục đến “vùng Đất vàng” có gốc ở truyền thống Phật giáo Nam truyền. Các văn bản Pāḷi liên quan không có trong kho tư liệu của trang, nên chưa đối chiếu. Nguyên bản Hán văn của Thiền uyển tập anh và Lĩnh Nam chích quái cũng chưa đối chiếu.
Tra cứu trong bài
- Chử Đồng Tử: nhân vật truyền thuyết, theo Lĩnh Nam chích quái được nhà sư Phật Quang truyền pháp.
- Luy Lâu: trị sở Giao Chỉ thời Hán, trung tâm Phật giáo thế kỷ II.
- Đức Phật
Nguồn tham khảo
Sách trong kho tư liệu (trích sách, không phải lời kinh):
- Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1: Từ khởi nguyên đến thời Lý Nam Đế (544), NXB TP. Hồ Chí Minh, 2003 (in lần thứ 2 có sửa chữa, bổ sung), Chương I “Phật giáo thời Hùng Vương”, tr. 17–42 (dùng tr. 17, 18, 19, 20–22, 24–25, 26, 28, 29, 30–31, 32, 33, 34–36, 37, 38, 40, 41–42).
- Nguyễn Lang (Thích Nhất Hạnh), Việt Nam Phật giáo sử luận, tập I, Chương 01 “Trung tâm Phật giáo Luy Lâu”, tr. 21–24 (bản gốc Lá Bối 1973; bản điện tử trong kho, tái bản NXB Văn Học).
- HT. Thích Thiện Hoa, Lịch sử Phật giáo Việt Nam (Từ lúc mới du nhập đến hết đời nhà Lý), mục “I. Phật giáo du nhập vào Việt Nam”, tr. 3–6 (bản điện tử, trích từ Phật học phổ thông, không ghi NXB và năm).
- TS. Thích Phước Đạt, TS. Thích Hạnh Tuệ, TS. Thích Nữ Thanh Quế, TS. Đinh Văn Viễn, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội (bản scan trong kho không ghi năm), mục 2.2 “Sự du nhập của Phật giáo”, tr. 26–31.
- Môn Lịch sử Phật giáo Việt Nam (giáo trình), TT. TS. Thích Phước Đạt phụ trách, Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM, Chương 2, PDF tr. 16–27 (giáo trình không có số trang in).
- Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (theo Nội các quan bản 1697), NXB Khoa học Xã hội, 1993, Ngoại kỷ quyển IV, tr. 37–38.
- Thiền uyển tập anh, khuyết danh đời Trần, Ngô Đức Thọ – Nguyễn Thúy Nga dịch, Phân viện Nghiên cứu Phật học – NXB Văn Học, Hà Nội, 1990, truyện Quốc sư Thông Biện (bản điện tử không có số trang in, PDF tr. 70–71).
Nguồn chỉ biết qua lời dẫn (thứ cấp, chưa đối chiếu sách gốc): Lĩnh Nam chích quái, Giao Châu ký (Lưu Hân Kỳ), Thủy kinh chú (Lệ Đạo Nguyên), Nam Châu dị vật chí (Dương Phù, qua Bản thảo cương mục), Thiên Nam ngữ lục (Chân Nguyên), Đạo giáo nguyên lưu (An Thiền) theo bản dịch của Lê Mạnh Thát; Thích Đức Nghiệp, Đạo Phật Việt Nam (1995) và Nguyễn Duy Hinh, Tư tưởng Phật giáo Việt Nam (1999) theo sách giáo khoa Thích Phước Đạt và cộng sự.
Ghi chú kiểm nguồn (17/10/2026): câu trích chép từ bản OCR hoặc lớp chữ trong kho corpus/lspgvn, chưa đối chiếu bản in giấy. Một số trang của Lê Mạnh Thát trong bản OCR không đọc được số trang in (tr. 25, 28, 31, 40, 41); số trang ghi ở các chỗ ấy được suy theo thứ tự trang PDF. Nguyên bản Hán văn của Thiền uyển tập anh và Lĩnh Nam chích quái chưa đối chiếu.
📖 Nguồn / bản quyền: Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập 1; Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận; Thích Thiện Hoa, Lịch sử Phật giáo Việt Nam; Thích Phước Đạt và cộng sự, Lịch sử Phật giáo Việt Nam; giáo trình môn LSPGVN; Đại Việt sử ký toàn thư; Thiền uyển tập anh