Phật giáo Việt Nam thời kỳ Khương Tăng Hội: sử liệu nói gì, học giả nghĩ gì?

Khương Tăng Hội cùng các đệ tử quỳ trước bình đồng cầu xá-lợi trong am tranh ở Kiến Nghiệp — Phật giáo Việt Nam thời kỳ Khương Tăng Hội

Tóm tắt nhanh: Khương Tăng Hội (康僧會, mất năm 280) là vị tăng mà hai bản tiểu sử cổ nhất (Xuất tam tạng ký tập của Tăng Hựu và Cao tăng truyện của Huệ Hạo, đều soạn ở Trung Hoa thế kỷ VI) chép rằng: tổ tiên người Khương Cư, cha buôn bán dời đến Giao Chỉ, mồ côi khi “hơn 10 tuổi” rồi xuất gia; năm 247 đến Kiến Nghiệp (kinh đô nước Ngô), cầu được xá-lợi, được Tôn Quyền dựng chùa Kiến Sơ; dịch Lục độ tập kinh, chú giải kinh An ban thủ ý. Phần lớn các sách trong kho tư liệu chấp nhận khung sự kiện ấy. Chỗ khác nhau nằm ở phần suy luận: Lê Mạnh Thát cho rằng mẹ ông có thể là người Việt, thầy ông có khả năng là Mâu Tử, phần chú giải An ban được viết ở Giao Chỉ khoảng 221–230, và Lục độ tập kinh dịch từ một bản tiếng Việt; Nguyễn Lang xem ông là “sáng tổ của Thiền học Việt Nam”; HT. Thích Thiện Hoa lại chỉ coi ông là nhà sư “ghé” Giao Châu trên đường sang Trung Hoa. Bài này tách ba lớp: lời sử liệu, luận điểm của từng học giả, và các điểm còn tranh luận.

Bối cảnh: hai bản tiểu sử viết sau ông hơn hai trăm năm

Mọi điều ta biết về cuộc đời Khương Tăng Hội đều bắt đầu từ hai bản tiểu sử soạn ở Trung Hoa. Lê Mạnh Thát mở chương về ông như sau:

“Cuộc đời và sự nghiệp của Khương Tăng Hội, ta hiện biết qua hai bản tiểu sử xưa nhất, một của Tăng Hựu (445-518) trong Xuất tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 96a29-97a17 và một của Huệ Hạo (496-553) trong Cao tăng truyện 1 ĐTK 2059 tờ 325a13-326b13. Bản của Huệ Hạo thực ra là một sao bản của bản Tăng Hựu với hai thêm thắt.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 311

Khương Tăng Hội mất năm 280. Tăng Hựu sinh năm 445, Huệ Hạo sinh năm 496. Như vậy hai bản tiểu sử được viết sau ông khoảng hai trăm năm trở lên. Theo Lê Mạnh Thát, chính sử nước Ngô (Ngô chí trong Tam quốc chí) không có ghi chép nào về các hoạt động của ông ở Kiến Nghiệp (tr. 368, 380, 381). Ngoài tiểu sử, còn có hai bài tựa do chính Khương Tăng Hội viết và được Tăng Hựu chép lại. Đây là những dòng hiếm hoi mà ông tự kể về mình.

Thời Khương Tăng Hội, Giao Chỉ đã có Phật giáo. Bài Phật giáo Việt Nam trước Công nguyên đã trình bày các tư liệu về giai đoạn trước đó. Khi trả lời câu hỏi của Hoàng thái hậu Ỷ Lan năm 1096, Quốc sư Thông Biện (Thiền uyển tập anh) kể tên Khương Tăng Hội trong số các vị tăng từng ở Luy Lâu. Bài này đi tiếp câu chuyện ấy từ thế kỷ III.

Cách đọc bài này. Chúng tôi tách ba lớp:

  1. Sử liệu gốc: tiểu sử, lời tự thuật, kinh lục: văn bản nói gì, ra đời lúc nào.
  2. Luận điểm học giả: mỗi nhà nghiên cứu suy luận gì từ các sử liệu ấy, và tự nêu mức chắc chắn ra sao.
  3. Điểm còn tranh luận: những chỗ các sách nói khác nhau hoặc chưa có bằng chứng độc lập.

Lời trích sách chép nguyên văn từ bản OCR trong kho tư liệu, giữ cả chính tả OCR. Phần dịch tiểu sử chủ yếu dùng bản dịch của Lê Mạnh Thát (ông dịch bản của Huệ Hạo); nguyên văn Hán chép từ CBETA để người đọc đối chiếu.

Lớp sử liệu gốc: các văn bản thực sự nói gì

Sơ đồ dưới đây đặt các địa danh xuất hiện trong tiểu sử lên một bản đồ phỏng chừng, kèm các mốc năm theo từng nguồn.

Sơ đồ phỏng chừng: Giao Chỉ (Luy Lâu) ở phía nam, Kiến Nghiệp ở hạ lưu sông Dương Tử, cùng Lạc Dương, Vũ Xương, Nam Dương, Dĩnh Xuyên, Cối Kê; mũi tên nét đứt Giao Chỉ – Kiến Nghiệp ghi 'năm 247, đường đi không được sử liệu ghi rõ'; bên phải là trục năm: khoảng 200 sinh (giả thuyết Lê Mạnh Thát), 221–230 hoặc trước 229 viết tựa An ban, 247 đến Kiến Nghiệp, 251 Lục độ tập kinh, 258 lệnh phá chùa, 280 mất

1. Tiểu sử trong Cao tăng truyện và Xuất tam tạng ký tập

Đoạn mở đầu tiểu sử trong Cao tăng truyện (高僧傳) quyển 1:

康僧會,其先康居人,世居天竺,其父因商賈移于交趾。會年十餘歲,二親並終,至孝服畢,出家。 — Cao tăng truyện q.1, Huệ Hạo, CBETA T50n2059, tr. 325a13–15

Lê Mạnh Thát dịch:

“Khương Tăng Hội, tổ tiên người Khương Cư, mấy đời ở Thiên Trúc, cha nhân buôn bán, dời đến Giao Chỉ. Hội năm hơn 10 tuổi, song thân đều mất, khi chịu tang xong, bèn xuất gia, siêng năng hết mực.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 313

Tiểu sử kể tiếp: ông “rõ hiểu ba tạng, xem khắp sáu kinh, thiên văn đồ vĩ, phần lớn biết hết” (tr. 313). Thấy đất Ngô “mới nhiễm giáo pháp vĩ đại, phong hóa chưa tròn”, ông chống gậy sang đông:

乃杖錫東遊,以吳赤烏十年,初達建鄴,營立茅茨,設像行道。 — Cao tăng truyện q.1, CBETA T50n2059, tr. 325b06–07

Theo bản dịch của Lê Mạnh Thát, ông đến “vào năm Xích Ô thứ 10 (247), mới đến Kiến Nghiệp, xây cất nhà tranh, dựng tượng hành đạo” (tr. 314). Quan chức tâu lên, Tôn Quyền gọi ông đến hỏi có gì linh nghiệm. Ông xin hẹn bảy ngày để cầu xá-lợi, rồi xin thêm hai lần nữa. Đến canh năm ngày cuối “bỗng nghe có tiếng loảng xoảng trong bình. Hội tự đến xem, quả được xá lợi” (tr. 315). Kết quả:

“Quyền rất thán phục, nhân đó dựng tháp. Vì mới có chùa Phật, nên gọi là chùa Kiến Sơ. Chỗ đất ấy gọi là xóm Phật. Do thế, đạo pháp ở Giang Tả mới thịnh.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 315

Nguyên văn Hán của câu đặt tên chùa là 以始有佛寺,故號「建初寺」,因名其地為「佛陀里」。 (T50n2059, tr. 325c04–05).

Minh hoạ theo tiểu sử trong Cao tăng truyện: Khương Tăng Hội quỳ trước chiếc bình đặt trên bàn thấp trong am tranh ở Kiến Nghiệp, ánh sáng nhiều màu bốc lên từ miệng bình, các đệ tử chắp tay quỳ phía sau, trên vách treo tranh tượng Phật

Phần sau tiểu sử kể chuyện thời Tôn Hạo (vua Ngô 264–280): Tôn Hạo muốn phá chùa, sai Trương Dục đến chất vấn, rồi tự hỏi ông về thiện ác báo ứng; về sau Tôn Hạo làm ô uế một tượng Phật đào được trong vườn, bị bệnh, sám hối và thọ năm giới với ông. Tiểu sử kết thúc bằng năm mất:

“Đến tháng 4 năm Thiên Kỷ thứ tư (280), Hạo hàng nhà Tấn. Tháng 9 Hội mắc bệnh rồi mất. Năm ấy là năm Thái Khương thứ nhất nhà Tấn.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 319

(Nguyên văn: 至吳天紀四年四月。皓降晉,九月會遘疾而終。是歲晉武太康元年也。, T50n2059, tr. 326a24–26.)

Hai bản khác nhau ở đâu. Theo Lê Mạnh Thát (tr. 311, 314–318), bản Huệ Hạo thêm tiểu sử cư sĩ Chi Khiêm ở đầu, thêm chuyện về Tô Tuấn, Tôn Xước ở cuối, và kể chuyện Tôn Hạo có chi tiết khác. Ví dụ, chỗ Huệ Hạo viết Tôn Hạo “lấy nước dơ tưới lên” tượng, Tăng Hựu viết Tôn Hạo đem tượng để trước nhà xí và làm ô uế vào “ngày mồng tám tháng tư” (chú thích của Lê Mạnh Thát, tr. 317). Bản Tăng Hựu viết lúc ấy đất Ngô “chưa có Phật giáo”; Huệ Hạo sửa thành “Phật giáo chưa lưu hành” và chen tiểu sử Chi Khiêm vào ngay sau câu đó (tr. 365–367).

Giới hạn của lớp sử liệu này. (a) Cả hai bản đều soạn ở Trung Hoa thế kỷ VI, cách sự việc hơn hai trăm năm. (b) Phần lớn câu chuyện là chuyện linh nghiệm: xá-lợi đập không vỡ, tháp phóng hào quang, Tôn Hạo phát bệnh vì xúc phạm tượng. (c) Chính sử nước Ngô không xác nhận. Lê Mạnh Thát cho rằng quan hệ giữa Khương Tăng Hội và Tôn Quyền “có khả năng xảy ra”, vì Tôn Quyền vốn ưa chuyện “linh nghiệm” (tr. 370). Ông cũng thừa nhận các biến cố thời Tôn Hạo “đã không thấy xuất hiện trong bản kỷ của Hạo ở Ngô chí 3” (tr. 380).

2. Lời tự thuật: tựa kinh An ban thủ ý và tựa kinh Pháp kính

Xuất tam tạng ký tập quyển 6 chép hai bài tựa ghi tên “Khương Tăng Hội”: bài tựa kinh An ban thủ ý và bài tựa kinh Pháp kính. Trong bài thứ nhất có đoạn ông nói về mình:

余生末蹤。始能負薪。考妣殂落。三師凋喪。仰瞻雲日悲無質受。 — An ban thủ ý kinh tự, Khương Tăng Hội, trong Xuất tam tạng ký tập q.6, CBETA T55n2145, tr. 43b24–26

Nguyễn Lang dịch toàn bài tựa trong Việt Nam Phật giáo sử luận. Đoạn tương ứng:

“Tăng Hội tôi, sinh ra mới tới tuổi vác nổi bó củi thì cha mẹ đã qua đời. Bậc tam sư cũng theo nhau khuất núi. Mỗi khi ngước nhìn mây trời thường không khỏi cảm thấy xúc động, buồn thương rơi lệ.” — Trích sách Việt Nam Phật giáo sử luận, tập I, Nguyễn Lang, tr. 76

Bài tựa kể tiếp việc ông gặp “ba vị hiền” Hàn Lâm (Nam Dương), Bì Nghiệp (Dĩnh Xuyên), Trần Tuệ (Cối Kê), và nói về bản chú giải: 陳慧注義。余助斟酌。非師不傳。不敢自由也。 (T55n2145, tr. 43b29–c01). Nguyễn Lang dịch: “Cư sĩ Trần Tuệ làm việc chú giải và thích nghĩa còn tôi thì giúp đỡ bằng cách gạn lọc, thêm chỗ này, bớt chỗ kia.” (tr. 77). Lê Mạnh Thát dịch ngắn hơn: “Trần Tuệ chú nghĩa, tôi giúp châm chước, chẳng phải (lời) thầy không truyền, không dám tự do” (tr. 348). Hai cách hiểu chữ “thầy” (師) trong câu này dẫn đến hai giả thuyết khác nhau, được trình bày ở phần sau.

Bài tựa kinh Pháp kính có một câu cùng giọng: 喪師歷載莫由重質 (T55n2145, tr. 46c09), Lê Mạnh Thát dịch: “Tang thầy nhiều năm, (nên) không do đâu mà hỏi lại được” (tr. 329).

Giá trị của lớp này. Đây là lời của chính Khương Tăng Hội, gần thời ông nhất. Tuy vậy, hai bài tựa không nói ông sinh ở đâu, học ở đâu, viết vào năm nào. Các niên đại và địa điểm suy ra từ hai bài tựa (xem phần tác phẩm) đều là suy luận của học giả. Lê Mạnh Thát còn lưu ý rằng các bài tựa do Tăng Hựu chép lại đã qua một quá trình “sao soạn”, và bản An ban thủ ý kinh tự hiện nay thiếu một câu mà Huệ Hạo từng trích (tr. 388–389).

3. Các kinh lục đời sau: thêm chi tiết, có chi tiết mâu thuẫn

Các mục lục kinh đời Tùy, Đường chép lại tiểu sử và lập danh mục tác phẩm. Phần lớn chỉ tóm lại Tăng Hựu và Huệ Hạo; Lê Mạnh Thát (tr. 312) dùng chúng “như những tài liệu tham khảo thêm”. Có hai chi tiết đáng chú ý, đều do Lê Mạnh Thát dẫn:

  • Cổ kim dịch kinh đồ kỷ của Tĩnh Mại (đời Đường) chép Khương Tăng Hội là “con đầu của đại thừa tướng nước Khương Cư”, và đặt năm ông đến Kiến Nghiệp là 241 thay vì 247 (tr. 339, 342). Lê Mạnh Thát bác chi tiết thứ nhất, và chỉ ghi chi tiết thứ hai “để tham khảo thêm” vì Tĩnh Mại không cho biết xuất xứ (tr. 342).
  • Lịch đại tam bảo ký (đời Tùy) kê 14 bộ, 29 quyển; Khai Nguyên thích giáo lục (soạn năm Khai Nguyên thứ 18, đời Đường) rút lại còn 7 bộ, 20 quyển, vì loại các kinh đơn hành vốn nằm trong Lục độ tập kinh và loại các bản chú giải không phải do ông dịch (tr. 392–395). Các kinh lục này cũng là nguồn của năm 251 cho bản dịch Lục độ tập kinh (tr. 331).

4. Ghi chép phía Việt Nam: Thiền uyển tập anh

Trong kho tư liệu, ghi chép phía Việt Nam có nhắc tên Khương Tăng Hội là lời Quốc sư Thông Biện (năm 1096) chép trong Thiền uyển tập anh. Ông xếp Khương Tăng Hội vào Giáo tông, không vào Thiền tông. Theo bản dịch của Ngô Đức Thọ – Nguyễn Thúy Nga, Thông Biện nói: “Hai tông này truyền vào nước Việt ta đã lâu năm. Về Giáo tông thì có Mâu Bác […], Khương Tăng Hội […]. Thiền tông thì có phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi […] vào trước, phái Vô Ngôn Thông vào sau.” (truyện Quốc sư Thông Biện; bản điện tử không có số trang in, trang PDF 70).

(Chỗ […] là số chú thích của bản dịch.) Cũng đoạn ấy cho biết đến đời Lý vẫn còn một dòng nhận mình nối Khương Tăng Hội: “Dòng của Khương Tăng Hội thì nay có Lôi Hà Trạch.” (trang PDF 71). Chú thích của người dịch giới thiệu ông là nhà sư người Khương Cư “sinh và xuất gia ở Giao Châu rồi sang Trung Quốc truyền giáo” (trang PDF 165). Chúng tôi chưa đối chiếu đoạn này với nguyên bản Hán văn Thiền uyển tập anh.

Luận điểm của từng học giả

1. Lê Mạnh Thát (Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Chương V)

Chương V của sách dành trọn 91 trang cho Khương Tăng Hội (tr. 311–401). Lê Mạnh Thát dịch toàn văn tiểu sử, rồi dùng chính các tác phẩm của Khương Tăng Hội để kiểm tra và bổ sung. Ông tóm phần đời ở Việt Nam như sau:

“Hội sinh vào khoảng năm 200 từ một người cha gốc Khương Cư qua nước ta buôn bán và một bà mẹ có khả năng gốc gác người Việt. Năm 15 tuổi, cha mẹ Hội mất. Cư tang xong, 18 tuổi Hội xuất gia” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 363

Các luận điểm chính (chi tiết ở các mục sau): mẹ ông có thể là người Việt; thầy ông có khả năng là Mâu Tử; ông thọ giới Tỳ-kheo ở Giao Chỉ; chú giải An ban thủ ý được viết ở Giao Chỉ khoảng 221–230; Lục độ tập kinh dịch từ một nguyên bản tiếng Việt; lệnh phá chùa thật ra do Tôn Lâm ban năm 258, không phải Tôn Hạo. Ông dùng các mức chắc chắn khác nhau: có chỗ ghi “ta có thể giả thiết” (tr. 323), “có khả năng” (tr. 352), có chỗ ghi “sự kiện chắc chắn” (tr. 328). Ở một số đoạn, ông đặt Khương Tăng Hội vào bối cảnh lịch sử văn hóa dân tộc, chẳng hạn khi gọi Khương Tăng Hội là “một thành tựu đầu tiên và xuất sắc của nền giáo dục Việt Nam và Phật giáo Việt Nam” (tr. 332). Đó là nhận định của tác giả, chúng tôi ghi lại như vậy.

2. Nguyễn Lang (Việt Nam Phật giáo sử luận, tập I, Chương 3)

Nguyễn Lang đặt Khương Tăng Hội ở vị trí khởi đầu của Thiền học Việt Nam:

“Không những Tăng Hội là sáng tổ của Thiền học Việt Nam” — Trích sách Việt Nam Phật giáo sử luận, tập I, Nguyễn Lang, tr. 59

Vế sau của câu này nói rằng ông còn phải được xem là người đầu tiên đem Thiền phát huy ở Trung Hoa (bản OCR có lỗi chính tả ở vế này nên chúng tôi không đặt trong ngoặc kép). Theo Nguyễn Lang, “Tăng Hội chắc chắn là sinh trên đất Giao Chỉ” (tr. 59), và “một phần quan trọng của công việc này đã được ông làm tại Giao Chỉ” (tr. 59). Ông cho rằng bài tựa An ban viết “trước năm 229” (tr. 59), rằng Trần Tuệ là “học trò của An Thế Cao” (tr. 60), và rằng Khương Tăng Hội “đã đại thừa hóa Thiền học của An Thế Cao” (tr. 62).

3. HT. Thích Thiện Hoa (Lịch sử Phật giáo Việt Nam)

Sách của Thích Thiện Hoa nhìn Khương Tăng Hội khác hẳn: ông là một trong ba nhà sư người Ấn Độ “đi đường thủy sang Trung Hoa truyền đạo và đã ghé tại Việt-Nam” (tr. 4).

“Mục đích của Ngài là sang Trung Hoa, nhưng ông thân của Ngài sang Giao-Châu buôn bán nên Ngài cũng theo đường Giao-Châu để sang Trung Hoa.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, HT. Thích Thiện Hoa, tr. 5

Sách này không nói ông sinh hay xuất gia ở Giao Châu. Sách ghi Tôn Quyền “xin quy-y với Ngài ( 229-252 )” (tr. 5), một chi tiết mà tiểu sử cổ không chép (tiểu sử chỉ nói Tôn Hạo thọ năm giới).

4. Giáo trình môn Lịch sử Phật giáo Việt Nam (Chương 2)

Giáo trình xếp Khương Tăng Hội vào nhóm bốn vị được ghi nhớ “như những người đầu tiên truyền Phật giáo vào Việt Nam, mặc dù cũng nói rõ rằng những vị này chỉ là những người đầu tiên được lịch sử ghi lại” (PDF tr. 26). Phần tác phẩm, giáo trình kê bảy mục theo đúng thứ tự của Nguyễn Lang, nhưng ghi khác ở mục kinh Pháp Cảnh: “phần chú giải và đề tựa không còn” (PDF tr. 32), trong khi Nguyễn Lang và Lê Mạnh Thát đều nói bài tựa kinh này vẫn còn (xem phần tác phẩm).

5. Sách giáo khoa của TS. Thích Phước Đạt và cộng sự

Sách giáo khoa tóm tiểu sử theo Cao tăng truyện và dẫn hai nhận định: theo Thích Nhất Hạnh (tức Nguyễn Lang) thì Khương Tăng Hội “là người dạy thiền đầu tiên ở Giao Châu” (tr. 38), và “Khương Tăng Hội được tôn vinh là người đặt nền tảng thiền học Việt Nam” (tr. 38). Sách dẫn Nguyễn Tài Thư, người phân biệt hai trường hợp: Mâu Bác và Khương Tăng Hội không phải người mang đạo Phật đến, vì “Khương Tăng Hội thì đã sống và học Phật pháp tại Việt Nam” (tr. 35). Theo sách, ít nhất việc chú giải và viết tựa kinh An ban thủ ý được làm ở Giao Chỉ (tr. 38).

Cuộc đời: những gì các nguồn cùng nói, và chỗ khác nhau

Gốc gác và gia đình

Mọi nguồn đều dựa vào câu “tổ tiên người Khương Cư, mấy đời ở Thiên Trúc, cha nhân buôn bán, dời đến Giao Chỉ”. Khương Cư (Sogdiana) là vùng Trung Á; Thiên Trúc là Ấn Độ.

Lê Mạnh Thát đặt chuyến đi của người cha vào bối cảnh giao thương: theo Hậu Hán thư, sứ Thiên Trúc năm 158 và 160 “từ ngoài vùng Nhật Nam đến cống” (tr. 320). Ông kết luận cha Khương Tăng Hội đến Giao Chỉ trên những chuyến tàu ấy: “Chắc chắn là phải như thế” (tr. 321). Về người mẹ, ông thận trọng hơn. Tiểu sử chỉ nói người cha dời đến Giao Chỉ, không nhắc người mẹ; từ đó, cùng với dấu vết tiếng Việt cổ mà ông thấy trong Lục độ tập kinh, ông nêu giả thiết: “ta có thể giả thiết mẹ Hội có khả năng là một cô gái người Việt” (tr. 323). Ông tự ghi rằng “hiện không có những bằng chứng trực tiếp” (tr. 321).

Lê Mạnh Thát bác chi tiết “con đầu của đại thừa tướng nước Khương Cư” của Tĩnh Mại. Lý do: Khương Tăng Hội tự nhận mình “mới biết vác củi”, một thành ngữ mà theo Lễ ký dùng để nói tuổi con nhà thứ dân (tr. 324–326). Còn Thích Thiện Hoa ghi gốc ông là “Khương-Cư ( Soadiane, Ấn Độ )” (tr. 5).

Tuổi mồ côi, xuất gia, thầy và giới

  • Tuổi mồ côi. Tiểu sử nói “hơn 10 tuổi”; Nguyễn Lang viết “năm ông lên mười tuổi” (tr. 59). Lê Mạnh Thát đọc chữ “mới biết vác củi” trong bài tựa An ban theo Lễ ký và lời sớ của Khổng Dĩnh Đạt, rồi kết luận “Hội lúc ấy mới 15 tuổi” (tr. 325). Ông cho rằng kết luận này “hoàn toàn phù hợp” với chữ “tuổi hơn mười” của tiểu sử.
  • Thọ giới ở đâu. Lê Mạnh Thát xem chữ “ba thầy” (三師) là một phần của thể thức “tam sư thất chứng” khi truyền giới Tỳ-kheo (tr. 327), và khẳng định: “Việc Khương Tăng Hội phải thọ đại giới, tức thọ giới phẩm Tỳ kheo ở nước ta là sự kiện chắc chắn” (tr. 328). Nguyễn Lang thì viết: “Ta cũng không biết thầy ông là ai” (tr. 59).
  • Thầy là ai. Lê Mạnh Thát so văn phong bài tựa An ban với Lý hoặc luận, và so quan điểm xem ba mươi bảy phẩm trợ đạo là yếu quyết ở hai văn bản. Từ đó ông nêu giả thuyết vị thầy được nhắc trong câu “chẳng phải (lời) thầy thì không truyền” có khả năng là Mâu Tử: “vị thầy mà lời dạy do Hội ghi lại trong bản chú giải ấy có khả năng không ai khác hơn là Mâu Tử” (tr. 352). Nguyễn Lang hiểu câu này khác: “thầy” ở đây là An Thế Cao, thầy của Trần Tuệ, và câu ấy “chẳng qua là lời khiêm nhường đối với thầy của người cộng tác với mình” (tr. 62).

Kiến Nghiệp năm 247, xá-lợi và chùa Kiến Sơ

Mốc năm 247 (Xích Ô thứ 10) có trong cả hai tiểu sử cổ; Nguyễn Lang (tr. 59) và Lê Mạnh Thát đều theo mốc này. Mốc 241 của Tĩnh Mại là dị bản muộn (xem trên).

Về ý nghĩa của chùa Kiến Sơ, các sách cùng dựa vào câu “vì mới có chùa Phật” của tiểu sử. Nguyễn Lang viết: “Cũng sách này cho biết Tăng Hội đã lập ngôi chùa đầu tiên ở xứ này” (tr. 72). Đây là lời thuật lại Cao tăng truyện, phạm vi là đất Ngô. Lê Mạnh Thát lưu ý rằng trước đó Chi Khiêm đã dịch kinh ở đất Ngô, nên nói “chưa có Phật giáo” là không chính xác. Theo cách đọc của ông, Huệ Hạo sửa câu này để xác nhận Phật giáo đã có mặt ở Kiến Nghiệp nhưng “chưa phải tôn giáo của triều đình” (tr. 367).

Lê Mạnh Thát còn rút từ chuyện cầu xá-lợi ra cốt lõi tư tưởng của Khương Tăng Hội: “Cốt lõi của quan điểm này là lòng chí thành và tư tưởng cảm ứng.” (tr. 370). Câu ông nói với đồ chúng (theo bản dịch tr. 315): “Phép thiêng phải giáng, mà chúng ta không cảm được thì sao mượn được phép vua”.

Thời Tôn Hạo và năm mất

Theo tiểu sử, Tôn Hạo (lên ngôi 264) muốn phá bỏ các đền thờ dâm tự, kể cả chùa Phật. Quần thần can, viện dẫn việc “Khương Hội cảm thụ, thái hoàng dựng chùa” (tr. 316). Lê Mạnh Thát đối chiếu Ngô chí và thấy lệnh phá chùa, chém sư thật ra là của quyền thần Tôn Lâm năm 258: “Lệnh ấy do Tôn Lâm ra, chứ không phải Tôn Hạo, như Tăng Hựu và Huệ Hạo đã ghi.” (tr. 375). Ông nêu khả năng chữ “Tôn Lâm” bị chép lộn thành “Tôn Hạo” trong quá trình truyền bản (tr. 375). Các sách khác trong kho không bàn điểm này.

Năm mất 280 (tháng 9, năm Thái Khang thứ nhất nhà Tấn) thống nhất ở mọi nguồn trong kho. Tuổi thọ không được ghi; Lê Mạnh Thát đoán “chắc phải từ 60 tuổi trở lên” nếu giả thiết năm sinh của ông được chấp nhận (tr. 380).

Tác phẩm và dịch phẩm

Bảng danh mục tác phẩm gắn với Khương Tăng Hội: Lục độ tập kinh (còn), chú giải An ban thủ ý (còn, lẫn với lời giải của Đạo An theo Lê Mạnh Thát; mất theo Nguyễn Lang), tựa An ban thủ ý (còn), tựa Pháp kính (còn theo Lê Mạnh Thát và Nguyễn Lang; giáo trình ghi không còn), chú giải Pháp kính và Đạo thọ (mất), Đạo phẩm/Ngô phẩm (mất), Tạp thí dụ kinh (còn, tác quyền bàn cãi), Nê hoàn bối và Lục độ yếu mục (mất)

Tiểu sử trong Cao tăng truyện kể ông ở chùa Kiến Sơ dịch kinh A-nan niệm di, Kính diện vương, Sát vi vương, Phạm hoàng, lại dịch Tiểu phẩm, Lục độ tập, Tạp thí dụ, truyền bài Nê hoàn bối, và “chú thích ba kinh An ban thủ ý, Pháp kính và Đạo thọ” (tr. 318). Lê Mạnh Thát lập danh mục chín tác phẩm theo Xuất tam tạng ký tập có tham khảo Cao tăng truyện, rồi ghi: “Trong đó hiện thất lạc Đạo phẩm, Pháp kính kinh chú, Đạo thọ kinh chú và Đạo thọ kinh tự.” (tr. 398). Ông kể thêm Lục độ yếu mục, tác phẩm mà Đạo An có nhắc tới (tr. 396–397).

Bảng dưới đây đặt các nguồn cạnh nhau. Ô nào ghi “không bàn” nghĩa là chúng tôi không tìm thấy ý kiến của sách ấy trong kho.

Tác phẩmLê Mạnh Thát (tr. 381–398)Nguyễn Lang (tr. 61)Giáo trình (PDF tr. 32–33)
Lục độ tập kinhDịch năm 251, từ nguyên bản tiếng Việt; còn“Tăng Hội biên tập”; còn“Tăng Hội biên tập”
Chú giải An ban thủ ýCòn, lẫn với lời giải của Đạo An“nay không còn”“phần chú giải không còn”
Tựa An ban thủ ýCònCònĐề tựa (không ghi mất)
Chú giải Pháp kínhMấtMấtMất
Tựa Pháp kínhCònCòn“phần chú giải và đề tựa không còn” (sách giáo khoa tr. 41 chép giống)
Chú giải và tựa Đạo thọMấtMấtMất
Đạo phẩm / Ngô phẩm (Tiểu phẩm Bát-nhã)Dịch khoảng 251–258; mấtMấtMất
Tạp thí dụ kinhCòn; cho là của ông dựa vào văn phong, tuy Tăng Hựu không ghi tên người dịchKhông bànKhông kê
Nê hoàn bối“Truyền”; mất“biên tập”; mấtMất
Lục độ yếu mụcĐạo An nhắc tới; mấtMấtMất

Lục độ tập kinh: bản dịch, bản biên tập, hay dịch từ tiếng Việt?

Lục độ tập kinh (六度集經) còn lưu truyền đến nay và là tác phẩm mang tên Khương Tăng Hội được các sách trong kho bàn đến nhiều. Nguyễn Lang mô tả cấu trúc của kinh theo sáu độ (sáu ba-la-mật): “Ba quyển đầu nói về bố thí độ, còn các quyển sau, mỗi quyển nói về một độ trong các độ còn lại.” (tr. 61). Về bản chất văn bản, có ba quan điểm:

  1. Nguyễn Lang: “Xét văn thể và nội dung, ta biết chắc chắn đây không phải là một tác phẩm dịch thuật từ Phạn ngữ mà là một tác phẩm sưu khảo biên tập” (tr. 61), trong đó có những đoạn lược dịch từ nhiều kinh và có những đoạn do chính Khương Tăng Hội viết, như đoạn nói về thiền.
  2. Lê Mạnh Thát: kinh này “không phải là một tác phẩm dịch từ tiếng Phạn, mà cũng chẳng phải là một tác phẩm do chính Khương Tăng Hội viết ra” (tr. 331), mà là bản dịch từ một nguyên bản tiếng Việt. Căn cứ ông nêu: các “cấu trúc mang ngữ pháp tiếng Việt cổ” (tr. 322) và việc kinh giữ truyền thuyết trăm trứng, trong khi bản tương đương do Chi Khiêm dịch là trăm cục thịt (tr. 322).
  3. Thang Dụng Đồng: theo Lê Mạnh Thát dẫn lại, học giả Trung Hoa này chủ trương kinh do chính Khương Tăng Hội viết ra (tr. 331, chú thích dẫn sách năm 1936). Chúng tôi chưa đối chiếu sách gốc của Thang Dụng Đồng.

Ngoài ra, sách giáo khoa Thích Phước Đạt và cộng sự viết rằng ông là “người được coi là đã dịch Lục độ tập kinh” (tr. 35). Về mốc năm 251, Lê Mạnh Thát dẫn Lịch đại tam bảo ký và các kinh lục sau (tr. 331, 373). Ông cũng cho rằng bốn kinh A-nan niệm di, Kính diện vương, Sát vi vương, Phạm hoàng là những kinh trong Lục độ tập kinh được dịch và lưu hành trước (tr. 383).

Chú giải An ban thủ ý: viết ở đâu, vào lúc nào?

Kinh An ban thủ ý (安般守意經) do An Thế Cao dịch ở Lạc Dương, dạy phép thiền theo dõi hơi thở. Bài tựa của Khương Tăng Hội nhắc An Thế Cao “về kinh sư”. Hai học giả cùng dựa vào chữ “kinh sư” này để định niên đại:

  • Nguyễn Lang: “kinh sư” là Lạc Dương; nếu bài tựa viết sau năm Tôn Quyền xưng đế thì kinh sư phải là Kiến Nghiệp. Vậy bài tựa viết “trước năm 229, nghĩa là hồi ông còn hành đạo tại Giao Chỉ” (tr. 59).
  • Lê Mạnh Thát: thêm câu của Đạo An trong An ban chú tự: “Ngụy Sơ, Khương Hội viết chú nghĩa” (tr. 345). Ông đặt bản chú giải vào khoảng 221–230 và kết luận “nó chắc chắn được thực hiện ở Việt Nam, chứ không thể ở Trung Quốc” (tr. 346).

Hai mốc 229 và 221–230 lệch nhau một phần vì hai sách ghi năm Tôn Quyền “xưng đế” khác nhau: Nguyễn Lang ghi năm 229 (tr. 60), Lê Mạnh Thát ghi năm 222 (tr. 367). Về nơi gặp “ba vị hiền”, chính Lê Mạnh Thát viết ba cách: “chắc chắn đã gặp […] tại nước ta” (tr. 349), “có thể Hội gặp ở nước ta, nhưng cũng có thể gặp ở Kiến Nghiệp” (tr. 366), và Trần Tuệ “có nhiều khả năng đã gặp Khương Tăng Hội ở Việt Nam” (tr. 387).

Về số phận bản chú giải, hai học giả cũng khác nhau. Nguyễn Lang và giáo trình nói bản chú giải không còn. Lê Mạnh Thát cho rằng nó vẫn còn trong bản kinh An ban thủ ý hiện lưu hành, nhưng “có sự nhập nhằng giữa lời chú của Khương Tăng Hội và lời giải của Thích Đạo An” (tr. 389).

Các tác phẩm khác

  • Đạo phẩm / Ngô phẩm. Theo Lê Mạnh Thát, đây là bản Bát-nhã tám nghìn kệ (Tiểu phẩm), dịch trong khoảng 251–258, đã thất lạc trước thời Phí Trường Phòng (tr. 384). Nguyễn Lang viết rằng Khai Nguyên lục có nhắc tới bản dịch này, còn Đạo An, Chi Tuần và Lương Vũ Đế khi viết tựa kinh Đạo hành Bát-nhã “đều không nhắc gì tới” (tr. 66).
  • Tạp thí dụ kinh. Bản hai quyển trong Đại Chính tạng ghi tên Khương Tăng Hội. Lê Mạnh Thát ghi rằng câu hỏi bản nào của ông “hiện không thể trả lời dứt khoát được” vì Tăng Hựu không biết người dịch, nhưng vẫn cho đó là bản dịch của ông dựa vào nội dung và văn phong (tr. 385). Trong bản này có những lời bình mở đầu bằng “Thầy nói”, mà Lê Mạnh Thát xem là lời giảng của thầy Khương Tăng Hội (tr. 329, 353).
  • Nê hoàn bối. Cao tăng truyện chép ông “truyền” bài bối Nê hoàn, “làm mẫu mực cho một thời đại” (tr. 318). Lê Mạnh Thát có lúc viết rằng điểm sáng tạo của ông là “biến nó thành một bản nhạc” (tr. 391), có lúc lại ghi ông “chỉ làm công tác “truyền”, chứ không phải sáng tác” (tr. 400).

Tư tưởng: tâm, thiền, cảm ứng và nhân quả

Các sách trong kho chủ yếu bàn tư tưởng Khương Tăng Hội qua bài tựa An ban, đoạn nói về thiền trong Lục độ tập kinh, và cuộc đối đáp với Tôn Hạo.

Tâm. Bài tựa An ban mô tả tâm không hình, không tiếng. Nguyễn Lang dịch: “Ta không thấy được tâm vì nó không có hình tướng, ta không nghe được tâm vì nó không có âm thanh” (tr. 74). Bài tựa gọi cái tâm ấy là “ấm” (陰). Nguyễn Lang đọc chữ này là dịch từ ālaya (tạng thức), không phải skandha (uẩn): “Theo chúng tôi, đây là dịch từ chữ alaya (tạng thức)” (tr. 66). Ông tự ghi “theo chúng tôi”; đây là cách hiểu của ông.

Thiền. Bài tựa mở đầu bằng câu 夫安般者。諸佛之大乘。以濟眾生之漂流也。 (T55n2145, tr. 43a01). Nguyễn Lang dịch: “An Ban tức là đại thừa của chư Phật để tế độ cho chúng sinh đang phiêu trầm sinh tử” (tr. 61), và xem câu này là bằng chứng Khương Tăng Hội đã đại thừa hóa phép thiền An ban (tr. 66). Bài tựa trình bày tâm chuyển niệm rất nhanh: “trong thời gian một cái búng tay, tâm có thể trải qua tới 960 lần chuyển niệm” (bản dịch Nguyễn Lang, tr. 74), nên cần đếm hơi thở để tâm lắng xuống, đi qua bốn thiền. Nguyễn Lang tóm sáu phép (sổ, tùy, chỉ, quán, hoàn, tịnh) ở tr. 63–64. Lê Mạnh Thát lưu ý rằng khi giải thích chữ “an ban”, Khương Tăng Hội không xem đó là phiên âm tiếng Phạn mà giải nghĩa bóng kiểu “an là thân, ban là hơi thở” (tr. 360).

Cảm ứng, chí thành và nhân quả. Lê Mạnh Thát rút từ chuyện cầu xá-lợi ra hai khái niệm “lòng chí thành và tư tưởng cảm ứng” (tr. 370). Khi Tôn Hạo hỏi Phật giáo có dạy thiện ác báo ứng không, Khương Tăng Hội dẫn Kinh Dịch (“tích thiện dư khánh”) và Kinh Thi (“cầu phước không lui”, theo cách dịch của Lê Mạnh Thát ở tr. 377), rồi nói đó tuy “là cách ngôn của sách nho, cũng là minh huấn của Phật giáo” (bản dịch Lê Mạnh Thát, tr. 317; nguyên văn 雖儒典之格言,即佛教之明訓, T50n2059, tr. 325c24). Câu mở đầu lời đáp có chữ hiếu: “Hễ chúa sáng dùng hiếu từ dạy đời, thì chim đỏ bay đến và sao người già hiện ra” (tr. 316).

Nho và Phật. Hỏi tiếp rằng Chu Công, Khổng Tử đã dạy rõ thì cần gì Phật giáo, ông đáp:

“Lời nói của Chu Khổng bày sơ dấu gần. Còn lời dạy của đức Thích Ca thì đầy đủ tới chỗ u vi. Cho nên, làm ác thì có địa ngục khổ mãi, tu thiện thì có thiên đường sướng luôn.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 316–317 (bản dịch Cao tăng truyện; trang OCR không ghi số, theo thứ tự PDF là tr. 317)

Lê Mạnh Thát cho rằng lời đối đáp này, dù có xảy ra hay không, vẫn phản ánh quan điểm của Khương Tăng Hội, vì trong Lục độ tập kinh có câu: “Tôi ở đời đã lâu, thấy Nho gia không bằng Phật tử” (tr. 377). Nguyễn Lang thì nhận xét rằng trong trước tác của mình, “Tăng Hội không còn dùng những dẫn chứng và luận lý của Nho và Lão như Mâu Tử nữa; văn ông đã thuần túy Phật giáo” (tr. 73), chỉ khi đối đáp với Tôn Hạo mới dẫn sách Nho.

Giới hạn. Các sách trong kho chưa phân tích riêng chủ đề hiếu đạo hay hệ thống lục độ trong Lục độ tập kinh ở mức từng truyện. Bài này chỉ trình bày những gì các sách đã nói; phân tích kinh văn Lục độ tập kinh (T03n0152) chưa làm.

Phật giáo Giao Chỉ thế kỷ III: Luy Lâu và những vị tăng cùng thời

Lời Đàm Thiên: Giao Châu có Phật giáo trước Giang Đông

Lời pháp sư Đàm Thiên đời Tùy (do Thông Biện dẫn trong Thiền uyển tập anh) được nhiều sách trong kho dẫn lại. Trong bản dịch của Lê Mạnh Thát, câu ấy liệt kê các vị tăng ở Luy Lâu: “Vào lúc ấy, thì đã có Khâu ni danh, Ma Ha Kỳ Vực, Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương, Mâu Bác tại đó.” (tr. 17). Lê Mạnh Thát dẫn lời này để khẳng định “Phật giáo truyền đến Giao Châu trước khi truyền đến Giang Đông” (tr. 347). Các con số trong lời Đàm Thiên (số chùa, số tăng) khác nhau giữa các bản dịch; bài Phật giáo Việt Nam trước Công nguyên đã nêu chi tiết.

Chi Cương Lương Tiếp và kinh Pháp Hoa tam muội

Theo Lịch đại tam bảo ký (Lê Mạnh Thát dịch):

“Đời Cao Quý Hương công, năm Cam Lồ thứ nhất (256), tháng 7, Sa môn nước ngoài là Chi Cương Lương Tiếp, có nghĩa Chánh Vô Úy, đến Ngụy, dịch ở Giao Châu. Sa môn Đạo Thanh bút thọ.” — Trích sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Lê Mạnh Thát, tr. 402

Bản kinh sáu quyển này đã mất. Nguyễn Lang ghi năm dịch là “255 hay 256” (tr. 67) và xếp kinh vào loại thiền kinh đại thừa. Sách giáo khoa ghi vị này là người nước Nhục Chi, “đến Luy Lâu, ở lại từ năm 255 đến năm 256” (tr. 38). Tên Phạn của ông chưa thống nhất: Nguyễn Lang dẫn Paul Pelliot đề nghị Kalaruci (tr. 67), bản dịch Thiền uyển tập anh của Ngô Đức Thọ cũng ghi Kalaruci (lời giới thiệu, PDF tr. 10), còn Lê Mạnh Thát đề nghị một dạng khác là Kalyāṇaśiva (bản OCR ghi “Kalyāna’siva”; Chương VI, tr. 416). Điểm khác quan trọng hơn: Nguyễn Lang theo Pelliot cho rằng Chi Cương Lương Tiếp và Cương Lương Lâu Chí (người dịch nhiều kinh ở Giao Châu theo vài bản mục lục) “chỉ là một” (tr. 67), còn Lê Mạnh Thát viết: “Chúng tôi nghĩ rằng Cương Lương Tiếp và Cương Lương Lâu Chí là hai nhân vật khác nhau” (Chương VI, tr. 417); theo ông, người thứ hai sống ở Quảng Châu khoảng năm 266. Người bút thọ là Đạo Thanh (có bản chép Đạo Hinh). Lê Mạnh Thát giả thiết Đạo Thanh “có thể học tập với Khương Tăng Hội vào khoảng những năm 240” (tr. 413).

Ma-la-kỳ-vực

Nguyễn Lang nhắc Ma-la-kỳ-vực (Mārajīvaka) trong thế kỷ III ở Giao Châu, kèm lời dặn: “ta không biết được tư tưởng Phật giáo của vị này thuộc hệ thống nào” (tr. 68). Đoạn Cao tăng truyện ông dẫn lại cho biết vị này người Tây Trúc, đi qua Phù Nam, dọc bờ biển đến Giao Châu, Quảng Châu, và “Vào cuối triều Huệ Đế nhà Tấn (290-306) ngài đến Lạc Dương” (tr. 68). Lê Mạnh Thát thì cho rằng Ma-ha Kỳ-vực trong truyện chùa Pháp Vân (khoảng năm 189) và Kỳ-vực thời Tấn Huệ đế “có khả năng là có hai ông khác nhau” (Chương III, tr. 153). Niên đại chính xác của vị tăng này vì vậy chưa rõ.

Những người quanh Khương Tăng Hội

Trong kho tư liệu, những người gắn với Khương Tăng Hội ở thế kỷ III gồm:

  • Ba vị hiền Hàn Lâm, Bì Nghiệp (Cao tăng truyện chép Văn Nghiệp), Trần Tuệ: tên lấy từ bài tựa An ban. Họ là học trò An Thế Cao (Nguyễn Lang, tr. 60, 62) hay không thể là học trò trực tiếp (Lê Mạnh Thát, tr. 349–350)? Hai sách nói ngược nhau.
  • Mâu Tử: tác giả Lý hoặc luận, được Lê Mạnh Thát giả thuyết là một trong “ba thầy” (tr. 352). Chưa sách nào khác trong kho nêu ý này.
  • Đệ tử đi theo sang Kiến Nghiệp: tiểu sử gọi là “người theo mình” (tr. 315). Lê Mạnh Thát cho rằng họ “hẳn phải đến từ Việt Nam” (tr. 372); tiểu sử không nói quê quán của họ.

Bảng so sánh quan điểm

Vấn đềLê Mạnh Thát (LSPGVN t.1)Nguyễn Lang (Sử luận t.I)Thích Thiện HoaGiáo trình / SGK Thích Phước Đạt
Nơi sinh, xuất giaSinh khoảng 200 ở Giao Chỉ, mẹ có khả năng là người Việt; xuất gia, thọ giới ở Giao Chỉ (tr. 323, 328, 363)“chắc chắn là sinh trên đất Giao Chỉ” (tr. 59)Theo đường Giao Châu để sang Trung Hoa; “ghé lại” (tr. 5)Sống và học Phật pháp tại Việt Nam (SGK dẫn Nguyễn Tài Thư, tr. 35)
Tuổi mồ côi15 tuổi (tr. 325)Lên mười (tr. 59)Không bàn“hơn 10 tuổi” theo Cao tăng truyện (SGK tr. 37)
ThầyCó khả năng là Mâu Tử (tr. 352)Không biết; “thầy” trong tựa là An Thế Cao (tr. 59, 62)Không bànKhông bàn
Chú giải An banViết ở Việt Nam, 221–230 (tr. 346)Tựa viết trước 229, ở Giao Chỉ (tr. 59)Không bànLàm ở Giao Chỉ (SGK tr. 38)
Lục độ tập kinhDịch năm 251 từ bản tiếng Việt (tr. 331)“sưu khảo biên tập” (tr. 61)Không bàn“biên tập” (giáo trình); “được coi là đã dịch” (SGK tr. 35)
Vị trí trong Thiền họcKhông dùng danh xưng “sáng tổ”; nhấn học phong của vị thầy mà Khương Tăng Hội kế thừa (tr. 330–331) và tư tưởng cảm ứng (tr. 370)“sáng tổ của Thiền học Việt Nam” (tr. 59)Không bàn“người đặt nền tảng thiền học Việt Nam” (SGK tr. 38)
Lệnh phá chùaTôn Lâm năm 258, không phải Tôn Hạo (tr. 375)Không bàn lệnh phá chùa; chỉ thuật Tôn Hạo ban đầu không tôn phục rồi thọ năm giới (tr. 72)Không bànKhông bàn
Mức chắc chắn tác giả tự nêuTừ “giả thiết”, “có khả năng” đến “chắc chắn” tùy luận điểm“chắc chắn” (nơi sinh, Lục độ tập); “theo chúng tôi” (ālaya)Không nêu nguồn cụ thểChủ yếu tóm theo các sách khác

Thêm: Thiền uyển tập anh (lời Thông Biện) xếp Khương Tăng Hội vào Giáo tông chứ không phải Thiền tông (PDF tr. 70).

Nhận định của người viết

Phần này là ý kiến của người viết bài, không phải lời của các sách đã dẫn.

  1. Phần chắc chắn tương đối. Có một khung sự kiện mà phần lớn các nguồn trong kho cùng chấp nhận (sách của HT. Thích Thiện Hoa không nhắc chuyện xuất gia ở Giao Chỉ), và có sử liệu tương đối gần thời: cha ông là thương nhân gốc Khương Cư dời đến Giao Chỉ; ông xuất gia sau khi mồ côi; năm 247 ông đến Kiến Nghiệp; ông gắn với chùa Kiến Sơ; ông mất năm 280; ông có liên quan đến Lục độ tập kinh và kinh An ban thủ ý. Tất cả dựa trên hai tiểu sử thế kỷ VI và hai bài tựa do chính ông viết.
  2. Phần là suy luận. Những điều sau là suy luận của học giả, không phải lời sử liệu: mẹ ông là người Việt, thầy ông là Mâu Tử, năm sinh khoảng 200, tuổi mồ côi là 15, bản chú giải An ban viết năm 221–230, Lục độ tập kinh có nguyên bản tiếng Việt, lệnh phá chùa thuộc về Tôn Lâm. Một số suy luận được lập luận kỹ (ví dụ chữ “kinh sư” trong bài tựa), một số dựa trên chuỗi giả thiết nối tiếp nhau (mẹ người Việt → dấu vết tiếng Việt trong kinh → nguyên bản tiếng Việt). Theo cách đọc của người viết, nên ghi chúng là giả thuyết của Lê Mạnh Thát hay nhận định của Nguyễn Lang, không viết như sự thật.
  3. “Người Việt Nam” theo nghĩa nào. Câu hỏi Khương Tăng Hội có phải người Việt hay không phụ thuộc vào tiêu chí. Tiểu sử chỉ cho biết cha ông dời đến Giao Chỉ, và ông xuất gia sau khi cha mẹ mất; Lê Mạnh Thát, Nguyễn Lang và sách giáo khoa hiểu rằng ông lớn lên và xuất gia ở Giao Chỉ, là người của Phật giáo Giao Chỉ, còn sách Thích Thiện Hoa coi ông là nhà sư người Ấn Độ ghé qua. Theo người viết, cách diễn đạt sát nguồn nhất là: nhà sư gốc Khương Cư, xuất gia ở Giao Chỉ (theo cách hiểu tiểu sử của đa số các sách), hoằng pháp ở nước Ngô.
  4. Danh xưng sáng tổ Thiền học. Danh xưng này là của Nguyễn Lang (bút danh của Thích Nhất Hạnh); sách giáo khoa dẫn một ý tương tự dưới tên Thích Nhất Hạnh và viết rằng ông “được tôn vinh” là người đặt nền tảng thiền học Việt Nam. Nó cần được đặt cạnh lời Thông Biện thời Lý xếp ông vào Giáo tông. Hai cách xếp có thể không mâu thuẫn: Thông Biện phân theo dòng truyền thừa, còn Nguyễn Lang xét nội dung tư tưởng (thiền An ban, đoạn thiền trong Lục độ tập kinh). Dù vậy, khi viết, nên ghi rõ danh xưng ấy là của ai.
  5. Ý nghĩa với người học Phật. Qua chính lời ông trong hai bài tựa, có thể thấy một người tu nhớ thầy (“Tang thầy nhiều năm, (nên) không do đâu mà hỏi lại được”), cẩn trọng với lời truyền (“chẳng phải (lời) thầy thì không truyền”, theo bản dịch của Lê Mạnh Thát), và, theo cách đọc của người viết, đặt việc tu thiền, giữ tâm lên hàng đầu. Đây là phần ít tranh luận nhất trong di sản của ông.

Điểm còn tranh luận

  • Nơi sinh và gốc mẹ. Tiểu sử chỉ nói người cha dời đến Giao Chỉ. Giả thiết mẹ ông là người Việt là của Lê Mạnh Thát (tr. 321–323), ông tự ghi là chưa có bằng chứng trực tiếp. Sách Thích Thiện Hoa không cho là ông sinh ở Giao Châu (tr. 5).
  • Tuổi mồ côi: 10 hay 15. Hai cách đọc khác nhau của cùng một câu tiểu sử và một thành ngữ trong bài tựa (Nguyễn Lang tr. 59; Lê Mạnh Thát tr. 325).
  • Ai là “thầy” trong câu 非師不傳. Mâu Tử (Lê Mạnh Thát, giả thuyết, tr. 352) hay An Thế Cao, thầy của Trần Tuệ (Nguyễn Lang, tr. 62). Không có văn bản nào nêu tên.
  • Trần Tuệ có phải học trò An Thế Cao. Nguyễn Lang: có (tr. 60). Lê Mạnh Thát: khó có thể, vì khi ấy Trần Tuệ phải gần 80 tuổi (tr. 349–350). Lời sấm “truyền kinh thiền là Tỳ-kheo Tăng Hội” nằm trong một Biệt truyện An Thế Cao. Huệ Hạo chỉ ra Biệt truyện tự mâu thuẫn về niên đại, nhưng vẫn cho lời ghi trong hộp niêm phong là đáng tin (nguyên văn 信非虛作, T50n2059, tr. 324b05). Lê Mạnh Thát có chỗ gọi Biệt truyện là có “giá trị sử liệu đáng nghi ngờ” (tr. 348), nhưng ở chỗ khác lại dùng chính lời sấm này để nói Khương Tăng Hội đã là Tỳ-kheo khi lên Kiến Nghiệp (tr. 328) và Trần Huệ có vai trò quan trọng (tr. 387). Theo cách đọc của người viết, lời sấm không nói gì trực tiếp về quan hệ thầy trò giữa An Thế Cao và Trần Tuệ.
  • Năm Tôn Quyền xưng đế: 222 hay 229. Lê Mạnh Thát ghi 222 (tr. 367), Nguyễn Lang ghi 229 (tr. 60). Mốc này ảnh hưởng trực tiếp đến lập luận định niên đại bài tựa An ban. Chưa đối chiếu với Tam quốc chí.
  • Năm đến Kiến Nghiệp: 247 hay 241. Hai tiểu sử cổ ghi 247; Cổ kim dịch kinh đồ kỷ (đời Đường) ghi 241, không rõ xuất xứ (Lê Mạnh Thát, tr. 342).
  • Bản chất Lục độ tập kinh. Bản dịch từ tiếng Việt (Lê Mạnh Thát), tác phẩm sưu khảo biên tập (Nguyễn Lang), hay do chính ông viết (Thang Dụng Đồng, qua lời dẫn). Luận điểm “ngữ pháp tiếng Việt cổ” cần các nghiên cứu ngôn ngữ học độc lập; trong kho tư liệu chưa có.
  • Chú giải An ban còn hay mất; tựa Pháp kính còn hay mất. Xem bảng tác phẩm. Riêng tựa Pháp kính: chúng tôi đã thấy bài tựa này trong Xuất tam tạng ký tập q.6 trên CBETA (T55n2145, tr. 46b–c), khớp với Lê Mạnh Thát và Nguyễn Lang; ghi chú “không còn” của giáo trình có lẽ cần xem lại.
  • Lệnh phá chùa: Tôn Hạo hay Tôn Lâm. Luận điểm của riêng Lê Mạnh Thát (tr. 374–375), dựa trên Ngô chí. Chưa đối chiếu Ngô chí.
  • Chi Cương Lương Tiếp và Cương Lương Lâu Chí là một hay hai người; tên Phạn của họ; niên đại Ma-la-kỳ-vực. Nguyễn Lang theo Pelliot (một người) và Lê Mạnh Thát (hai người) nói khác nhau; xem mục Phật giáo Giao Chỉ thế kỷ III.

Đối chiếu các tạng

Bài này không trích kinh văn Pāḷi. Phần nguyên văn Hán dùng trong bài (tiểu sử Cao tăng truyện q.1; An ban thủ ý kinh tự và Pháp kính kinh tự trong Xuất tam tạng ký tập q.6) chép bằng công cụ từ CBETA, bản Đại Chính. Bản Xuất tam tạng ký tập q.13 (tiểu sử của Tăng Hựu) đã tải về để đối chiếu nhưng bài chủ yếu dùng bản Huệ Hạo theo bản dịch của Lê Mạnh Thát. Kinh văn Lục độ tập kinh (T03n0152) và Tạp thí dụ kinh (T04n0206) chưa đối chiếu. Nguyên bản Hán văn Thiền uyển tập anh chưa đối chiếu.

Tra cứu trong bài

  • Khương Tăng Hội: nhà sư gốc Khương Cư, xuất gia ở Giao Chỉ, năm 247 sang Kiến Nghiệp.
  • Lục độ tập kinh: tập kinh về sáu ba-la-mật mang tên Khương Tăng Hội.
  • Luy Lâu: trị sở Giao Chỉ thời Hán, trung tâm Phật giáo được Thông Biện nhắc tới.
  • Đức Phật

Nguồn tham khảo

Sử liệu Hán văn (chép từ CBETA, bản Đại Chính):

  • Huệ Hạo, Cao tăng truyện (高僧傳), quyển 1, truyện Khương Tăng Hội, T50n2059, tr. 325a13–326b13.
  • Tăng Hựu, Xuất tam tạng ký tập (出三藏記集), quyển 6: An ban thủ ý kinh tự và Pháp kính kinh tự của Khương Tăng Hội, T55n2145, tr. 42c29–43c03, 46b–c; quyển 13: truyện Khương Tăng Hội (đã tải, chưa trích).

Sách trong kho tư liệu (trích sách, không phải lời kinh):

  • Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1: Từ khởi nguyên đến thời Lý Nam Đế (544), NXB TP. Hồ Chí Minh, 2003, Chương V “Khương Tăng Hội”, tr. 311–401 (dùng tr. 311–332, 339, 342, 345–353, 360, 363, 366–367, 370, 372–375, 377, 380, 383–385, 388–389, 391, 396–398, 400); Chương VI, tr. 402, 413, 418; Chương III, tr. 153; Chương I, tr. 17.
  • Nguyễn Lang (Thích Nhất Hạnh), Việt Nam Phật giáo sử luận, tập I, Chương 3 “Khởi nguyên của Thiền học Việt Nam”, tr. 59–77 (bản điện tử trong kho).
  • HT. Thích Thiện Hoa, Lịch sử Phật giáo Việt Nam (Từ lúc mới du nhập đến hết đời nhà Lý), mục “I. Phật giáo du nhập vào Việt Nam”, tr. 4–5.
  • TS. Thích Phước Đạt, TS. Thích Hạnh Tuệ, TS. Thích Nữ Thanh Quế, TS. Đinh Văn Viễn, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, mục 2.2–2.3, tr. 27, 35, 37–38.
  • Môn Lịch sử Phật giáo Việt Nam (giáo trình), TT. TS. Thích Phước Đạt phụ trách, Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM, Chương 2, PDF tr. 26, 28, 32–33 (giáo trình không có số trang in).
  • Thiền uyển tập anh, Ngô Đức Thọ – Nguyễn Thúy Nga dịch, NXB Văn Học, Hà Nội, 1990: lời giới thiệu (PDF tr. 10), truyện Quốc sư Thông Biện (PDF tr. 70–71), chú thích 97 (PDF tr. 165).

Về chữ “chú giải” trong bài: chữ này chỉ bản chú giải kinh An ban thủ ý của Khương Tăng Hội; bài này không trích nội dung Chú giải Trung Bộ Kinh (Chú Giải Trung Bộ Kinh (vietheravada.net)).

Nguồn chỉ biết qua lời dẫn (thứ cấp, chưa đối chiếu sách gốc): Ngô chí (Tam quốc chí), Hậu Hán thư, Lịch đại tam bảo ký, Cổ kim dịch kinh đồ kỷ, Khai Nguyên thích giáo lục, An ban chú tự của Đạo An, theo bản dịch của Lê Mạnh Thát; Thang Dụng Đồng, Hán Ngụy lưỡng Tấn Nam Bắc triều Phật giáo sử (1936), theo Lê Mạnh Thát; Paul Pelliot (T’oung Pao, 1923), theo Nguyễn Lang; Thích Nhất Hạnh và Nguyễn Tài Thư, theo sách giáo khoa Thích Phước Đạt và cộng sự.

Ghi chú kiểm nguồn (17/10/2026): câu trích chép từ bản OCR hoặc lớp chữ trong kho corpus/lspgvn, chưa đối chiếu bản in giấy. Một số trang của Lê Mạnh Thát trong bản OCR không đọc được số trang in (tr. 317, 326, 346, 375, 377, 385); số trang ở các chỗ ấy được suy theo thứ tự trang PDF (trang in = trang PDF + 1, kiểm bằng chân trang). Nguyên văn Hán chép từ CBETA ngày 17/10/2026.

📖 Nguồn / bản quyền: Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập 1; Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận; Thích Thiện Hoa, Lịch sử Phật giáo Việt Nam; Thích Phước Đạt và cộng sự, Lịch sử Phật giáo Việt Nam; giáo trình môn LSPGVN; Thiền uyển tập anh (Ngô Đức Thọ dịch); CBETA T50n2059, T55n2145