MA106 — Kinh Tưởng (Trung A-hàm 106, tương đương MN1)
Tóm tắt nhanh: 想經 — Trung A-hàm 106, bản Hán tạng tương đương MN1 — Kinh Pháp Môn Căn Bản. Tại Xá-vệ, Đức Phật nói về ba cách đứng trước một đối tượng — từ đất, nước, lửa, gió cho đến cái Tất cả: (1) có sa-môn, bà-la-môn tưởng “đất là thần ngã, đất là sở hữu của thần ngã, thần ngã là sở hữu của đất” — nên không biết rõ đất; (2) có sa-môn, bà-la-môn biết “đất không phải thần ngã…” — nên biết rõ đất; (3) chính Như Lai cũng biết như vậy. Kinh ngắn (526 chữ Hán), khung gọn hơn MN1 rất nhiều nhưng cùng một trục: tưởng gắn “ngã” vào vật là gốc của không-biết.
🔗 Song tạng: Bản Pāḷi tương đương — MN1 — Kinh Pháp Môn Căn Bản (Mūlapariyāya Sutta).
Bối cảnh
Một thời Đức Phật trú tại nước Xá-vệ (舍衛國), trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc (勝林給孤獨園). Kinh không có người hỏi, không có sự kiện mở đầu: Đức Phật trực tiếp bảo các Tỳ-kheo.
我聞如是:一時,佛遊舍衛國,在勝林給孤獨園。
Tôi nghe như vầy:
Một thời Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Hán: ma106/lzh/taisho (Taishō T26 no.106, 0596b11-b12) · Việt (Tuệ Sỹ): ma106/vi/tue_syCác đối tượng được xét
Cả ba đoạn chính của kinh dùng cùng một danh sách đối tượng, lặp nguyên khuôn. Liệt kê đủ theo bản Hán và bản Việt (Tuệ Sỹ):
| # | Việt (Tuệ Sỹ) | Hán | Nhóm |
|---|---|---|---|
| 1 | Đất | 地 | Tứ đại |
| 2 | Nước | 水 | Tứ đại |
| 3 | Lửa | 火 | Tứ đại |
| 4 | Gió | 風 | Tứ đại |
| 5 | Thần | 神 | Chúng sinh / thần linh |
| 6 | Trời | 天 | Chúng sinh / thần linh |
| 7 | Sanh chủ | 生主 | Thần sáng tạo |
| 8 | Phạm thiên | 梵天 | Thần sáng tạo |
| 9 | Vô phiền thiên | 無煩 | Cõi trời sắc giới |
| 10 | Vô nhiệt thiên | 無熱 | Cõi trời sắc giới |
| 11 | Tịnh thiên | 淨 | Cõi trời sắc giới |
| 12 | Không vô biên xứ | 無量空處 | Vô sắc |
| 13 | Thức vô biên xứ | 無量識處 | Vô sắc |
| 14 | Vô sở hữu xứ | 無所有處 | Vô sắc |
| 15 | Phi tưởng phi phi tưởng | 非有想非無想處 | Vô sắc |
| 16 | Nhất thể | 一 | Khái niệm tổng quát |
| 17 | Dị biệt | 別 | Khái niệm tổng quát |
| 18 | Đa thù | 若干 | Khái niệm tổng quát |
| 19 | Cái được thấy | 見 | Kinh nghiệm |
| 20 | Cái được nghe | 聞 | Kinh nghiệm |
| 21 | Cái được nhận thức | 識 | Kinh nghiệm |
| 22 | Cái được liễu tri | 知 | Kinh nghiệm |
| 23 | Cái được quán sát, được tác ý, được ý tư duy | 得觀意所念、意所思 | Kinh nghiệm |
| 24 | Từ đời này đến đời kia, từ đời kia đến đời này | 從此世至彼世,從彼世至此世 | Thời gian / tái sinh |
| 25 | Cái Tất cả | 一切 | Tổng thể |
Bản Việt của Tuệ Sỹ triển khai thêm “cái được làm” trong nhóm kinh nghiệm; bảng trên xếp theo trình tự chữ Hán. Số thứ tự chỉ để tiện đọc, không phải đánh số của kinh.
Với mỗi đối tượng, kinh xét ba hạng theo đúng một công thức ba vế: X là thần ngã — X là sở hữu của thần ngã — thần ngã là sở hữu của X.
Hạng thứ nhất — Tưởng “đất là thần ngã”, nên không biết đất
Đây là hạng tương ứng với phàm phu trong MN1, nhưng bản Hán gọi đích danh “sa-môn, bà-la-môn” (沙門、梵志) — tức các nhà tu, nhà tư tưởng đương thời. Họ đối với đất có tưởng về đất (於地有地想), rồi đồng nhất đất với thần ngã (神, ātman), theo ba vế. Hệ quả: “không biết rõ đất” (便不知地).
爾時,世尊告諸比丘:「若有沙門、梵志於地有地想,地即是神,地是神所,神是地所,彼計地即是神已,便不知地。
Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn đối với đất có tư tưởng về đất, cho rằng: ‘Đất tức là thần ngã, đất là sở hữu của thần ngã, thần ngã là sở hữu của đất ’. Vị ấy đã cho đất tức là ngã, do đó không biết rõ đất.
MA 106 — T26 0596b12-b14Khuôn ấy lặp lại cho nước, lửa, gió, thần, trời, Sanh chủ, Phạm thiên, Vô phiền thiên, Vô nhiệt thiên, rồi kinh viết đủ cho Tịnh thiên:
如是水、火、風、神、天、生主、梵天、無煩、無熱。彼於淨有淨想,淨即是神,淨是神所,神是淨所,彼計淨即是神已,便不知淨,
Cũng như vậy, đối với nước, lửa, gió, thần, trời, Sanh chủ, Phạm thiên, Vô phiền thiên, Vô nhiệt thiên, vị ấy đối với Tịnh thiên có tư tưởng về Tịnh thiên, ‘Tịnh thiên tức là thần ngã, Tịnh thiên là sở hữu của thần ngã, thần ngã là sở hữu của Tịnh thiên’. Vị ấy đã cho Tịnh thiên tức là thần ngã, do đó không biết rõ Tịnh thiên.
MA 106 — T26 0596b14-b17Tiếp đến bốn xứ vô sắc, các phạm trù nhất thể, dị biệt, đa thù, bốn loại kinh nghiệm thấy, nghe, nhận thức, liễu tri, những gì được quán sát, tác ý, ý tư duy, sự qua lại giữa đời này và đời kia — và cuối cùng là cái Tất cả:
無量空處、無量識處、無所有處、非有想非無想處、一、別、若干、見、聞、識、知,得觀意所念、意所思。從此世至彼世,從彼世至此世,彼於一切有一切想,一切即是神,一切是神所,神是一切所,彼計一切即是神已,便不知一切。」
Đối với Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng, với nhất thể, dị biệt, đa thù, cái được thấy, cái được nghe, cái được nhận thức, cái được liễu tri, cái được làm, cái được quán sát; cái được tác ý, cái được ý tư duy, từ đời này đến đời kia, từ đời kia đến đời này, cho đến, cái tất cả. Vị ấy đối với cái tất cả có tư tưởng về cái Tất cả, ‘Tất cả là thần ngã, tất cả là sở hữu của thần ngã, thần ngã là sở hữu của tất cả’. Vị ấy đã cho Tất cả tức là ngã, do đó không biết rõ cái Tất cả.
MA 106 — T26 0596b17-b22Hạng thứ hai — Biết “đất không phải thần ngã”, nên biết rõ đất
Cũng là sa-môn, bà-la-môn, nhưng thay vì “có tưởng về đất” thì “đối với đất thì biết đất” (於地則知地), và phủ định cả ba vế: đất không phải thần ngã, không phải sở hữu của thần ngã, thần ngã không phải sở hữu của đất. Vì không chấp đất là thần ngã (不計地即是神) nên biết rõ đất. Hạng này tương ứng các bậc hữu học và A-la-hán trong MN1 — nhưng bản Hán không chia nhỏ.
「若有沙門、梵志於地則知地,地非是神,地非神所,神非地所,彼不計地即是神已,彼便知地。
“Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn đối với đất thì biết đất, ‘Đất không phải là thần ngã, đất không phải là sở hữu của thần ngã, thần ngã không phải là sở hữu của đất’. Vị ấy đã không cho đất tức là thần ngã, vậy vị ấy biết rõ đất.
MA 106 — T26 0596b22-b24Lặp khuôn qua nước, lửa, gió, thần, trời, Sanh chủ, Phạm thiên, Vô phiền thiên, Vô nhiệt thiên, rồi Tịnh thiên:
如是水、火、風、神、天、生主、梵天、無煩、無熱。彼於淨則知淨,淨非是神,淨非神所,神非淨所。彼不計淨即是神已,彼便知淨,
Cũng như vậy, đối với nước, lửa, gió, thần, trời, Sanh chủ, Phạm thiên, Vô phiền thiên, Vô nhiệt thiên; vị ấy đối với Tịnh thiên thì biết Tịnh thiên, ‘Tịnh thiên không phải là thần ngã, Tịnh thiên không phải là sở hữu của thần ngã, thần ngã không phải là sở hữu của Tịnh thiên’. Vị ấy đã không cho Tịnh thiên tức là thần ngã, vậy vị ấy biết rõ Tịnh thiên.
MA 106 — T26 0596b24-b27Và qua bốn xứ vô sắc, nhất thể, dị biệt, đa thù, thấy, nghe, nhận thức, liễu tri, quán sát, tác ý, ý tư duy, đời này – đời kia, đến cái Tất cả:
無量空處、無量識處、無所有處、非有想非無想處、一、別、若干、見、聞、識、知,得觀意所念、意所思。從此世至彼世,從彼世至此世,彼於一切則知一切,一切非是神,一切非神所,神非一切所,彼不計一切即是神已,彼便知一切。
Vị ấy đối với cái Tất cả thì biết là Tất cả, ‘Cái Tất cả không phải là ngã, cái Tất cả không phải là sở hữu của ngã, ngã không phải là sở hữu của cái Tất cả’. Vị ấy đã không cho cái Tất cả là thần ngã, vậy vị ấy đã biết rõ cái Tất cả.
MA 106 — T26 0596b27-c03Hạng thứ ba — Như Lai: “Ta đối với đất thì biết đất”
Đoạn cuối, Đức Phật đổi chủ ngữ sang “Ta” (我). Nội dung giống hệt hạng thứ hai — Như Lai không có một tri kiến khác loại, mà là người đã hoàn tất cách thấy ấy. Đây tương ứng tầng 7–8 của MN1, nhưng bản Hán không nêu lý do riêng (như “dục hỷ là căn bản của khổ” trong bản Pāḷi).
「我於地則知地,地非是神,地非神所,神非地所,我不計地即是神已,我便知地。
“Ta đối với đất thì biết đất, ‘Đất không phải là thần ngã, đất không phải là sở hữu của thần ngã, thần ngã không phải là sở hữu của đất’. Ta đã không cho đất tức là thần ngã, vậy Ta đã biết rõ đất.
MA 106 — T26 0596c03-c05Lặp qua nước, lửa, gió, thần, trời, Sanh chủ, Phạm thiên, Vô phiền thiên, Vô nhiệt thiên, đến Tịnh thiên:
如是水、火、風、神、天、生主、梵天、無煩、無熱。我於淨則知淨,淨非是神,淨非神所,神非淨所。我不計淨即是神已,我便知淨,
Ta đối với Tịnh thiên thì biết Tịnh thiên, ‘Tịnh thiên không phải là thần ngã, Tịnh thiên không phải là sở hữu của thần ngã, thần ngã không phải là sở hữu của Tịnh thiên’. Ta đã không cho Tịnh thiên tức là thần ngã, vậy Ta biết rõ Tịnh thiên.
MA 106 — T26 0596c05-c08Rồi bốn xứ vô sắc, nhất thể, dị biệt, đa thù, thấy, nghe, nhận thức, liễu tri, quán sát, tác ý, ý tư duy, đời này – đời kia, và cái Tất cả:
無量空處、無量識處、無所有處、非有想非無想處、一、別、若干、見、聞、識、知,得觀意所念、意所思。從此世至彼世,從彼世至此世,我於一切則知一切,一切非是神,一切非神所,神非一切所,我不計一切即是神已,我便知一切。」
Ta đối với cái Tất cả thì biết là Tất cả, ‘Cái Tất cả không phải là ngã, cái Tất cả không phải là sở hữu của ngã, ngã không phải là sở hữu của cái Tất cả’. Ta đã không cho cái Tất cả là ngã, vậy là Ta đã biết rõ cái Tất cả”.
MA 106 — T26 0596c08-c13Kết kinh: các Tỳ-kheo hoan hỷ
佛說如是。彼諸比丘聞佛所說,歡喜奉行。
Phật thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
MA 106 — T26 0596c13-c14 · 想經第十竟(五百二十六字)Khác hẳn bản Pāḷi MN1 — nơi câu kết ghi các Tỳ-kheo không hoan hỷ (na te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandun) — bản Hán kết bằng công thức thường lệ “hoan hỷ phụng hành”.
Giải thích (biên soạn)
Tên kinh là “Tưởng” (想, saññā) — và chữ then chốt nằm ngay ở câu đầu: “đối với đất có tưởng về đất” (於地有地想) đối lập với “đối với đất thì biết đất” (於地則知地). Tưởng ở đây không chỉ là ghi nhận “đây là đất”, mà là ghi nhận kèm theo một cái ngã cài vào: đất là ta, đất thuộc ta, ta thuộc đất. Ba vế này là cách bản Hán diễn đạt cái mà bản Pāḷi gọi là maññanā — sự “nghĩ tưởng” chiếm hữu.
Nghịch lý của kinh: người tưởng mình nắm chắc đất (đồng nhất nó với ngã) lại là người không biết đất; người buông ba vế ngã ra lại biết rõ đất. Biết đúng một pháp đòi hỏi không đặt thần ngã vào nó — đó là nội dung thực hành của vô ngã.
Danh sách đối tượng đi từ tứ đại, qua các thần linh mà Bà-la-môn giáo coi là nguồn gốc vũ trụ (Sanh chủ Prajāpati, Phạm thiên Brahmā), các cõi trời và cõi vô sắc mà người tu thiền có thể đạt, các phạm trù triết học (nhất, dị, đa), mọi kinh nghiệm giác quan, cả vòng tái sinh, đến “cái Tất cả”. Không có chỗ nào — dù cao quý hay vi tế — được miễn khỏi phép quán này.
Chủ thể là “sa-môn, bà-la-môn” chứ không phải “phàm phu ít nghe”: bản Hán nhấn rằng ngay cả người tu hành, người đắc thiền cũng có thể rơi vào hạng thứ nhất nếu đem chứng nghiệm của mình đồng nhất với ngã.
Bài này là ghi chép học tập của Cư sĩ Minh Vân. Phần trích nguyên văn Hán (Taishō) và Việt (Tuệ Sỹ) được dẫn nguồn SuttaCentral; phần “Giải thích” là của người học, có thể còn sai sót.
Đối chiếu các tạng
So với bản Pāḷi MN1 — Kinh Pháp Môn Căn Bản (tham khảo; xem bài MN1 để đọc nguyên văn Pāḷi):
| Điểm | MA106 想經 (Hán) | MN1 Mūlapariyāya (Pāḷi) |
|---|---|---|
| Nơi thuyết | Xá-vệ, rừng Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc | Ukkaṭṭhā, rừng Subhaga, gốc cây Sa-la vương |
| Số hạng người | 3: người tưởng (có ngã) · người biết · Như Lai | 8 tầng: phàm phu · hữu học · A-la-hán ×4 · Như Lai ×2 |
| Chủ thể hạng đầu | Sa-môn, bà-la-môn (沙門、梵志) | Phàm phu ít nghe (assutavā puthujjano) |
| Cơ chế sai lầm | Ba vế: X là thần ngã · X là sở hữu của thần ngã · thần ngã là sở hữu của X | Bốn cách nghĩ tưởng (maññati) + dục hỷ (abhinandati) |
| Lý do được nêu | Không chấp X là thần ngã nên biết rõ X | Chưa / cần / đã liễu tri; tham–sân–si đã đoạn; “dục hỷ là căn bản của khổ” |
| Đối tượng cuối | Cái Tất cả (一切) | Niết-bàn (nibbāna) — sau “tất cả” |
| Đối tượng riêng | Vô phiền, Vô nhiệt, Tịnh thiên; “đa thù”; ý sở niệm/sở tư; đời này–đời kia | Quang âm, Biến tịnh, Quảng quả, Abhibhū; sở kiến/văn/tư niệm/tri |
| Câu kết | Các Tỳ-kheo hoan hỷ phụng hành | Các Tỳ-kheo không hoan hỷ (na … abhinandun) |
Hai bản gặp nhau ở trục chính: tưởng / nghĩ tưởng gắn ngã vào đối tượng là gốc của không-biết, và danh sách đối tượng bao trùm từ vật chất đến những phạm trù cao nhất. Việc bản Hán không có Niết-bàn và kết “hoan hỷ” là những dị biệt đáng chú ý giữa truyền thống Sarvāstivāda (Trung A-hàm) và Theravāda.
- Hán tạng: bài này — Trung A-hàm 106 想經 (Taishō T26 no.106), dịch năm 397–398 bởi Cù-đàm Tăng-già-đề-bà (Saṅghadeva).
- Pāḷi: MN1 — Mūlapariyāya Sutta.
- Sanskrit: tựa đề phục nguyên Mūlaparyāya (tham khảo học thuật).
Tra cứu trong bài
- Thuật ngữ: Thần ngã (ātman, 神) · Tưởng (saññā, 想) · Nghĩ tưởng (maññanā) · Vô ngã · Tứ đại · Phàm phu · Hữu học · A-la-hán
- Nhân vật: Đức Phật (Thế Tôn) · Như Lai
- Địa danh: Xá-vệ (Sāvatthī, 舍衛國) · rừng Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc
Nguồn tham khảo
- Hán — Trung A-hàm 106 想經 (Taishō T26 no.106): suttacentral.net/ma106/lzh/taisho
- Việt — Tuệ Sỹ: suttacentral.net/ma106/vi/tue_sy
- Trang kinh & các bản tương đương: suttacentral.net/ma106
- Bản Pāḷi tương đương: MN1 — Kinh Pháp Môn Căn Bản · suttacentral.net/mn1
📖 Nguồn / bản quyền: SuttaCentral — MA 106 想經 (Taishō T26 no.106)