MN57 - Kinh Hạnh Con Chó (Kukkuravatika Sutta)

Lõa thể Seniya ngồi như con chó trước Đức Phật tại Haliddavasana — Kinh Hạnh Con Chó, MN57

Tóm tắt nhanh: Tại Haliddavasana, xứ Koliya, Puṇṇa (hành trì hạnh con bò) và lõa thể Seniya (hành trì hạnh con chó) cùng đến gặp Đức Phật. Puṇṇa hỏi ba lần về sanh thú của Seniya — Phật miễn cưỡng trả lời: hạnh con chó thành tựu thì sanh cộng trú với loài chó, không thành tựu thì sanh địa ngục; còn nếu giữ hạnh với tà kiến “nhờ đây sẽ sanh làm chư Thiên” thì đi đến một trong hai sanh thú: địa ngục hay bàng sanh. Seniya khóc — không phải vì lời Phật, mà vì chính mình đã giữ hạnh ấy lâu ngày — rồi hỏi về Puṇṇa và được trả lời tương tự về hạnh con bò. Đến lượt Puṇṇa khóc, và ông thỉnh Phật thuyết pháp để cả hai từ bỏ hạnh của mình. Phật giảng bốn loại nghiệp: nghiệp đen, nghiệp trắng, nghiệp đen-trắng, và nghiệp không đen không trắng đưa đến đoạn tận nghiệp. Puṇṇa quy y cư sĩ; Seniya xin xuất gia và — không bao lâu sau thọ giới — chứng đắc A-la-hán.

Bối cảnh

Kinh xảy ra tại Haliddavasana, thị trấn của dân chúng Koliya. Hai nhân vật chính là Puṇṇa Koliyaputta (govatika — người hành trì hạnh con bò) và lõa thể Seniya (kukkuravatika — người hành trì hạnh con chó). Hạnh con bò (govata) và hạnh con chó (kukkuravata) là lối khổ hạnh bắt chước loài vật: trong kinh, Puṇṇa gọi Seniya là người “thực hành những hạnh khó hành” (dukkarakārako) — ăn đồ ăn quăng xuống đất — và Seniya ngồi xuống theo dáng con chó. Cả hai đã “chấp nhận và hành trì” hạnh của mình “trong một thời gian dài” (dīgharattaṁ samattaṁ samādinnaṁ).

Mở đầu - MN57 1

Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ bhagavā koliyesu viharati haliddavasanaṁ nāma koliyānaṁ nigamo.

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Koliya Haliddavasana là tên một thị trấn của dân chúng Koliya .

Pāḷi: mn57:1.1–1.2 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn57/vi/minh_chau)

Đặc điểm đáng chú ý khi hai người đến: Puṇṇa đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên, còn Seniya chỉ chào hỏi rồi “ngồi chõ hỏ như con chó” (kukkurova palikujjitvā) — ngay cả dáng ngồi cũng giữ đúng hạnh mình.

Hai khổ hạnh sĩ đến gặp Phật - MN57 2

Atha kho puṇṇo ca koliyaputto govatiko acelo ca seniyo kukkuravatiko yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā puṇṇo koliyaputto govatiko bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Acelo pana seniyo kukkuravatiko bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā kukkurova palikujjitvā ekamantaṁ nisīdi.

Rồi Puñña Koliyaputta, hành trì hạnh con bò, và lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, cùng đi đến Thế Tôn, sau khi đến Puñña Koliyaputta, hành trì hạnh con bò, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Còn lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, nói lời hỏi thăm với Thế Tôn, sau khi nói lên lời hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên, ngồi chõ hỏ như con chó. Sau khi ngồi một bên, Puñña Koliyaputta, hành trì hạnh con bò, bạch Thế Tôn

Pāḷi: mn57:2.1 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn57/vi/minh_chau)

Minh hoạ: Đức Phật ngồi dưới gốc cây tại Haliddavasana, Puṇṇa quỳ chắp tay đảnh lễ, Seniya lõa thể ngồi chõ hỏ như con chó bên cạnh, khung cảnh rừng cây Ấn Độ cổ đại

Khuôn chung của hai hạnh (chó và bò)

Câu trả lời của Phật cho hạnh con chó (kukkuravata) và hạnh con bò (govata) có cùng cấu trúc:

  1. Người thực hành hạnh (vata), giới (sīla), tâm (citta) và uy nghi (ākappa) của loài vật ấy một cách viên mãn, không gián đoạn, thì sau khi thân hoại mạng chung sanh cộng trú với loài chó (hay loài bò).
  2. Nếu người ấy lại có kiến chấp “do giới, hạnh, khổ hạnh hay phạm hạnh này, ta sẽ sanh làm chư Thiên” — đó là tà kiến, và người tà kiến đi đến một trong hai sanh thú: địa ngục hay bàng sanh.
  3. Tóm lại: hạnh ấy thành tựu thì đưa đến cộng trú với loài chó (bò); không thành tựu thì đưa đến địa ngục.

Nghĩa là kết quả tốt nhất của hạnh ấy cũng chỉ là sanh làm loài vật mình bắt chước.

Khuôn trả lời (trích hạnh con chó làm mẫu — sau lần hỏi thứ ba, Phật nói với Puṇṇa):

Khuôn chung — Phật trả lời về hạnh con chó - MN57 2–3

“Addhā kho te ahaṁ, puṇṇa, na labhāmi. Alaṁ, puṇṇa, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchīti; api ca tyāhaṁ byākarissāmi. Idha, puṇṇa, ekacco kukkuravataṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, kukkurasīlaṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, kukkuracittaṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, kukkurākappaṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ. So kukkuravataṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, kukkurasīlaṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, kukkuracittaṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, kukkurākappaṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā kukkurānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Sace kho panassa evaṁdiṭṭhi hoti: ‘imināhaṁ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā’ti, sāssa hoti micchādiṭṭhi. Micchādiṭṭhissa kho ahaṁ, puṇṇa, dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ vadāmi—nirayaṁ vā tiracchānayoniṁ vā. Iti kho, puṇṇa, sampajjamānaṁ kukkuravataṁ kukkurānaṁ sahabyataṁ upaneti, vipajjamānaṁ nirayan”ti.

—Này Puñña , thật sự Ta đã không chấp nhận (câu hỏi) của Ông và đã nói: “Thôi vừa rồi Puñña , hãy dừng lại đây, chớ có hỏi Ta nữa”. Tuy vậy, Ta sẽ trả lời cho Ông. Ở đây, này Puñña , người nào hành trì hạnh con chó một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì giới con chó một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì tâm con chó một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì uy nghi con chó một cách hoàn toàn viên mãn, sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh thân hữu cùng với các loài chó. Nếu Ông ấy có tà kiến như sau: “Do giới này, hạnh này, khổ hạnh này, hay phạm hạnh này, ta sẽ sanh thành chư Thiên này, hay chư Thiên khác”, thời này Puñña , đối với kẻ có tà kiến, Ta nói có một trong hai sanh thú như sau: địa ngục hay bàng sanh. Như vậy, này Puñña , nếu hạnh con chó được thành tựu, thời được sanh trong loài chó, nếu không được thành tựu, thời được sanh trong địa ngục.

Pāḷi: mn57:2.12–3.5 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn57/vi/minh_chau)

1. Hạnh con chó (Seniya) — Puṇṇa hỏi ba lần

Puṇṇa hỏi về sanh thú của Seniya. Phật từ chối (“Thôi, hãy dừng lại đây, chớ có hỏi Ta nữa”); Puṇṇa hỏi lần hai, lần ba (dutiyampi… tatiyampi) với cùng câu hỏi, và đến lần thứ ba Phật mới trả lời theo khuôn ở trên.

Câu hỏi của Puṇṇa - MN57 2

Ekamantaṁ nisinno kho puṇṇo koliyaputto govatiko bhagavantaṁ etadavoca: “ayaṁ, bhante, acelo seniyo kukkuravatiko dukkarakārako chamānikkhittaṁ bhojanaṁ bhuñjati. Tassa taṁ kukkuravataṁ dīgharattaṁ samattaṁ samādinnaṁ. Tassa kā gati, ko abhisamparāyo”ti? “Alaṁ, puṇṇa, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchī”ti.

—Bạch Thế Tôn, lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, thực hành những hạnh khó hành, ăn đồ ăn quăng xuống đất, chấp nhận và hành trì hạnh con chó trong một thời gian dài, vậy sanh thú ông ấy thế nào, vận mạng ông ấy thế nào?

—Thôi vừa rồi Puñña , hãy dừng lại đây, chớ có hỏi Ta nữa.

Pāḷi: mn57:2.2–2.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn57/vi/minh_chau)

Nghe kết quả của hạnh con chó, Seniya khóc. Phật nhắc Puṇṇa lời Ngài đã nói: “Thôi, hãy dừng lại đây, chớ có hỏi Ta nữa”.

Seniya khóc - MN57 4

Evaṁ vutte, acelo seniyo kukkuravatiko parodi, assūni pavattesi. Atha kho bhagavā puṇṇaṁ koliyaputtaṁ govatikaṁ etadavoca: “etaṁ kho te ahaṁ, puṇṇa, nālatthaṁ. Alaṁ, puṇṇa, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchī”ti.

Khi được nói vậy, lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, khóc than chảy nước mắt. Rồi Thế Tôn nói với Puñña Koliyaputta, hành trì hạnh con bò

—Này Puñña , Ta đã không chấp nhận (câu hỏi) của ông và đã nói: “Thôi vừa rồi Puñña , hãy dừng lại đây, chớ có hỏi Ta nữa”.

Pāḷi: mn57:4.1–4.4 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn57/vi/minh_chau)

Seniya thưa rằng mình khóc không phải vì lời Thế Tôn nói về mình, mà vì chính mình đã chấp nhận và hành trì hạnh con chó này trong một thời gian dài. Rồi ông hỏi Phật về sanh thú của Puṇṇa, người cũng giữ hạnh con bò lâu ngày.

Seniya hỏi về Puṇṇa - MN57 4 (tiếp)

“Nāhaṁ, bhante, etaṁ rodāmi yaṁ maṁ bhagavā evamāha; api ca me idaṁ, bhante, kukkuravataṁ dīgharattaṁ samattaṁ samādinnaṁ. Ayaṁ, bhante, puṇṇo koliyaputto govatiko. Tassa taṁ govataṁ dīgharattaṁ samattaṁ samādinnaṁ. Tassa kā gati, ko abhisamparāyo”ti?

—Bạch Thế Tôn, con khóc như vậy không phải vì lời Thế Tôn nói về con. Nhưng vì bạch Thế Tôn, con đã chấp nhận và hành trì hạnh con chó này trong một thời gian dài. Bạch Thế Tôn, Puñña Koliyaputta, hành trì hạnh con bò này, đã chấp nhận và hành trì hạnh con bò này, trong một thời gian dài, vậy sanh thú của ông ấy thế nào, vận mạng của ông ấy thế nào?

Pāḷi: mn57:4.5–4.9 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn57/vi/minh_chau)

2. Hạnh con bò (Puṇṇa) — Seniya hỏi ba lần

Seniya hỏi ba lần về Puṇṇa; Phật từ chối (Alaṁ, seniya, tiṭṭhatetaṁ), đến lần thứ ba mới trả lời, với các thành tố tương ứng (govata/gosīla/gocitta/gavākappa):

Kết quả của hạnh con bò - MN57 4–5

“Addhā kho te ahaṁ, seniya, na labhāmi. Alaṁ, seniya, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchīti; api ca tyāhaṁ byākarissāmi. Idha, seniya, ekacco govataṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, gosīlaṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, gocittaṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, gavākappaṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ. So govataṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, gosīlaṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, gocittaṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, gavākappaṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā gunnaṁ sahabyataṁ upapajjati. Sace kho panassa evaṁdiṭṭhi hoti: ‘imināhaṁ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā’ti, sāssa hoti micchādiṭṭhi. Micchādiṭṭhissa kho ahaṁ, seniya, dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ vadāmi—nirayaṁ vā tiracchānayoniṁ vā. Iti kho, seniya, sampajjamānaṁ govataṁ gunnaṁ sahabyataṁ upaneti, vipajjamānaṁ nirayan”ti.

—Này Seniya, thật sự Ta đã không chấp nhận (câu hỏi) của Ông và đã nói: “Thôi vừa rồi Seniya, hãy dừng lại đây, chớ có hỏi Ta nữa”. Tuy vậy ta sẽ trả lời cho Ông. Ở đây, này Seniya, người nào hạnh trì hạnh con bò một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì giới con bò một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì tâm con bò một cách hoàn toàn viên mãn, hành trì uy nghi con bò một cách hoàn toàn viên mãn, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh thân hữu cùng với các loài bò. Nếu Ông ấy có tà kiến như sau: “Do giới này, hạnh này, khổ hạnh này, hay phạm hạnh này, ta sẽ sanh thành chư Thiên này hay chư Thiên khác”, thời này Seniya, đối với kẻ có tà kiến, Ta nói có một trong hai sanh thú như sau: địa ngục hay bàng sanh. Như vậy, này Seniya, nếu hạnh con bò được thành tựu, thời được sanh trong loài bò, nếu không được thành tựu, thời được sanh trong địa ngục.

Pāḷi: mn57:4.16–5.5 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn57/vi/minh_chau)

Nghe kết quả của hạnh con bò, Puṇṇa khóc. Phật nhắc Seniya lời Ngài đã can ngăn.

Puṇṇa khóc - MN57 6

Evaṁ vutte, puṇṇo koliyaputto govatiko parodi, assūni pavattesi. Atha kho bhagavā acelaṁ seniyaṁ kukkuravatikaṁ etadavoca: “etaṁ kho te ahaṁ, seniya, nālatthaṁ. Alaṁ, seniya, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchī”ti.

Khi được nói vậy, Puñña Koliyaputta, hành trì hạnh con bò, khóc than, chảy nước mắt. Rồi Thế Tôn nói với lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó

—Này Seniya, Ta đã không chấp nhận (câu hỏi) của Ông và đã nói: “Thồi vừa rồi Seniya, hãy dừng lại đây, chớ có hỏi Ta nữa”.

Pāḷi: mn57:6.1–6.4 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn57/vi/minh_chau)

Bảng tổng hợp hai hạnh

ĐiểmHạnh con chó (Seniya)Hạnh con bò (Puṇṇa)
Ai hỏiPuṇṇa hỏi ba lầnSeniya hỏi ba lần
Pāḷi (4 thành tố)kukkuravata · kukkurasīla · kukkuracitta · kukkurākappagovata · gosīla · gocitta · gavākappa
Thành tựusanh cộng trú với loài chósanh cộng trú với loài bò
Tà kiến (mong sanh thiên)địa ngục hay bàng sanhđịa ngục hay bàng sanh
Không thành tựuđịa ngụcđịa ngục
Phản ứng khi ngheSeniya khóc — vì mình đã giữ hạnh con chó lâu ngàyPuṇṇa khóc — vì mình đã giữ hạnh con bò lâu ngày
Kết cục trong kinhquy y Tam Bảo, xuất gia, A-la-hánquy y, làm cư sĩ trọn đời

Thỉnh cầu dạy pháp

Cũng như Seniya, Puṇṇa thưa mình khóc không phải vì lời Phật, mà vì chính mình đã giữ hạnh con bò lâu ngày. Rồi ông bày tỏ tín tâm: Thế Tôn có thể thuyết pháp để ông từ bỏ hạnh con bò và Seniya từ bỏ hạnh con chó. Phật bảo hãy lắng nghe.

Thỉnh cầu dạy pháp - MN57 6 (tiếp)

“Nāhaṁ, bhante, etaṁ rodāmi yaṁ maṁ bhagavā evamāha; api ca me idaṁ, bhante, govataṁ dīgharattaṁ samattaṁ samādinnaṁ. Evaṁ pasanno ahaṁ, bhante, bhagavati; pahoti bhagavā tathā dhammaṁ desetuṁ yathā ahaṁ cevimaṁ govataṁ pajaheyyaṁ, ayañceva acelo seniyo kukkuravatiko taṁ kukkuravataṁ pajaheyyā”ti. “Tena hi, puṇṇa, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi, bhāsissāmī”ti. “Evaṁ, bhante”ti kho puṇṇo koliyaputto govatiko bhagavato paccassosi. Bhagavā etadavoca:

—Bạch Thế Tôn, con khóc như vậy không phải vì lời Thế Tôn nói về con. Nhưng vì, bạch Thế Tôn, con đã chấp nhận và hành trì hạnh con bò này trong một thời gian dài. Bạch Thế Tôn, con có lòng tin tưởng đối với Thế Tôn: Thế Tôn có thể thuyết pháp cho con để con có thể từ bỏ hạnh con bò này và để lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, có thể bỏ hạnh con chó này.

—Này Puñña , hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.

—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Puñña Koliyaputta vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau

Pāḷi: mn57:6.5–6.11 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn57/vi/minh_chau)

Khuôn chung của bốn loại nghiệp

Đáp lời thỉnh cầu, Đức Phật nêu bốn loại nghiệp do chính Ngài “tự chứng tri, chứng ngộ và tuyên thuyết” (sayaṁ abhiññā sacchikatvā paveditāni):

Bốn loại nghiệp - MN57 7

“Cattārimāni, puṇṇa, kammāni mayā sayaṁ abhiññā sacchikatvā paveditāni. Katamāni cattāri? Atthi, puṇṇa, kammaṁ kaṇhaṁ kaṇhavipākaṁ; atthi, puṇṇa, kammaṁ sukkaṁ sukkavipākaṁ; atthi, puṇṇa, kammaṁ kaṇhasukkaṁ kaṇhasukkavipākaṁ; atthi, puṇṇa, kammaṁ akaṇhaṁ asukkaṁ akaṇhaasukkavipākaṁ, kammakkhayāya saṁvattati.

—Này Puñña có bốn loại nghiệp này, Ta đã tự chứng tri, chứng ngộ và tuyên thuyết. Thế nào là bốn? Này Puñña , có nghiệp đen đưa đến quả báo đen, này Puñña , có nghiệp trắng đưa đến quả báo trắng, này Puñña , có nghiệp đen trắng đưa đến quả báo đen trắng, này Puñña , có nghiệp không đen trắng đưa đến quả báo không đen trắng, nghiệp đưa đến sự đoạn tận các nghiệp.

Pāḷi: mn57:7.1–7.6 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn57/vi/minh_chau)

Khuôn chung của ba nghiệp đầu (trích nghiệp đen làm mẫu):

  1. Tạo thân hành, khẩu hành, ý hành (có tổn hại / không tổn hại / cả hai).
  2. Sanh vào thế giới tương ứng.
  3. Các cảm xúc (phassa) tương ứng chạm đến.
  4. Cảm thọ tương ứng (thuần khổ / thuần lạc / xen lẫn).
  5. “Sự sanh khởi của một chúng sanh tùy thuộc ở chúng sanh” (bhūtā bhūtassa upapatti): làm gì thì sanh theo đó — nên “chúng sanh là thừa tự nghiệp” (kammadāyādā sattā).
Khuôn chung — nghiệp đen làm mẫu - MN57 8

Katamañca, puṇṇa, kammaṁ kaṇhaṁ kaṇhavipākaṁ? Idha, puṇṇa, ekacco sabyābajjhaṁ kāyasaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, sabyābajjhaṁ vacīsaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, sabyābajjhaṁ manosaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti. So sabyābajjhaṁ kāyasaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, sabyābajjhaṁ vacīsaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, sabyābajjhaṁ manosaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, sabyābajjhaṁ lokaṁ upapajjati. Tamenaṁ sabyābajjhaṁ lokaṁ upapannaṁ samānaṁ sabyābajjhā phassā phusanti. So sabyābajjhehi phassehi phuṭṭho samāno sabyābajjhaṁ vedanaṁ vedeti ekantadukkhaṁ, seyyathāpi sattā nerayikā. Iti kho, puṇṇa, bhūtā bhūtassa upapatti hoti; yaṁ karoti tena upapajjati, upapannamenaṁ phassā phusanti. Evampāhaṁ, puṇṇa, ‘kammadāyādā sattā’ti vadāmi. Idaṁ vuccati, puṇṇa, kammaṁ kaṇhaṁ kaṇhavipākaṁ.

Và này Puñña , thế nào là nghiệp đen đưa đến quả báo đen? Ở đây, này Puñña có người tạo ra thân hành có tổn hại, tạo ra khẩu hành có tổn hại, tạo ra ý hành có tổn hại. Sau khi tạo ra thân hành có tổn hại, khẩu hành có tổn hại, ý hành có tổn hại, vị này được sanh vào thế giới có tổn hại. Vì phải sanh vào thế giới có tổn hại, vị này cảm xúc những cảm xúc có tổn hại. Do cảm xúc những cảm xúc có tổn hại, vị này cảm thọ những cảm thọ có tổn hại, thuần nhất khổ thọ, như các chúng sanh trong địa ngục. Như vậy, này Puñña , là sự sanh khởi của một chúng sanh tùy thuộc ở chúng sanh, chúng sanh ấy sanh khởi tùy thuộc hành động của mình, và khi chúng sanh ấy đã sanh, thời các cảm xúc kích thích mình. Do vậy, này Puñña , Ta nói: “Các chúng sanh là thừa tự hạnh nghiệp (của mình)”. Như vậy, này Puñña , được gọi là nghiệp đen đưa đến quả báo đen.

Pāḷi: mn57:8.1–8.10 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn57/vi/minh_chau)

1. Nghiệp đen — quả báo đen

Thân, khẩu, ý hành có tổn hại (sabyābajjha) → sanh vào thế giới có tổn hại → cảm thọ thuần khổ, như chúng sanh địa ngục. (Khung trích ở trên.)

2. Nghiệp trắng — quả báo trắng

Thân, khẩu, ý hành không có tổn hại (abyābajjha) → sanh vào thế giới không có tổn hại → cảm thọ thuần lạc, như chư Thiên Biến Tịnh (Subhakiṇhā).

(Lưu ý bản dịch: HT. Thích Minh Châu dịch thành “không không có tổn hại” — cụm “không không” xuất hiện nhiều lần, đây là lỗi lặp từ; Pāḷi là abyābajjhaṁ một lần, nghĩa “không tổn hại / không não hại”. Khối trích giữ nguyên bản dịch.)

Nghiệp trắng - MN57 9

Katamañca, puṇṇa, kammaṁ sukkaṁ sukkavipākaṁ? Idha, puṇṇa, ekacco abyābajjhaṁ kāyasaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, abyābajjhaṁ vacīsaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, abyābajjhaṁ manosaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti. So abyābajjhaṁ kāyasaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, abyābajjhaṁ vacīsaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, abyābajjhaṁ manosaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā abyābajjhaṁ lokaṁ upapajjati. Tamenaṁ abyābajjhaṁ lokaṁ upapannaṁ samānaṁ abyābajjhā phassā phusanti. So abyābajjhehi phassehi phuṭṭho samāno abyābajjhaṁ vedanaṁ vedeti ekantasukhaṁ, seyyathāpi devā subhakiṇhā. Iti kho, puṇṇa, bhūtā bhūtassa upapatti hoti; yaṁ karoti tena upapajjati, upapannamenaṁ phassā phusanti. Evampāhaṁ, puṇṇa, ‘kammadāyādā sattā’ti vadāmi. Idaṁ vuccati, puṇṇa, kammaṁ sukkaṁ sukkavipākaṁ.

Và này Puñña , thế nào là nghiệp trắng đưa đến quả báo trắng? Ở đây, này Puñña , có người làm thân hành không không có tổn hại, làm khẩu hành không có tổn hại, làm ý hành không không có tổn hại. Sau khi làm thân hành không không có tổn hại, khẩu hành không không có tổn hại, ý hành không không có tổn hại, vị này được sanh vào thế giới không không có tổn hại. Vì phải sanh vào thế giới không không có tổn hại, vị này cảm xúc những cảm xúc không không có tổn hại. Do cảm xúc những cảm xúc không không có tổn hại, vị này cảm thọ những cảm thọ không không có tổn hại, thuần nhất lạc thọ, như chư Thiên Subhakinha (Biến Tịnh thiên). Như vậy này Puñña là sự sanh khởi của một chúng sanh tùy thuộc ở chúng sanh, chúng sanh ấy sanh khởi tùy thuộc hành động của mình; và khi chúng sanh ấy đã sanh, thời các cảm xúc kích thích chúng sanh ấy. Do vậy, này Puñña , Ta nói: “Các chúng sanh là thừa tự hạnh nghiệp (của mình)”. Như vậy, này Puñña , được gọi là nghiệp trắng đưa đến quả báo trắng.

Pāḷi: mn57:9.1–9.10 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn57/vi/minh_chau)

3. Nghiệp đen-trắng — quả báo đen-trắng

Thân, khẩu, ý hành cả có lẫn không có tổn hại → sanh vào thế giới cả hai → cảm thọ lạc khổ xen lẫn, như một số loài người, một số chư Thiên và một số chúng sanh trong đọa xứ.

Nghiệp đen-trắng - MN57 10

Katamañca, puṇṇa, kammaṁ kaṇhasukkaṁ kaṇhasukkavipākaṁ? Idha, puṇṇa, ekacco sabyābajjhampi abyābajjhampi kāyasaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, sabyābajjhampi abyābajjhampi vacīsaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, sabyābajjhampi abyābajjhampi manosaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti. So sabyābajjhampi abyābajjhampi kāyasaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, sabyābajjhampi abyābajjhampi vacīsaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, sabyābajjhampi abyābajjhampi manosaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā sabyābajjhampi abyābajjhampi lokaṁ upapajjati. Tamenaṁ sabyābajjhampi abyābajjhampi lokaṁ upapannaṁ samānaṁ sabyābajjhāpi abyābajjhāpi phassā phusanti. So sabyābajjhehipi abyābajjhehipi phassehi phuṭṭho samāno sabyābajjhampi abyābajjhampi vedanaṁ vedeti vokiṇṇasukhadukkhaṁ, seyyathāpi manussā ekacce ca devā ekacce ca vinipātikā. Iti kho, puṇṇa, bhūtā bhūtassa upapatti hoti; yaṁ karoti tena upapajjati. Upapannamenaṁ phassā phusanti. Evampāhaṁ, puṇṇa, ‘kammadāyādā sattā’ti vadāmi. Idaṁ vuccati, puṇṇa, kammaṁ kaṇhasukkaṁ kaṇhasukkavipākaṁ.

Và này Puñña , thế nào là nghiệp đen trắng đưa đến quả báo đen trắng? Ở đây, này Puñña , có người làm các thân hành có tổn hại và không tổn hại, các khẩu hành có tổn hại và không tổn hại, các ý hành có tổn hại và không tổn hại. Sau khi làm các thân hành có tổn hại và không tổn hại, khẩu hành có tổn hại và không tổn hại, ý hành có tổn hại và không tổn hại, vị này được sanh vào thế giới có tổn hại và không tổn hại. Vì phải sanh vào thế giới có tổn hại và không tổn hại, vị này cảm xúc những cảm xúc có tổn hại và không tổn hại. Do cảm xúc những cảm xúc có tổn hại và không tổn hại, vị này cảm thọ những cảm thọ có tổn hại và không tổn hại, có lạc thọ khổ thọ xen lẫn, như một số loài Người, một số chư Thiên và một số chúng sanh trong đọa xứ. Như vậy, này Puñña là sự sanh khởi của một chúng sanh tùy thuộc ở chúng sanh, chúng sanh ấy sanh khởi tùy thuộc hành động của mình; và khi chúng sanh ấy đã sanh, thời các cảm xúc kích thích chúng sanh ấy. Do vậy, này Puñña , Ta nói: “Các chúng sanh là thừa tự hạnh nghiệp (của mình)”. Như vậy này Puñña , được gọi là nghiệp đen trắng đưa đến quả báo đen trắng.

Pāḷi: mn57:10.1–10.10 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn57/vi/minh_chau)

4. Nghiệp không đen không trắng — đoạn tận nghiệp

Loại thứ tư được định nghĩa khác hẳn: kinh không mô tả nó bằng thân-khẩu-ý hành có hay không tổn hại, cũng không nêu cõi tái sanh hay cảm thọ, mà nói đó là ý chí (cetanā) nhằm đoạn trừ nghiệp đen, nghiệp trắng và nghiệp đen-trắng — và nghiệp này đưa đến sự đoạn tận các nghiệp.

Nghiệp không đen không trắng - MN57 11

Katamañca, puṇṇa, kammaṁ akaṇhaṁ asukkaṁ akaṇhaasukkavipākaṁ, kammakkhayāya saṁvattati? Tatra, puṇṇa, yamidaṁ kammaṁ kaṇhaṁ kaṇhavipākaṁ tassa pahānāya yā cetanā, yamidaṁ kammaṁ sukkaṁ sukkavipākaṁ tassa pahānāya yā cetanā, yamidaṁ kammaṁ kaṇhasukkaṁ kaṇhasukkavipākaṁ tassa pahānāya yā cetanā— idaṁ vuccati, puṇṇa, kammaṁ akaṇhaṁ asukkaṁ akaṇhaasukkavipākaṁ, kammakkhayāya saṁvattatīti. Imāni kho, puṇṇa, cattāri kammāni mayā sayaṁ abhiññā sacchikatvā paveditānī”ti.

Và này Puñña , thế nào là nghiệp không đen trắng, đưa đến quả báo không đen trắng, nghiệp đưa đến sự đoạn tận các nghiệp? Ở đây, này Puñña chỗ nào có ý chí (Cetana: Tư tâm sở) đoạn trừ nghiệp đen đưa đến quả báo đen, chỗ nào có ý chí đoạn trừ nghiệp trắng đưa đến quả báo trắng, chỗ nào có ý chí đoạn trừ nghiệp đen trắng đưa đến quả báo đen trắng. Ở đây, này Puñña , chỗ nào có ý chí như vậy, này Puñña , được gọi là nghiệp không đen trắng đưa đến quả báo không đen trắng, nghiệp đưa đến sự đoạn tận các nghiệp. Này Puñña , bốn loại nghiệp này, Ta đã tự chứng tri, chứng ngộ và tuyên thuyết.

Pāḷi: mn57:11.1–11.4 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn57/vi/minh_chau)

Bảng tổng hợp bốn loại nghiệp

#Loại nghiệpPāḷiHành tạoCõi tái sanhCảm thọVí dụ
1Đen → quả đenkaṇha kaṇhavipākaThân/khẩu/ý có tổn hạiThế giới có tổn hạiThuần khổChúng sanh địa ngục
2Trắng → quả trắngsukka sukkavipākaThân/khẩu/ý không tổn hạiThế giới không tổn hạiThuần lạcChư Thiên Biến Tịnh (Subhakiṇhā)
3Đen-trắng → quả đen-trắngkaṇhasukka kaṇhasukkavipākaThân/khẩu/ý cả haiThế giới cả haiLạc khổ xen lẫnMột số loài người, một số chư Thiên, một số chúng sanh đọa xứ
4Không đen không trắng → quả không đen không trắngakaṇha asukka akaṇhaasukkavipākaÝ chí (cetanā) đoạn trừ ba loại trên(kinh không nêu)(kinh không nêu)Đưa đến đoạn tận các nghiệp (kammakkhayāya)

Puṇṇa tán thán và quy y

Puṇṇa tán thán - MN57 12

Evaṁ vutte, puṇṇo koliyaputto govatiko bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante. Seyyathāpi, bhante …pe… upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.

Khi được nói vậy, Puñña Koliyaputta, hành trì hạnh con bò bạch Thế Tôn

—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người đi lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm cư sĩ, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

Pāḷi: mn57:12.1–12.4 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn57/vi/minh_chau)

Bản Pāḷi mn57:12.3 ghi “Seyyathāpi, bhante …pe…” (pe = viết tắt, không triển khai ảnh dụ trong Pāḷi). Bản Việt SC27 khai triển đủ bốn ảnh dụ: dựng đứng lại, phơi bày, chỉ đường, đem đèn sáng.

Seniya xin xuất gia

Seniya tán thán và xin xuất gia - MN57 13

Acelo pana seniyo kukkuravatiko bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante. Seyyathāpi, bhante …pe… pakāsito. Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Labheyyāhaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ, labheyyaṁ upasampadan”ti.

Còn lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, bạch Thế Tôn

—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người đi lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn, mong cho con thọ đại giới.

Pāḷi: mn57:13.1–13.5 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn57/vi/minh_chau)

Thời gian biệt trú — lòng tin mạnh mẽ

Phật nói: người trước kia là ngoại đạo muốn xuất gia, thọ đại giới trong Pháp và Luật này phải biệt trú bốn tháng; sau bốn tháng, nếu chư Tỳ-kheo hài lòng mới cho xuất gia, thọ giới. Seniya thưa: nếu vậy, con xin biệt trú bốn năm — gấp mười hai lần thời hạn ấy.

Quy định biệt trú và Seniya tự nguyện bốn năm - MN57 14

“Yo kho, seniya, aññatitthiyapubbo imasmiṁ dhammavinaye ākaṅkhati pabbajjaṁ, ākaṅkhati upasampadaṁ so cattāro māse parivasati. Catunnaṁ māsānaṁ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājenti, upasampādenti bhikkhubhāvāya. Api ca mettha puggalavemattatā viditā”ti. “Sace, bhante, aññatitthiyapubbā imasmiṁ dhammavinaye ākaṅkhantā pabbajjaṁ ākaṅkhantā upasampadaṁ te cattāro māse parivasanti catunnaṁ māsānaṁ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājenti upasampādenti bhikkhubhāvāya, ahaṁ cattāri vassāni parivasissāmi catunnaṁ vassānaṁ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājentu, upasampādentu bhikkhubhāvāyā”ti.

—Này Seniya, ai trước kia là ngoại đạo nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong Pháp và Luật này phải sống bốn tháng biệt trú. Sau khi sống bốn tháng biệt trú, chúng Tăng nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo. Nhưng Ta nhận thấy ở đây là tánh con người sai biệt nhau.

—Bạch Thế Tôn, nếu những người xưa kia là ngoại đạo nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong pháp và luật này, phải sống bốn tháng biệt trú, sau khi sống bốn tháng biệt trú, chúng Tăng nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới, để thành vị Tỷ-kheo, thời con sẽ xin sống biệt trú bốn năm. Sau khi sống biệt trú bốn năm, nếu chư Tỷ-kheo đồng ý, mong chư Tỷ-kheo hãy xuất gia cho con, thọ đại giới cho con để thành vị Tỷ-kheo.

Pāḷi: mn57:14.1–14.3 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn57/vi/minh_chau)

Phật còn nói thêm: “Ta nhận thấy ở đây là tánh con người sai biệt nhau” (api ca mettha puggalavemattatā viditā) — kinh không giải thích thêm câu này (Chú giải chưa đối chiếu). Điều kinh kể ngay sau đó là Seniya được xuất gia, được thọ đại giới với Thế Tôn (mn57:15.1); kinh không kể ông có trải qua bốn năm biệt trú hay không.

Kết kinh

Kết kinh — Seniya chứng A-la-hán - MN57 15

Alattha kho acelo seniyo kukkuravatiko bhagavato santike pabbajjaṁ, alattha upasampadaṁ. Acirūpasampanno kho panāyasmā seniyo eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, Tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi. “Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti abbhaññāsi. Aññataro kho panāyasmā seniyo arahataṁ ahosīti. Kukkuravatikasuttaṁ niṭṭhitaṁ sattamaṁ.

Và lõa thể Seniya, hành trì hạnh con chó, được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới. Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Seniya sống một mình an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Và không bao lâu vị này chứng được mục đích tối cao mà con cháu các lương gia đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Ðó là vô thượng phạm hạnh ngay trong hiện tại, tự mình chứng tri, chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, sau đời này sẽ không có đời sống khác nữa”. Và Tôn giả Seniya trở thành một vị A-la-hán nữa.

Pāḷi: mn57:15.1–15.5 · Việt: HT. Thích Minh Châu (mn57/vi/minh_chau)

Giải thích

Kinh MN57 có cấu trúc đối xứng: Puṇṇa hỏi về sanh thú của Seniya, Seniya hỏi về sanh thú của Puṇṇa; cả hai lần Phật đều từ chối rồi mới trả lời, và câu trả lời cho hai hạnh giống hệt nhau. Mỗi người nghe kết quả của hạnh mình thì khóc — và cả hai đều nói rõ: không phải vì lời Phật, mà vì mình đã chấp nhận và giữ hạnh ấy “trong một thời gian dài”. Lời đáp của Phật cho thấy: hạnh bắt chước loài vật, dù thành tựu trọn vẹn, cũng chỉ đưa đến sanh làm loài vật ấy; không thành tựu thì địa ngục; còn giữ hạnh với mong cầu sanh thiên là tà kiến, đưa đến địa ngục hay bàng sanh.

Về bốn loại nghiệp: Thay vì bàn tiếp về hai hạnh, Phật trình bày nghiệp theo tính chất của hành động: thân, khẩu, ý hành có tổn hại thì sanh vào thế giới có tổn hại, cảm thọ khổ; không tổn hại thì sanh vào thế giới không tổn hại, cảm thọ lạc; xen lẫn thì quả cũng xen lẫn — “chúng sanh là thừa tự nghiệp” (kammadāyādā sattā). Loại thứ tư là ý chí (cetanā) đoạn trừ cả ba loại kia, đưa đến đoạn tận nghiệp (kammakkhayāya saṁvattati).

Kết cục: Puṇṇa quy y làm cư sĩ trọn đời. Seniya xin xuất gia, sẵn sàng biệt trú bốn năm; sau khi thọ giới, ông sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, và không bao lâu chứng A-la-hán — người từng giữ hạnh con chó trở thành một vị A-la-hán.

Về Chú giải: Corpus Chú giải của site hiện chỉ có từ MN1–MN50, chưa đối chiếu Chú giải cho MN57.

Đối chiếu các tạng

Tra cứu SuttaCentral parallels/mn57 cho thấy hai bản song song:

  1. AN 4.233 (Vitthārasutta, “Giảng rộng”) — Pāḷi, Tăng Chi Bộ. Kinh này Phật nói với chư Tỳ-kheo về cùng bốn loại nghiệp (đen, trắng, đen-trắng, không đen không trắng) với lời định nghĩa như MN57. Chưa đối chiếu từng câu.

  2. T1536.5 (四法品) — Hán văn: phẩm Bốn pháp trong 阿毘達磨集異門足論 (Saṅgītiparyāya, luận A-tỳ-đạt-ma của Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ, Đại Chánh tạng q.26; SuttaCentral ghi T xxvi 391b11–411c11). Đây là luận, không phải kinh A-hàm; SuttaCentral xếp là song song đầy đủ (full). Chưa đối chiếu nội dung. Ngoài kho corpus cusiminhvan.

Không có bài Trung A-hàm (MA/T26) tương đương cho MN57.

Tra cứu trong bài

Nguồn tham khảo

📖 Nguồn / bản quyền: SuttaCentral — MN 57 (Kukkuravatika Sutta), Pāḷi Mahāsaṅgīti + bản Việt HT. Thích Minh Châu